Hãy Cứ Khát Khao

Phần mềm Quốc gia NASSCOM (khi đó

Phần mềm Quốc gia NASSCOM (khi đó

Phần mềm Quốc gia NASSCOM (khi đó vừa mới mở) cùng với một giám đốc ngân hàng đầu tư. Sau đó, chị Deepta gia nhập Ngân hàng American Express và sau đó là chuyển tới công ty phân tích toàn cầu CRISIL. Đó là những ngày đầu của thời kỳ tự do hóa, Morgan Stanley(*) vừa tiến vào thị trường Ấn Độ vào năm 1994, đất nước này có vẻ như đã sẵn sàng phát triển. Khi đó, một nhóm từ CRISIL đã quan tâm đến ý tưởng mở một công việc kinh doanh bởi vì họ đã giúp mở ra một sân

89 chơi hấp dẫn tại Ấn Độ cho các tổ chức nước ngoài. Tất cả những công ty này đều đưa ra mức lương tuyệt vời, và cơ hội việc làm thì thật tuyệt vời. (*) Công ty cung cấp dịch vụ tài chính đa quốc gia, có trụ sở chính tại thành phố New York, Mỹ. Dẫu vậy, ý nghĩ bước ra và tạo lập một công ty của riêng mình vô cùng thú vị. Năm 1994, ý tưởng mở một công ty xuất hiện, người khởi xướng là anh Swaminathan. “Anh Swami là một nhà kinh tế. Anh học Thạc sĩ Kinh tế tại Đại học Yale, từng làm việc với Ngân hàng Thế giới và rồi quay trở lại Ấn Độ. Anh luôn đam mê việc tạo nên sự khác biệt ở đất nước mình”. Anh Swami từng làm việc với Thời báo Kinh tế , sau thì chuyển sang làm Trợ lý Biên tập tại tờ Kinh doanh Ấn Độ . “Anh ấy là nhà kinh doanh bẩm sinh”, chị Deepta cho biết. Sau khi đưa ra ý tưởng này, hai anh chị đã bàn bạc và tranh luận trong vài tháng. Anh Swami muốn mở một văn phòng thông tin, nghiên cứu độc lập và có chất lượng cao nhằm phục vụ nhu cầu của các tổ chức và các nhà đầu tư. Rồi chị Deepta và một số đồng nghiệp xin nghỉ việc tại CRISIL, anh Swami cũng rời khỏi tờ Kinh doanh Ấn Độ . Và IRIS đã ra đời trong bối cảnh đó (cũng xin được nói thêm là sau khi IRIS ra đời, anh Swami và chị Deepta kết hôn). IRIS bắt đầu với số vốn rất nhỏ, họ không có quỹ đầu tư mạo hiểm, cũng không có những khoản tiết kiệm nào hỗ trợ. Tất cả là nhờ sự đóng góp của một vài người bạn trong thị trường tài chính, những người ủng hộ ý tưởng văn phòng nghiên cứu và thông tin độc lập, những người tin tưởng vào năng lực chuyên môn và đạo đức của nhóm. Văn phòng đầu tiên của IRIS đặt ở Nariman Point, một căn phòng đơn nằm trong khối văn phòng của nhóm cấp vốn. Và những năm đầu tiên vô cùng khó khăn. Cho ra được những thông tin nghiên cứu có chất lượng cao là một chuyện, còn bán chúng là một chuyện khác. Và không may là ngay sau khi IRIS được thành lập thì thị trường chứng khoán chao đảo và nhu cầu sử dụng các bản nghiên cứu độc lập trở nên cạn kiệt. Trong những ngày đầu, IRIS chủ yếu hoạt động như một dự án chứ không phải một công ty độc lập, may mắn là nhóm có được cả Citibank lẫn Morgan Stanley trong danh sách khách hàng đầu tiên. Rồi một sự kiện quan trọng xảy ra, chính phủ cắt giảm đầu tư vào một số Doanh nghiệp thuộc Lĩnh vực Công (tức Public Sector Undertakings , viết tắt là PSUs), mở ra cơ hội làm chủ các doanh nghiệp này cho giới tư nhân. Lúc này, những người muốn mua tự tiến hành định giá, đồng thời tham khảo các kết quả định giá độc lập của các công ty dịch vụ tài chính về việc liệu những doanh nghiệp nhà nước này có thực sự ổn định, rằng mức giá đấu thầu nên là bao nhiêu. IRIS thực hiện một số dự án, họ có được thu nhập và dùng lợi nhuận để tái đầu tư cho việc xây dựng một cơ sở dữ liệu lớn về các công ty ở Ấn Độ, các quỹ

90 đầu tư tín thác và thị trường. Lý do của việc tái đầu tư này là vì ngay từ trước khi mở công ty, tất cả các nhà sáng lập của IRIS đều nhận thức rõ ràng giá trị của công nghệ trong lĩnh vực kinh doanh thông tin. Đã từng làm việc tại CRISIL và những tổ chức truyền thông, anh Swami lẫn chị Deepta biết rõ những nơi này có nguồn thông tin dồi dào thế nào. Anh chị hiểu rằng nếu không có được nền tảng công nghệ hiệu quả và thân thiện thì người sử dụng sẽ rất khó tiếp cận thông tin và tái sử dụng thông tin. Vậy là một trong những nhân viên đầu tiên mà IRIS thuê là một giám đốc công nghệ (CTO). Anh ấy từng là một kỹ thuật viên, có nhiều kinh nghiệm khi tham gia vào nhóm thiết lập mạng diện rộng đầu tiên tại Ấn Độ, cũng là thành viên của nhóm đã mang Internet đến Ấn Độ, cũng như đã làm việc nhiều trong mảng công nghệ website. Với sự đầu tư nhân sự này, IRIS quyết tâm đi đầu về khoản công nghệ xây dựng cơ sở dữ liệu và thông tin tổ chức. Từ nhóm bảy người cùng nhau lập công ty vào năm 1994, IRIS đã có 40 người vào năm 1999 – tất cả đều rất giỏi. Để có được lực lượng nhân sự hùng hậu này, công ty đã trải qua bao biến cố về mặt con người. Vào năm đầu tiên, nhóm bảy người sáng lập mất đi ba nhân sự (một người mất do tai nạn giao thông, hai người rời bỏ để theo đuổi cơ hội khác). Trong bốn người còn lại, một người khác là đối tác từ xa. Anh này tham gia IRIS sau khi hoàn thành khóa MBA tại Trường Kinh doanh Harvard, và sau vài tháng đầu trợ giúp về kế hoạch kinh doanh và hoạt động, anh quyết định quay lại Harvard để học chương trình tiến sĩ. Vậy là chỉ còn ba người tham gia vào hoạt động của công ty. Có lẽ điều này lại là tốt vì công ty không đủ lớn cho quá nhiều cái tôi, quá nhiều tham vọng. Ngoài chị Deepta và anh Swami, người sáng lập còn ở lại là anh Balachandran (gọi thân mật là Bala); anh là một kỹ sư và có bằng MBA từ IIM, phân viện Bangalore, cũng là cựu nhân viên của CRISIL. “Đó là một công ty nhỏ và cũng rất nhanh nhạy. Vì vậy nếu một ai đó hỏi xem liệu chúng tôi có làm những công việc nghiên cứu thị trường không thuộc lĩnh vực chính của IRIS hay không, chúng tôi vẫn sẽ nhận làm để nâng cao doanh thu”. Vào thời ấy, thu nhập của các nhà sáng lập cũng không hậu hĩnh cho lắm. Mức lương của họ, nhìn chung là thấp hơn mức lương trên thị trường rất nhiều. Tuy nhiên, họ vẫn rất vui sướng khi được làm những công việc có tính dự báo xu hướng, giúp doanh nghiệp đón trước thời cơ, cũng như có thêm tiền để đầu tư vào công nghệ thông minh trong việc quản lý khối dữ liệu ngày càng lớn hơn. Ví dụ như vào năm 1997, IRIS giúp Bloomberg “đặt chân” vào Ấn Độ. Trong một cuộc họp mặt của họ tại Singapore, IRIS đã cho Bloomberg thấy cơ sở dữ liệu mà họ có về Ấn Độ, lúc này họ đã biết sử dụng Mosaic(**)để hiển thị thông

91 tin. “Chúng tôi sử dụng Mosaic để hiển thị thông tin và kết nối nó với những khối thông tin liên quan khác chỉ bằng một cú nhấn chuột. Bloomberg đã kinh ngạc – họ chưa bao giờ nhìn thấy công nghệ này”. (**) Một bộ trình duyệt ra đời vào năm 1993, trước khi có Internet Explorer. Vào năm 1999, IRIS quyết định chia sẻ miễn phí một phần khối thông tin lớn mà họ đã xây dựng được qua cổng thông tin tài chính cá nhân: myiris.com. Nhờ vậy, công ty nhận được sự chú ý của những người đọc cá nhân. Đó là thời kỳ bùng nổ dotcom và các nhà đầu tư đang tìm kiếm những ý tưởng về các website để ra quyết định đầu tư. Bên cạnh đó, nhờ tạo dựng được uy tín mà IRIS nhận được nguồn quỹ đầu tiên do một nhóm các nhà đầu tư cá nhân trên khắp thế giới đóng góp, lên đến trên 20 crore rupee. Nhóm sáng lập quyết định sử dụng số tiền này để mở rộng quy mô kinh doanh. Quỹ được dùng để đầu tư vào việc đẩy mạnh hoạt động, công nghệ và đội ngũ bán hàng. IRIS cũng đầu tư nguồn quỹ vào việc xây dựng một số sản phẩm, tăng tỷ lệ vốn vay cho cơ sở dữ liệu mà họ đã xây dựng. Bên cạnh đó, một số tiền được dùng cho việc tiếp thị thương hiệu myiris.com và công ty có những thành tích phi thường như mời được Bộ trưởng Tài chính lên cổng thông tin myiris.com ngay sau khi ông trình bày ngân sách công đoàn. Nhờ biết sử dụng công nghệ một cách sáng tạo, IRIS thu tiếng nói của ngài Bộ trưởng Tài chính bằng điện thoại di động để phát lại trên cổng thông tin. Đó là một bước đi tốt và myiris.com nhanh chóng trở nên nổi tiếng. Lực lượng nhân sự của IRIS nhanh chóng tăng lên 200 người, mọi việc diễn tiến tốt đẹp. Công ty đã sẵn sàng để phát triển lên cấp độ tiếp theo, tạo lập sự hiện diện trên toàn quốc qua cổng thông tin, xây dựng một số sản phẩm độc quyền trong mảng thông tin B2B(***) . IRIS cũng mở ra một cánh cửa cơ hội mới bằng việc tìm kiếm những hợp đồng nghiên cứu và thông tin ở Mỹ và châu Âu. (***) Tức Business-to-Business, cho phép các doanh nghiệp tự tìm hiểu và kết nối trực tiếp với nhau, chẳng hạn như giữa một nhà bán lẻ và nhà bán buôn. Thế rồi, cuộc khủng hoảng xảy ra. Số tiền đầu tư không còn do sự quản lý quỹ của các nhà đầu tư yếu kém. Khó ở chỗ là các nhà sáng lập của IRIS chưa bao giờ thực sự sở hữu công ty. Nghe thì có vẻ khó tin nhưng họ chỉ mua một lượng nhỏ cổ phần, còn

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 58

Đang tải bình luận...