phần của nhóm điều tra, và cô phải tôn trọng các luật lệ nếu muốn được yên thân làm việc. Sau vụ này tôi sẽ tính sổ với cô, Mila định bụng. Khi nghĩ như thế, cô nhận ra mình tin chắc chuyện này sẽ kết thúc, và một ngày kia tấn tuồng ghê rợn này sẽ chỉ còn là quá khứ. Cõi người là thế, cô nghĩ bụng. Cuộc sống vẫn tiếp diễn. Những người chết đi sẽ được chốn xuống đất, và rồi cùng với thời gian mọi thứ sẽ tiêu tan. Chỉ còn là một chút ký ức mơ hồ, điều bị gạt đi bởi bản năng tự bảo toàn trong mỗi người chúng ta.
Với ai cũng vậy. Nhưng không phải với cô, vì cô sẽ làm mọi cách để sự việc này được khắc ghi mãi mãi trong đầu mình. Người ta có thể thu được hàng đống thông tin từ một hiện trường vụ án, cả về động cơ cũng như nhân cách của kẻ sát nhân. Nếu như chiếc xe hơi của Bermann không thể được xem là một hiện trường án mạng đúng nghĩa, thì ngược lại, thi thể thứ hai này cho phép điều tra thêm nhiều thứ về Albert. Vì thế, một cuộc phân tích hiện trường tỉ mỉ điều là rất cần thiết. Thông qua công việc đòi hỏi sự nỗ lực tập thể đó, họ sẽ xác định rõ hơn kẻ sát nhân mà họ đang truy tìm. Mặc cho Sarah Rosa tìm cách gạt Mila ra khỏi nhóm, cô vẫn tìm thấy vị trí của mình trong dây chuyền công tác nhóm - cô đã gọi nó như thế khi được tham gia vào vụ phát hiện thi thể đầu tiên trong xe hơi của Bermann - và bây giờ cả Boris lẫn Stern đều coi cô như người trong đội. Khi lực lượng đặc nhiệm đã ra về, Goran và nhóm điều tra bắt tay vào nghiên cứu xưởng giặt. Hiện trường được chiếu sáng bằng những ngọn đèn halogen đặt trên giá ba chân và nối với một máy phát điện, vì trong tòa nhà không có điện. Họ chưa đụng chạm vào bất cứ thứ gì, tuy vậy bác sĩ Chang đã bắt tay vào làm việc với cái xác. Anh cầm theo một chiếc va li đựng các món dụng cụ lạ mắt gồm ống nghiệm, thuốc thử hóa học và kính hiển vi. Anh lấy mẫu thứ nước âm u mà cái xác đang được nhúng ngập một phần. Krepp sắp sửa đến để lấy dấu vân tay. Nhóm điều tra sẽ có khoảng nửa giờ trước khi giao lại hiện trường cho cảnh sát hình sự. - Cái chúng ta đang thấy không phải là hiện trường án mạng sơ cấp. - Giáo sư Goran nhìn nhận. Nói cách khác, theo ông nó chỉ là hiện trường thứ cấp, vì cô bé rõ ràng đã chết ở một nơi khác.
Trong các vụ giết người hàng loạt, nơi tìm thấy nạn nhân quan trọng hơn nhiều so với nơi nạn nhân bị giết. Bởi lẽ, trong khi hành động giết chóc là thứ mà thủ phạm chỉ giữ cho riêng mình, mọi chuyện diễn ra tiếp sau đó đại để là một kiểu chia sẻ kinh nghiệm. Thông qua những cái xác, tên sát nhân muốn thiết lập một sự giao tiếp với các nhà điều tra. Nếu xét trên quan điểm này thì Albert là một kẻ rất chuyên nghiệp. - Chúng ta cần phải đọc hiện trường. Hiểu được thông điệp mà nó chứa đựng, và đối tượng mà nó nhắm đến. Ai muốn bắt đầu nào? Tôi xin nhắc lại, mọi ý kiến đều được chào đón, nên mọi người cứ thoải mái nói ra những gì có trong đầu. Không ai muốn làm trước. Có quá nhiều mối nghi ngờ trong đầu họ. - Có lẽ thủ phạm đã trải qua quãng đời thơ ấu trong cô nhi viện này. Có lẽ sự căm thù và oán hận của gã khởi nguồn từ đây. Cần phải xem các hồ sơ lưu trữ. - Thật tình tôi không nghĩ là Albert muốn tiết lộ thông tin cá nhân của gã cho chúng ta đâu Mila à. - Tại sao? - Vì tôi không nghĩ gã muốn mình bị bắt... ít ra là tại thời điểm này. Xét cho cùng thì ta mới tìm được xác chết thứ hai thôi. - Có thể tôi nhầm, nhưng không phải đôi khi bọn sát nhân hàng loạt muốn mình bị cảnh sát bắt bởi vì chúng cảm thấy không thể tự mình dừng lại hay sao? - Nhảm nhí. - Sarah Rosa nói với giọng điệu khiêu khích thường lệ. - Đúng, việc bị bắt giữ thường là khao khát sau cuối của một tên giết người hàng loạt. - Goran nói. - Không phải vì hắn không thể tự kiểm soát, mà chính xác hơn là việc bị bắt giúp hắn bước ra ánh sáng. Thường thì kẻ giết người hàng loạt mắc chứng tự tôn quá mức, hắn muốn được thừa nhận
vì tầm vóc của công trình mà hắn đã thực hiện. Khi danh tính của hắn chưa bị lộ thì hắn còn chưa đạt được mục đích. Mila đồng tình, nhưng không hoàn toàn bị thuyết phục. Goran ghi nhận điều đó, rồi quay sang nói với những người còn lại: - Có lẽ chúng ta phải ôn lại cách tiếp cận để tái dựng mối quan hệ giữa hiện trường vụ án và phương thức ra tay của một tên giết người hàng loạt. Đây là một bài học dành cho Mila, nhưng cô không thấy phiền lòng. Đó là một cách để đưa trình độ của cô lên ngang bằng với các đồng nghiệp. Dựa trên phản ứng của Boris và Stern, cô tin rằng họ cũng không muốn cô bị tụt lại. Stern là người lên tiếng trước. Anh nói mà không nhìn trực tiếp Mila vì không muốn cô bị bối rối. - Tùy theo tình trạng của hiện trường, chúng ta sẽ xếp kẻ giết người hàng loạt vào hai nhóm: “thiếu tổ chức” và “có tổ chức”. Boris nói tiếp: - Những kẻ thuộc nhóm đầu thường rất bê bối trong cuộc sống. Chúng thất bại trong các mối quan hệ cá nhân, có cuộc sống cô độc. Chúng có trí tuệ dưới trung bình, ít học, và làm những công việc không đòi hỏi năng lực cao. Chúng là những kẻ yếu kém về mặt tình dục. Theo quan điểm này, chúng chỉ có những kinh nghiệm vụng về và thoáng qua. Goran tiếp lời: - Đó thường là những kẻ từng chịu một sự giáo dục hà khắc lúc còn bé. Do vậy nhiều chuyên gia tội phạm học tin rằng chúng tìm cách trút lên các nạn nhân của mình những nỗi đau đớn và khổ sở mà chúng đã phải chịu đựng. Chúng nung nấu lòng căm hận và sự thù địch mà những người quanh chúng không phải lúc nào cũng có thể nhận thấy.
- Những kẻ thiếu tổ chức không lập kế hoạch, mà hành động một cách tự phát. - Rosa xen vào, không muốn mình bị gạt ra khỏi cuộc thảo luận. - Sự thiếu tổ chức trong hành vi gây án làm cho tên giết người lo lắng. - Goran giải thích. - Chính vì thế, hắn có khuynh hướng hành động ở những địa điểm quen thuộc với mình, nơi hắn cảm thấy thoải mái. Tâm trạng lo lắng, cộng với việc không thể đi quá xa khiến hắn phạm sai lầm, chẳng hạn như để lại những dấu vết làm hắn bị bại lộ. - Nạn nhân của hắn thường là những người xui xẻo có mặt không đúng chỗ và không đúng lúc. Hắn ra tay vì đó là cách duy nhất hắn biết để liên hệ với người khác. - Stern kết luận. - Vậy còn những kẻ có tổ chức, chúng hành động thế nào? - Mila hỏi. - Trước tiên, hắn rất ma mãnh. - Goran nói. - Khó mà nhận dạng được hắn, vì hắn nhập vai một cách hoàn hảo là một cá nhân bình thường, tôn trọng pháp luật. Hắn có chỉ số trí tuệ cao, làm tốt công việc của mình. Thường thì hắn giữ một vị trí quan trọng trong cộng đồng nơi hắn sinh sống. Hắn không chịu một sự ngược đãi nào lúc còn nhỏ. Hắn có một gia đình yêu thương mình. Hắn không bất lực, và không gặp vấn đề gì trong các mối quan hệ khác giới. Hắn giết người chỉ để mua vui. Lời khẳng định cuối cùng khiến Mila rùng mình. Nhưng cô không phải là người duy nhất: bác sĩ Chang cũng lần đầu tiên ngừng tay để ngước mắt nhìn họ. Có lẽ anh cũng đang tự hỏi làm thế nào một con người lại có thể có được khoái cảm trong khi gây đau đớn cho đồng loại. - Đó là một kẻ săn mồi. Hắn lựa chọn nạn nhân, thường là xa nơi hắn cư ngụ. Hắn tinh ranh và rất thận trọng. Hắn có thể tiên lượng diễn tiến của cuộc điều tra nhằm vào mình, và dự tính các bước hành động của điều tra viên. Do vậy rất khó bắt được thủ phạm: hắn biết rút kinh nghiệm. Kẻ giết người có tổ chức luôn theo dõi, chờ đợi rồi ra tay. Hành động của hắn có thể được lên kế hoạch trong nhiều ngày, thậm chí là nhiều tuần lễ. Hắn chọn nạn nhân, quan sát họ, len lỏi vào cuộc sống của họ để thu thập thông tin. Hắn luôn tìm cách thiết lập một sự tiếp xúc, khoác lên mình một cách hành
xử hoặc một điểm tương đồng nào đó để tạo dựng sự tin tưởng nơi nạn nhân. Để chế ngự họ, hắn dùng lời lẽ hơn là vũ lực. Thành công của hắn có được là do công sức quyến rũ. Mila quay đi để nhìn hiện trường án mạng. Rồi cô nói: - Hiện trường vụ án của gã luôn sạch sẽ. Vì phương châm của gã là “kiểm soát”. Goran gật gù. - Có vẻ như cô đã nắm bắt được Albert rồi đấy. Boris và Stern mỉm cười. Sarah Rosa thì né tránh cái nhìn của Mila và làm ra vẻ như đang xem giờ, miệng lầm bầm rủa xả sự lãng phí thời gian của nhóm. - Thưa các vị, chúng ta có một phát hiện mới... Thành viên kín tiếng nhất của nhóm điều tra vừa lên tiếng. Bác sĩ Chang đã đứng dậy, trong tay cầm lam kính mà anh vừa quan sát dưới kính hiển vi. - Có chuyện gì vậy, Chang? - Giáo sư Gavila nôn nóng hỏi. Nhưng vị bác sĩ pháp y muốn tận hưởng khoảnh khắc này. Trong mắt anh hiện lên một chút đắc thắng. - Khi trông thấy cái xác, tôi đã tự hỏi vì sao hắn nhúng nó trong nước... - Ta đang ở trong một xưởng giặt. - Boris nói, như thể đó là điều hiển nhiên nhất quả đất. - Đúng, nhưng cũng như điện, nước thủy cục đã bị cắt từ nhiều năm rồi. Tiết lộ này khiến cho mọi người bất ngờ. Nhất là Goran.
- Vậy nước này là nước gì? - Giáo sư, ông bình tĩnh nhé... Nó là nước mắt.
15 Con người là loài động vật duy nhất có khả năng khóc hoặc cười. Mila biết điều đó. Nhưng điều cô không biết là mắt người sản sinh ra ba loại nước mắt. Nước mắt cơ bản, có tác dụng làm ẩm và nuôi dưỡng nhãn cầu. Nước mắt phản xạ, tự tiết ra khi có vật thể lạ rơi vào mắt. Nước mắt cảm xúc, đi kèm với sự đau đớn. Loại nước mắt sau cùng này có một thành phần hóa học khác biệt: nó chứa một hàm lượng cao mangan và prolactin, một loại nội tiết tố. Trong thế giới của các hiện tượng tự nhiên, mọi thứ đều có thể được tối giản hóa thành công thức, nhưng giải thích tại sao nước mắt do đau đớn có thành phần khác với các loại nước mắt còn lại là một điều không thể. Nước mắt của Mila không chứa prolactin. Đó là bí mật của cô. Cô không biết thế nào là chịu đựng. Cô cũng không có được sự thấu cảm cần thiết để thấu hiểu được người khác và để không cảm thấy mình cô độc giữa mọi người. Liệu có phải cô luôn như thế? Hay một điều gì, một ai đó đã làm cô mất đi khả năng ấy? Mila nhận ra điều đó khi cha cô qua đời. Lúc đó cô mới mười bốn tuổi. Cô là người đã tìm thấy ông nằm bất động trên trường kỷ chiều hôm ấy. Trông ông như đang ngủ. Ít ra thì đó là những gì cô nói khi bị người khác cật vấn tại sao không gọi cấp cứu ngay, mà để cả giờ đồng hồ trôi qua. Thật ra Mila đã hiểu ra ngay không còn làm gì được nữa. Nhưng sự kiện bi thảm đó không làm cô mảy may xúc động. Điều khiến cô kinh ngạc là sự
bất lực của cô trong việc tìm kiếm cảm xúc trước việc cô chứng kiến. Cha cô, người đàn ông quan trọng nhất cuộc đời cô, người đã dạy dỗ cô mọi điều, hình mẫu của cô, đã ra đi. Mãi mãi. Nhưng cô không thấy tan nát cõi lòng. Lúc chôn cất ông, cô đã khóc. Không phải vì cái chết cuối cùng đã gây dựng được một chút tuyệt vọng trong đầu cô, mà chỉ bởi đó là điều mà mọi người chờ đợi ở một đứa con gái. Những giọt nước mắt cá sấu đó là kết quả của một nỗ lực to lớn. Do ức chế, cô đã tự nhủ như thế. Đơn giản là ức chế. Chắc là do căng thẳng. Mình bị sốc mà. Chắc hẳn chuyện này cũng từng xảy đến với người khác. Cô đã thử mọi cách. Cô tra tấn bản thân với những hoài niệm về quá khứ để chí ít cũng tạo cho mình cảm giác có lỗi. Nhưng vô ích. Cô không tài nào lý giải được chuyện đó. Do vậy cô giấu mình trong sự im lặng không thể xuyên phá, không để cho người khác thắc mắc về trạng thái tinh thần của mình. Ngay đến mẹ cô sau vài lần cố gắng cũng đành bỏ cuộc trước bức tường u uất mà cô đã dựng lên. Mọi người tưởng cô đau đớn, gục ngã. Nhưng thật ra, khi giấu mình trong phòng, Mila đã tự hỏi vì sao cô chỉ có một mong muốn duy nhất, đó là trở lại với cuộc sống thường nhật và chôn cất người cha quá cố trong tim nhanh nhất có thể. Theo thời gian, mọi chuyện vẫn không thay đổi. Nỗi đau mất mát không bao giờ xuất hiện. Đã có những đám tang khác. Bà cô, một cô bạn học, mấy người họ hàng. Nhưng đối với họ, Mila cũng vẫn không cảm thấy gì, ngoài mong muốn được quên đi cái chết của họ thật nhanh. Cô có thể giãi bày chuyện này với ai đây? Người ta sẽ nhìn cô như một con quái vật không đáng được làm người. Chỉ có mẹ cô lúc gần đất xa trời là thoáng cảm thấy sự dửng dưng của cô con gái và bà đã rụt tay khỏi bàn tay cô, như thể bất ngờ cảm thấy nó thật lạnh lẽo. Khi những dịp đưa tiễn người thân về cõi vĩnh hằng đã hết, việc phải giả vờ có những cảm xúc mà cô không có đối với những người xa lạ đã trở
nên đơn giản hơn. Khi đến tuổi bắt đầu cần đến những cuộc tiếp xúc cá nhân, nhất là với người khác phái, cô lại gặp vấn đề. Mình không thể cặp kè với một cậu con trai nếu như không thể thấu cảm người ta được, Mila cứ tự nhắc nhở mình như thế suốt. Trước đó, cô đã nhận ra vấn đề của mình khi biết được định nghĩa trong sách vở của chữ “thấu cảm”: đó là “khả năng hướng các cảm xúc của bản thân mình vào một chủ thể để đồng cảm với chủ thể đó”. Khi ấy, cô đã đến gặp các nhà phân tích tâm lý lần đầu tiên. Vài người trong số họ không biết phải trả lời cô như thế nào, những người khác thì bảo cô quá trình điều trị sẽ kéo dài và rất phức tạp, cần phải đào sâu nghiên cứu để tìm ra “căn nguyên tâm lý” và biết được luồng xúc cảm của cô bị gián đoạn ở chỗ nào. Nhưng tất cả đều nhất trí ở một điểm: cần phải gỡ bỏ sự ức chế. Cô đi làm phân tích tâm lý trong nhiều năm trời nhưng không đạt kết quả. Cô thay đổi bác sĩ điều trị nhiều lần, và có lẽ sẽ tiếp tục như thế mãi nếu như một người trong số họ - kẻ vô liêm sỉ nhất, người mà cô biết ơn đời đời - không nói huỵch toẹt ra với cô rằng: “Sự đau buồn không hề tồn tại. Cũng như mọi cung bậc cảm xúc còn lại của con người. Hóa học cả thôi. Tình yêu chỉ là vấn đề endorphiri, một loại morphin nội sinh. Với một mũi tiêm Pentothal, tôi có thể dẹp bỏ mọi đòi hỏi cảm xúc cho cô. Chúng ta chỉ là những cỗ máy bằng thịt”. Rốt cuộc cô cũng thấy nhẹ lòng. Hài lòng thì không, nhưng nhẹ nhõm thì có! Cô chẳng thể làm gì để thay đổi nó được nữa: cơ thể cô đã rơi vào chế độ “tự bảo vệ”, giống như một số thiết bị điện tử khi bị quá tải và buộc phải bảo vệ mạch điện của chúng. Tay bác sĩ tâm lý kia cũng cho cô biết có một số người ở một thời điểm nào đó cảm thấy rất, rất đau buồn, hơn cả những gì mà một con người có thể chịu được trong cả cuộc đời. Và họ thôi không sống nữa, hoặc là tập làm quen với nó. Mila không biết liệu có nên xem việc “tập làm quen” của mình là một điều may mắn không, nhưng cũng nhờ nó mà cô thành ra như bây giờ. Một người đi tìm trẻ con mất tích. Tìm ra phương thuốc hóa giải cho sự chịu
đựng của những người khác là hành động bù đắp cho những gì mà cô không bao giờ cảm nhận được. Lời nguyền cô bị dính phải bỗng trở thành năng lực của cô. Mila giải cứu lũ trẻ và đưa chúng về nhà. Chúng biết ơn cô. Một vài đứa còn gắn bó với cô tới mức sau này, khi đã lớn vẫn đến tìm cô để xin cô kể lại chuyện của chúng. Chúng cảm ơn cô đã quan tâm đến chúng. Tất nhiên cô không thể tiết lộ rằng thật ra “sự quan tâm” đó là gì, bất kể đứa nào được cô tìm thấy cũng vậy. Cô có thể cảm thấy phẫn nộ về chuyện đã xảy đến với chúng, giống như cô bé số sáu trong vụ án này, nhưng cô chưa bao giờ cảm thấy “động lòng”. Cô đã chấp nhận số mệnh của mình. Nhưng dù vậy cô cũng phải tự hỏi một câu: liệu cô có khả năng yêu được một ai đó hay không? Không biết câu trả lời, Mila đã dọn sạch trái tim và tâm hồn của mình từ lâu. Cô sẽ không bao giờ có một tình yêu, một người chồng hay bạn trai, con cái hoặc thậm chí là thú nuôi. Bởi bí mật của cô nằm ở chỗ cô không có gì để mất. Không ai có thể lấy đi điều gì ở cô. Cách duy nhất giúp cô chui sâu vào trong đầu những người cô đi tìm là tạo ra quanh mình sự trống trải đang vây quanh họ. Nhưng một ngày nọ, một vấn đề đã nảy sinh. Đó là sau khi Mila giải phóng một thằng bé khỏi móng vuốt của một kẻ ấu dâm. Hắn đã bắt cóc thằng bé để chơi bời trong dịp cuối tuần. Hắn đã định sẽ thả thằng bé sau ba ngày, vì trong đầu óc bệnh hoạn của hắn, hành động bắt cóc chỉ là “mượn tạm”. Tình trạng của thằng bé khi hắn trả nó về với gia đình không quan trọng đối với hắn. Hắn tự bào chữa rằng mình sẽ không bao giờ làm hại thằng bé. Vậy còn những thứ khác thì sao? Hắn định nghĩa cú sốc của việc bắt cóc như thế nào? Sự giam giữ? Sự bạo hành?
Đó không phải là một toan tính tuyệt vọng nhằm tìm kiếm tính hợp pháp hóa cho điều mà hắn đã làm, mà hắn thực sự tin vào nó! Bởi hắn không thể đặt mình vào vị trí của nạn nhân. Rốt cuộc Mila đã hiểu ra, con người đó cũng bị giống như cô. Kể từ hôm ấy, cô đã xác định sẽ không để cho tâm hồn mình bị thiếu đi sự thương hại, thứ giúp cô cảm nhận người khác và cuộc sống chung quanh. Nếu không thể tự tìm thấy nó, cô sẽ tìm cách tạo ra nó. Cô đã nói dối nhóm điều tra và giáo sư Gavila. Thật ra cô biết rất rõ về bọn sát nhân hàng loạt, hay chí ít là một khía cạnh trong thái độ của chúng. Sự ác dâm. Gần như luôn là thế, hành vi của một kẻ sát nhân hàng loạt về căn bản có sự tàn ác rõ rệt và sâu sắc. Các nạn nhân bị xem như “món đồ” mà việc sử dụng và hành hạ họ sẽ đem lại một ưu thế cá nhân. Kẻ sát nhân hàng loạt thu được khoái cảm thông qua hành vi bạo hành những nạn nhân của mình. Thường thì người ta nhận thấy thủ phạm không thể đạt được một mối quan hệ chín chắn và trọn vẹn với người khác, vốn bị hắn coi như đồ vật hơn là một con người. Bạo lực do đó chỉ là khả năng tiếp cận duy nhất của hung thủ với