phần mình, anh giảm bớt tác động của nó bằng hai nút bông gòn trong lỗ tai. Một chiếc gương giả ngăn cách căn phòng và phòng kế bên, vốn có một cửa vào riêng, để cho các thành viên của đội điều tra có thể chứng kiến buổi thẩm vấn. Một điều tối quan trọng là đối tượng không được ngồi đối diện gương. Phải để cho hắn cảm nhận được rằng hắn bị quan sát mặc dù không thể đáp lại tia nhìn vô hình ấy. Bàn và các vách tường đều được sơn màu trắng: màu sắc đơn nhất không tạo ra bất cứ điểm nhìn nào cho đối tượng khi hắn muốn tập trung suy nghĩ. Ghế ngồi cũng có một chân ngắn hơn bình thường để gây khó chịu cho nghi phạm. Mila bước vào căn phòng liền kề khi Sarah Rosa đang chuẩn bị máy phân tích giọng nói, thiết bị cho phép đo mức độ căng thẳng dựa trên độ rung của giọng nói. Những rung động nhỏ gắn với sự co thắt của bắp thịt được đo bằng số dao động trong một phút, với tần số từ 10 đến 12 hertz. Khi đối tượng nói dối, lượng máu trong các dây thanh quản sẽ giảm xuống vì căng thẳng, và do đó làm giảm độ rung của giọng nói. Một máy tính phân tích các biến đổi rất nhỏ trong giọng nói của Kobashi và chỉ ra những lần ông ta nói dối.
Nhưng kỹ thuật quan trọng nhất mà đặc vụ Klaus Boris sử dụng - cái mà anh đặc biệt thuần thục - chính là sự quan sát thái độ của đối tượng. Kobashi được đưa vào trong phòng thẩm vấn sau khi đã được mời đến một cách nhã nhặn - mà không hề báo trước - để cung cấp các chi tiết của vụ việc cho đội điều tra. Các cảnh sát hộ tống ông ta từ khách sạn, nơi cả nhà ông ta đang lưu lại, đồng thời bắt ông ta ngồi trên băng ghế phía sau của xe hơi và đi theo một lộ trình dài hơn bình thường để đến studio, nhằm làm tăng thêm tình trạng hoài nghi và không chắc chắn của ông ta. Do đây là một buổi thẩm tra không chính thức, Kobashi đã không đòi sự hiện diện của luật sư. Ông ta sợ yêu cầu đó chỉ càng làm tăng mối nghi ngờ đổ lên đầu mình. Đó chính là điều Boris đã chờ đợi. Trong phòng thẩm vấn, nha sĩ Kobashi có vẻ khổ sở. Mila quan sát ông ta. Kobashi mặc một chiếc quần mùa hè màu vàng, có lẽ thuộc về một trong những bộ trang phục chơi golf mà ông ta đã mang theo khi đi nghỉ, những thứ duy nhất ông ta có trong thời điểm hiện tại. Ông ta mặc một cái áo len chui đầu bằng casơmia màu đỏ tía, để lộ chiếc áo thun trắng có cổ bên trong. Họ đã nói với ông ta rằng một điều tra viên sẽ đến để đặt vài câu hỏi. Kobashi gật đầu, hai tay đặt trên đầu gối, trong tư thế phòng thủ. Trong lúc đó, ở phía bên kia của tấm gương, Boris đang quan sát ông nha sĩ. Anh bắt ông ta ngồi đợi để nghiên cứu kỹ hơn. Kobashi thấy trên bàn có một tập hồ sơ đề tên ông. Boris là người đã để nó ở đó. Ông nha sĩ không đụng đến nó, cũng không hề nhìn về phía cái gương, vì biết thừa rằng mình đang bị quan sát. Thật ra tập hồ sơ chẳng có gì bên trong. - Xem có giống phòng đợi chữa răng không kìa? - Sarah Rosa châm chọc, mắt nhìn chằm chằm người đàn ông ở bên kia tấm kính. Boris tuyên bố:
- Nào, ta bắt đầu thôi. Sau đó, anh bước qua ngưỡng cửa phòng thẩm vấn. Anh chào Kobashi, khóa cửa lại và xin lỗi ông ta vì mình đã đến muộn. Một lần nữa anh nhắc lại với ông nha sĩ rằng những câu hỏi anh sắp đưa ra chỉ là để làm sáng tỏ một số việc, trước khi cầm lấy tập hồ sơ trên bàn và mở ra, vờ như đang đọc gì đó. - Ông Kobashi này, ông năm nay bốn mươi tuổi, phải không ạ? - Đúng vậy. - Ông làm nha sĩ từ khi nào? - Tôi là bác sĩ phẫu thuật chỉnh nha. - Kobashi chỉnh lại. - Tôi đã hành nghề được mười lăm năm. Boris giành mấy giây để xem tập hồ sơ trống. - Tôi có thể biết tổng thu nhập năm vừa qua của ông là bao nhiêu được không? Ông nha sĩ hơi nhổm người. Boris đã ghi điểm đầu tiên: khơi chuyện thu nhập để ngầm bóng gió đến vụ nộp thuế. Như dự kiến, Kobashi nói dối như cuội về tình hình tài chính của mình, khiến Mila không thể không nghĩ ông ta là một người khá ngây thơ khi làm như vậy. Đây là một buổi thẩm vấn liên quan đến án mạng, những thông tin về thuế má nếu xuất hiện cũng chẳng có nghĩa lý gì, và cũng không thể chuyển cho bên thuế vụ được. Kobashi nói dối trên một số chi tiết khác, tin rằng mình có thể dễ dàng lèo lái các câu trả lời. Boris để cho ông ta hươu vượn như thế thêm một lúc nữa. Mila hiểu anh chàng điều tra viên đang chơi trò gì. Cô đã chứng kiến những cảnh sát viên được đào tạo theo trường phái cổ điển dùng mánh này mặc dù Boris thực hiện nó ở một đẳng cấp cao hơn.
Khi một người nói dối, anh ta phải tập trung tâm lý cao độ để đối phó với hàng loạt căng thẳng. Nhằm làm cho câu trả lời của mình đáng tin hơn, anh ta buộc phải lược bớt các thông tin chân thực đã nằm trong trí nhớ và nhờ cậy đến việc lập luận lôgíc để trộn chúng với thông tin dối trá mà anh ta đưa ra. Điều này đòi hỏi một nỗ lực lớn và một sức tưởng tượng nhất định. Mỗi khi đưa ra một câu nói dối, người ta phải ghi nhớ tất cả những chi tiết giúp nó đứng vững. Khi nói dối nhiều lần, việc đó trở nên phức tạp. Nó gần giống như diễn viên xiếc diễn trò xoay đĩa trên những cái que. Mỗi lần thêm một chiếc, màn biểu diễn lại trở nên khó hơn, và anh ta phải chạy liên tục không ngừng nghỉ từ cái que này sang cái que khác. Chính lúc đó người nói dối bị yếu đi và dễ để lộ mình. Nếu Kobashi vận dụng trí tưởng tượng của mình là Boris biết ngay. Sự lo lắng gây ra những cử chỉ nhỏ khác thường, chẳng hạn như khòm lưng, chà xát hai tay vào nhau, day thái dương hoặc xoa cổ tay. Thường thì những cử chỉ này đi kèm với các biến đổi sinh lý, chẳng hạn như tăng tiết mồ hôi, cất cao giọng, hoặc các chuyển động không kiểm soát của nhãn cầu. Nhưng một chuyên viên được đào tạo kỹ lưỡng như Boris cũng biết đó chỉ là những gợi ý cho việc nói dối của đối tượng, và chúng chỉ được xem xét ở mức độ đó. Để chứng tỏ là đối tượng đang nói dối, cần phải dồn hắn đến chỗ thú nhận điều đó. Khi cảm thấy Kobashi đã đủ tự tin, Boris liền phản công bằng cách đưa vào các câu hỏi những thành tố có liên quan đến Albert và vụ mất tích của sáu bé gái. Hai giờ sau đó, Kobashi đã kiệt sức vì một loạt câu hỏi khó khăn, càng lúc càng riêng tư và mạnh bạo hơn. Boris đã siết chặt chiếc thòng lọng bao quanh ông nha sĩ, thu hẹp khoảng an toàn của ông ta. Lúc này Kobashi chẳng còn hồn vía nào nghĩ đến việc gọi cho luật sư nữa, mà chỉ muốn ra khỏi phòng thẩm vấn càng sớm càng tốt. Với tình trạng suy sụp tinh thần
như thế, ông ta có thể nói bất cứ điều gì để được yên thân. Có khi ông ta còn thú nhận mình là Albert là đằng khác. Trừ phi đó không phải là sự thật. Khi Boris nhận ra điều đó, anh rời phòng với cớ là đi lấy cho Kobashi cốc nước, rồi vào gặp Goran và những người khác trong phòng bên cạnh. - Ông ta không dính dáng gì với vụ của chúng ta. - Anh nói. - Và không hay biết gì hết. Goran gật đầu. Sarah Rosa vừa quay lại với kết quả phân tích các máy tính và điện thoại di động của gia đình Kobashi. Chúng không cho thấy bằng chứng nào, và cũng không cung cấp thông tin gì hữu ích về các bạn bè hay người quen của họ. - Như vậy chỉ có thể là ngôi nhà. - Nhà tội phạm học kết luận. Phải chăng nơi ở của gia đình Kobashi là sân khấu cho một tấn thảm kịch nào đó chưa được hé lộ, giống như trường hợp của cô nhi viện? Nhưng giả thiết này xem ra khá yếu. - Biệt thự đó được xây dựng sau cùng, trên lô đất duy nhất còn trống của cả khu. Nó vừa mới hoàn thành được gần ba tháng, và gia đình Kobashi là những người chủ đầu tiên. - Stern cho biết. Nhưng Goran có vẻ không nhượng bộ. - Ngôi nhà đó che giấu một bí mật. Stern hiểu ra ngay. Anh hỏi: - Ta bắt đầu từ đâu? Goran suy nghĩ một lúc rồi nói:
- Bắt đầu bằng việc đào khu vườn. Đầu tiên họ đưa chó nghiệp vụ đến để đánh hơi dò tìm thi thể và cả những cái được chôn sâu dưới đất. Sau đó đến lượt các máy dò đặc biệt để thăm dò lòng đất, nhưng không phát hiện được gì. Mila quan sát những nỗ lực dò tìm của mọi người. Cô vẫn đang chờ bác sĩ Chang cung cấp danh tính của cô bé được tìm thấy trong nhà sau khi đã đối chiếu mẫu ADN của các bậc phụ huynh. Họ bắt đầu đào vào tầm ba giờ chiều. Các máy xúc nhỏ xới tung lớp đất trong vườn, phá hủy công trình trang trí ngoại thất đã làm tiêu tốn rất nhiều công sức và tiền bạc. Đất đá được vội vã đổ đống và được các xe ben đem đi. Tiếng ồn của các động cơ diesel khuấy đảo không gian yên tĩnh của Capo Alto. Như thể vẫn chưa đủ, chấn động từ các cỗ máy xúc đất liên tục kích hoạt hệ thống báo động trên chiếc xe Maserati của Kobashi. Sau khu vườn, nhóm tìm kiếm chuyển vào trong biệt thự. Một công ty chuyên biệt đã được vời đến để nhấc các phiến đá hoa lát sàn phòng khách. Những chỗ hổng trong các bức tường nhà được dò tìm rồi mở ra bằng cuốc. Ngay cả các món đồ nội thất cũng không thoát được số phận bất hạnh: sau khi đã bị tháo tung và cắt rời, chúng trở thành đồ bỏ. Việc lục soát cũng diẽn ra ở hầm rượu và móng nhà. Roche đã phê chuẩn sự phá hủy này. Ban chuyên án không thể để mình thất bại một lần nữa, dù phải đánh đổi nguy cơ đền bù hàng triệu cho những thiệt hại. Nhưng gia đình Kobashi cũng không hề muốn quay lại sống ở ngôi nhà này nữa. Tất cả những thứ thuộc về nó đã bị nhuốm màu kinh hoàng không gột rửa được. Họ sẽ bán nó với giá thấp hơn khoản tiền đã bỏ ra, vì cuộc sống thượng lưu của họ sẽ không bao giờ còn được như xưa khi bị ám ảnh bởi những điều đã xảy ra.
Khoảng sáu giờ tối, vẻ căng thẳng đã hiện rõ hơn trên khuôn mặt những người điều tra hiện trường. - Có ai tắt cái báo động của nợ kia được không? - Roche vừa hét toáng lên vừa chỉ tay vào chiếc Maserati. - Chúng tôi không tìm được điều khiển từ xa của nó. - Boris đáp. - Gọi cho lão nha sĩ! Chẳng lẽ chuyện gì tôi cũng phải nhắc sao? Họ đang tốn công vô ích. Thay vì đoàn kết mọi người lại, sự căng thẳng đang chia rẽ họ. Tất cả đều bực tức vì không thể giải được mật mã bí ẩn mà Albert đã bày ra. - Tại sao gã lại cho cô bé ăn mặc như con búp bê? Câu hỏi này làm cho Goran điên đầu. Mila chưa bao giờ thấy ông như thế. Có điều gì đó rất cá nhân trong thử thách này. Một điều mà bản thân nhà tội phạm học có lẽ cũng không nhận ra. Nó ngăn cản ông suy luận một cách sáng suốt. Mila cố tình giữ một khoảng cách với những người khác. Sự chờ đợi khiến cô căng thẳng. Hành vi của Albert mang ý nghĩa gì chứ? Trong thời gian ngắn ngủi cô được tiếp xúc với nhóm điều tra và phương pháp của giáo sư Gavila, Mila đã học được nhiều thứ. Chẳng hạn như, bọn sát nhân hàng loạt ra tay với những khoảng cách thời gian thay đổi từ vài giờ cho đến vài tháng, thậm chí vài năm, do một sức mạnh nào đó thôi thúc mà chúng không thể dập tắt được. Vì nguyên nhân này, sự tức giận hay báo thù không thuộc về thế giới của chúng. Kẻ giết người hàng loạt ra tay để lặp lại một động cơ nào đó, có thể chỉ là nhu cầu hoặc ham muốn được giết chóc. Nhưng Albert đã khiến cho toàn bộ khái niệm trên lung lay. Gã đã bắt cóc các bé gái sau đó giết hại, lần lượt từng em, nhưng giữ lại một. Tại sao? Gã không làm vụ này vì khoái cảm giết chóc, mà chỉ sử dụng nó để làm dấy lên sự chú ý, không phải vào gã, mà vào những kẻ
khác. Alexander Bermann, một tên ấu dâm. Ronald Dermis, một kẻ đang trên đường trở thành sát thủ hàng loạt như gã. Nhờ có Albert, cả hai tên đã bị ngăn chặn. Xét cho cùng, gã đã làm điều có ích cho xã hội. Nghịch lý nằm ở chỗ cái xấu xa của gã là nhằm mục đích tốt. Nhưng Albert thật ra là ai? Một người bình thường - bởi gã là như thế, không phải một con quỷ hay một bóng ma - vào lúc này đang sống một cách bình thường như không có gì xảy ra. Gã mua sắm, đi dạo trên đường, gặp gỡ người khác: các bà bán hàng, khách bộ hành, hàng xóm láng giềng, những người tuyệt nhiên không thể tưởng tượng ra được con người thật của gã. Gã bước đi giữa họ không có gì nổi trội. Phía sau lớp vỏ bọc đó là sự thật. Sự thật đó được xây nên từ bạo lực. Thứ bạo lực cho phép những kẻ sát nhân hàng loạt trải qua cảm giác có quyền lực, giúp hắn xóa bỏ mặc cảm thua kém, dù chỉ là tạm thời. Hành động bạo lực mà hắn gây ra mang lại cho hắn một lúc hai hiệu quả: đạt khoái thú và cảm thấy mạnh mẽ. Hành vi này không cần đến mối quan hệ với người khác nhưng vẫn đạt hiệu quả tốt nhất, với mức lo ngại giao tiếp nhỏ nhất. Như thể chúng chỉ tồn tại trên cái chết của những người khác, Mila thầm nghĩ. Đúng nửa đêm, tiếng còi báo động từ xe hơi của Kobashi vẫn còn điểm nhịp thời gian trôi qua, như lời nhắc nhở nghiệt ngã rằng mọi nỗ lực của nhóm điều tra đến giờ chỉ là công cốc. Họ không tìm thấy gì ở dưới hầm. Cả ngôi biệt thự đã bị phanh bụng, nhưng các bức tường của nó không tiết lộ bất cứ bí mật nào. Mila đang ngồi trên vỉa hè trước nhà thì Boris đi đến, tay cầm điện thoại di động.
- Tôi đang cố gọi nhưng không có sóng... Mila nhìn điện thoại của mình. - Chắc tại thế nên Chang không hề gọi cho tôi để thông báo kết quả giám định ADN. Boris nhìn quanh. - Ít ra thì ta cũng đỡ chạnh lòng khi biết người giàu cũng không phải có tất cả, nhỉ? Anh chàng mỉm cười, nhét điện thoại vào túi rồi ngồi xuống bên cạnh cô. Mila vẫn chưa cảm ơn anh về chiếc áo khoác, nên đã tranh thủ dịp này để bày tỏ sự cảm kích. - Có gì đâu mà. - Boris đáp. Đúng lúc đó, hai người trông thấy các nhân viên bảo vệ của khu dân cư bắt đầu dàn hàng ngang quanh ngôi biệt thự, tạo thành một hàng rào cô lập. - Có chuyện gì vậy? - Đám nhà báo sắp đến. - Boris thông báo với cô. - Roche đã quyết định cho phép lấy hình ảnh ngôi biệt thự: một vài phút trên bản tin truyền hình để cho thấy chúng ta đang làm hết sức. Mila nhìn các tay bảo vệ đang vào vị trí. Trông họ rất tức cười trong bộ đồng phục hai màu cam và xanh lam bó sát, phô trương thân hình cơ bắp. Nét mặt dữ dằn và bộ đàm đeo tai tạo cho họ một hình ảnh khá chuyên nghiệp. Albert đã xỏ mũi cả đám các người chỉ bằng cách gây chập mạch camera an ninh và khoan một cái lỗ trên tường rào. Mila nghĩ bụng. - Sau tất cả những chuyện này mà vẫn chưa tìm được câu trả lời, chắc Roche đang nổi cơn tam bành...
- Ông ta luôn tìm được cách giải quyết, cô đừng lo. Boris im lặng lấy giấy ra quấn một điếu thuốc. Mila có cảm giác anh chàng đang muốn hỏi cô chuyện gì đó, nhưng không hỏi thẳng. Nếu cô im lặng thì lại càng không giúp được gì. Cô quyết định quăng cho Boris cái phao cứu trợ: - Anh đã làm gì trong hai mươi bốn giờ xả trại? Boris thoái thác: - Tôi chỉ ngủ và suy nghĩ về vụ án. Lâu lâu làm trống đầu óc cũng tốt... Tôi biết cô đã đi chơi với Gavila tối qua. Rốt cuộc cũng đến chuyện này! Nhưng Mila đã nhầm khi nghĩ Boris đang ghen. Ý định của anh chàng hoàn toàn khác. Cô hiểu ra điều đó khi anh nói tiếp: - Tôi tin là ông ấy đã phải chịu đựng nhiều. Boris đang nhắc đến vợ của Goran. Giọng điệu của anh nghe buồn bã đến nỗi Mila cảm thấy dù chuyện gì đã xảy ra với hai người họ thì cũng đã ảnh hưởng đến cả nhóm. - Tôi không biết chuyện đó. - Mila nói. - Ông ấy không kể với tôi. Chỉ có hơi bóng gió một chút vào cuối buổi tối. - Vậy có lẽ bây giờ cô nên biết… Trước khi nói tiếp Boris châm thuốc, rít một hơi thật sâu rồi phả khói ra. Anh đang tìm từ ngữ. - Vợ của giáo sư Gavila là một phụ nữ tuyệt vời, không chỉ đẹp mà còn rất tốt tính. Tôi không thể đếm được chúng tôi đã ăn tối ở nhà họ bao nhiêu lần nữa. Bà ấy nhập bọn với chúng tôi như thể là một thành viên trong nhóm. Khi chúng tôi gặp một vụ án hóc búa, những bữa ăn tối là dịp
xả hơi duy nhất sau cả ngày vật lộn với máu me và xác chết. Một sự hòa giải với cuộc sống, cô hiểu không... - Sau đó chuyện gì đã xảy ra? - Chuyện đó cách đây đã một năm rưỡi. Không một lời báo trước, không một dấu hiệu, bà ấy đột ngột bỏ đi. - Bỏ ông ấy á? - Không chỉ giáo sư Gavila, mà cả Tommy, cậu con trai duy nhất của họ. Đó là một đứa trẻ rất dễ thương. Bây giờ nó ở với bố. Mila đã cảm thấy nỗi buồn chia cắt nơi nhà tội phạm học, nhưng cô không thể tưởng tượng được chuyện này. Cô tự hỏi làm thế nào một người mẹ có thể bỏ rơi đứa con do chính mình đẻ ra. - Tại sao bà ấy bỏ đi? - Không ai hiểu được. Có lẽ bà ấy có người khác, cũng có thể bà ấy đã chán ngấy cuộc sống như vậy... ai mà biết được. Bà ấy không nhắn lại một lời nào. Chỉ dọn hành lý rồi bỏ đi. Chấm hết. - Phải tôi thì tôi sẽ làm cho ra nhẽ. - Lạ nhất là ông ấy chưa bao giờ nhờ chúng tôi tìm xem bà ấy đang ở nơi nào. - Boris nói, rồi đưa mắt nhìn xung quanh để chắc ăn Goran không xuất hiện, trước khi tiếp lời. - Có một điều mà giáo sư Gavila không biết, không được biết... Mila gật đầu cho Boris thấy anh có thể tin tưởng ở cô. - Thì... vài tháng sau đó, Stern và tôi đã tìm thấy dấu vết của bà ấy. Bà sống ở bờ biển. Chúng tôi không trực tiếp đến gặp, mà chỉ xuất hiện trên đường đi, với hy vọng bà ấy mở lời. - Và bà ấy...
- Bà ấy bị bất ngờ khi gặp chúng tôi, nhưng vẫn gật đầu chào rồi cụp mắt và đi tiếp. Mila không biết phải hiểu thế nào về sự im lặng diễn ra sau đó. Boris vứt mẩu thuốc đi, mặc kệ một người trong đám bảo vệ quắc mắt giận dữ rồi đi nhặt nó trong vườn. - Sao anh kể cho tôi nghe chuyện này vậy? - Vì giáo sư Gavila là một người bạn của tôi. Và cô cũng thế, mặc dù tôi biết cô chưa lâu. Chắc hẳn Boris đã hiểu ra một điều gì đó mà cả Mila lẫn Goran đều chưa hiểu. Một điều liên quan đến hai người. Anh đang tìm cách bảo vệ họ. - Sau khi vợ bỏ đi, giáo sư Gavila vẫn ngẩng cao đầu. Ông không có lựa chọn nào khác, nhất là vì cậu con trai. Do đó không có gì thay đổi đối với chúng tôi. Ông ấy vẫn như ngày trước: chính xác, đúng hẹn, hiệu quả. Chỉ hơi xuề xòa trong việc ăn mặc. Điều đó không quan trọng, không có gì đáng lo. Nhưng rồi xảy ra vụ Wilson Pickett... - Giống tên của ca sĩ nhỉ? - Phải, ông ấy gọi hắn như thế. - Boris hối tiếc ra mặt vì đã lỡ lời. - Vụ án đó diễn ra không suôn sẻ. Chúng tôi đã phạm sai lầm, người ta đã đe dọa sẽ giải tán đội điều tra và tống khứ giáo sư Gavila. Chính Roche là người đã bảo vệ chúng tôi và kiên quyết giữ chúng tôi ở lại làm việc. Mila sắp sửa hỏi tiếp điều gì đã xảy ra và chắc chắn Boris sẽ kể hết, thì còi báo động của chiếc xe Maserati lại rú lên. - Chó chết, cái thứ đinh tai nhức óc kia! Lúc đó, Mila ngoái nhìn ngôi nhà và ghi lại một loạt hình ảnh khiến cô chú ý: đám nhân viên bảo vệ đang có cùng một gương mặt khó chịu và nhất loạt đưa tay lên máy bộ đàm đeo tai, như thể nó bị nhiễu sóng.
Mila lại nhìn chiếc xe Maserati. Rồi cô lấy điện thoại di động ra khỏi túi: vẫn không có sóng. Đột nhiên cô nảy ra một ý. - Có một chỗ chúng ta chưa tìm kiếm... - Cô nói với Boris. - Chỗ nào vậy? Cô chỉ tay lên trời. - Trên kia. Non một nửa giờ đồng hồ sau, các chuyên viên điện tử đã bắt tay vào dò tìm trong bóng đêm giá lạnh. Tất cả đều đeo tai nghe và cầm một thiết bị nom như cái parabol nhỏ hướng lên trời. Họ bước đi thật chậm rãi và im lặng như những bóng ma, cố gắng bắt sóng vô tuyến điện hoặc những tần số đáng ngờ, trong trường hợp bầu trời đang che giấu một thông điệp nào đó. Và quả có thế thật. Chính nó đã tương tác với hệ thống báo động của chiếc xe Maserati và làm nhiễu sóng di động, đồng thời len lỏi vào bộ đàm của các nhân viên bảo vệ và gây ra tiếng rít chói tai. Khi các kỹ thuật viên điện tử đã bắt được tín hiệu, họ cho biết nó khá yếu. Ngay sau đó, tín hiệu được chuyển đến một máy thu. Tất cả mọi người tụ tập xung quanh chiếc máy để nghe xem bóng tối đang nói gì với họ. Nhưng không có từ ngữ nào, chỉ có âm thanh. Thỉnh thoảng chúng lẫn vào trong một loạt những tiếng rẹt rẹt, rồi lại rõ rệt trở lại. Nhưng trong trình tự âm thanh đó có một sự hài hòa nhất định. Ngắn, rồi dài.
- Ba chấm, ba gạch, rồi ba chấm. - Goran giải nghĩa cho những người khác. Trong hệ thống mã vô tuyến phổ biến nhất thế giới, những âm thanh cơ bản đó chỉ có một ý nghĩa duy nhất. SOS. - Nó phát ra từ đâu vậy? - Nhà tội phạm học hỏi. Kỹ thuật viên quan sát dải tín hiệu đang phân tán rồi tập trung trở lại trên màn hình một lúc. Sau đó anh ngước mắt nhìn qua đường và chỉ rõ: - Từ ngôi nhà đối diện.
23 Nó đã ở trước mắt họ ngay từ đầu. Ngôi nhà đối diện đã quan sát họ hoài công đi tìm lời giải đáp trong câm lặng suốt cả ngày trời. Nó ở đó, cách họ vài bước chân, và kêu gọi họ bằng cách nhắc đi nhắc lại tín hiệu cầu cứu lỗi thời duy nhất ấy. Ngôi nhà hai tầng thuộc về một bà Yvonne Gress nào đó. Một họa sĩ, theo như lời kể của hàng xóm. Bà ta sống với hai người con, một cậu bé mười một và một cô bé mười sáu tuổi. Họ dọn đến Capo Alto sau khi Yvonne ly dị chồng, và bà quay lại với niềm đam mê nghệ thuật đã từng từ bỏ để đi lấy một luật sư trẻ nhiều triển vọng. Lúc đầu, những bức tranh trừu tượng của Yvonne không được công chúng đón nhận. Phòng tranh không bán được một bức nào sau cuộc triển lãm cá nhân. Nhưng tin tưởng ở tài năng của mình, bà đã không bỏ cuộc. Khi một người bạn đặt vẽ một bức chân dung gia đình bằng chất liệu sơn dầu để treo trên lò sưởi, Yvonne đã phát hiện ra mình có một thế mạnh ở trường phái hội họa ngây thơ. Chỉ trong thời gian rất ngắn, bà đã trở thành họa sĩ vẽ tranh chân dung được yêu cầu nhiều nhất bởi những ai đã chán những tấm ảnh thông thường và muốn lưu giữ hình ảnh gia đình mình trên vải. Khi thông điệp bằng mã Morse hướng sự chú ý của mọi người sang ngôi nhà bên kia đường, một người bảo vệ sực nhớ ra rằng bà Yvonne và các con đã không xuất hiện một thời gian. Rèm cửa sổ đã được buông xuống, nên không thể quan sát bên trong.
Trước khi thanh tra Roche ra lệnh tiến vào trong nhà, Goran đã gọi vào số điện thoại của Yvonne. Ngay sau đó, giữa sự yên tĩnh của con đường, họ nghe thấy tiếng chuông điện thoại vang ra từ trong nhà, nhỏ nhưng rõ. Không ai bắt máy. Các cảnh sát cũng đã cố liên lạc với người chồng cũ của bà Yvonne Gress với hy vọng ít ra bọn trẻ đang ở cùng ông ta. Khi tìm ra người đàn ông đó, cảnh sát được cho biết là bố con họ không gặp nhau từ lâu. Chẳng có gì phải ngạc nhiên vì ông ta đã bỏ gia đình để chạy theo một cô người mẫu ngoài hai mươi tuổi và cho rằng việc gửi một khoản tiền chu cấp hàng tháng là đã làm tròn nghĩa vụ của một người cha. Đội kỹ thuật đã đặt các cảm ứng nhiệt độ quanh nhà để tìm nguồn nhiệt nếu có. - Nếu như có vật thể sống trong nhà, chúng ta sẽ biết ngay. - Roche nói, tin tưởng một cách mù quáng vào công nghệ. Trong lúc đó, các chỉ số tiêu thụ điện, ga và nước được kiểm tra kỹ lưỡng. Tất cả không bị cắt do các hóa đơn được thanh toán tự động qua ngân hàng, nhưng côngtơ đã ngừng từ ba tháng trước đó, cho thấy không ai bật dù chỉ một bóng đèn trong nhà trong khoảng chín mươi ngày vừa qua. - Nghĩa là từ khi ngôi nhà của gia đình Kobashi được hoàn thành và cả nhà họ dọn đến đây. - Stern lưu ý. Goran nói: - Rosa này, tôi muốn cô kiểm tra băng hình các camera an ninh. Có một mối liên hệ giữa hai ngôi nhà, và chúng ta cần phải phát hiện ra nó. - Hy vọng là không có lần mất điện hệ thống nào nữa. - Rosa đáp. - Chúng ta chuẩn bị vào thôi. - Gavila tuyên bố. Trong lúc đó, Boris mặc áo chống đạn trong chiếc xe cơ động.
- Tôi muốn vào bên trong. - Anh nói khi gặp Mila ở cửa xe. - Họ không thể ngăn tôi được. Tôi muốn tự mình vào trong đó. Boris không thể chịu được ý nghĩ rằng Roche sẽ yêu cầu đơn vị đặc nhiệm vào nhà trước. - Bọn họ sẽ làm hỏng việc. Ở trong đó họ sẽ phải dò dẫm trong bóng tối... - Tôi nghĩ họ sẽ xoay xở được. - Mila bình luận, tuy không muốn phủ nhận lời Boris. - Vậy họ cũng biết bảo vệ các bằng chứng chứ? - Boris hỏi với giọng mỉa mai. - Vậy thì tôi cũng muốn vào. Tôi nghĩ mình đáng được làm chuyện này. Nói cho cùng tôi là người đã phát hiện ra thông điệp... Boris ngừng phắt lại và nhìn Mila không nói. Sau đó anh ném cho cô một chiếc áo chống đạn. Lát sau hai người rời khỏi xe cơ động đến gặp Goran và Roche để giải thích vì sao họ phải vào nhà. - Không có chuyện đó. - Ngài chánh thanh tra lập tức gạt phăng. - Đây là việc của đội đặc nhiệm. Tôi không thể chấp nhận một hành động khinh suất như vậy. - Ông nghe này, thanh tra. - Boris đứng đối mặt với Roche để ông ta không thể tránh né cái nhìn của anh. - Cứ để Mila và tôi vào do thám trong đó. Những người khác chỉ vào khi thực sự cần. Tôi là một cựu binh, tôi đã được huấn luyện cho những chuyện này. Stern đã có hai mươi năm kinh nghiệm thực địa, anh ấy sẽ xác nhận với ông, và nếu như không thiếu một quả thận thì anh ấy đã xung phong đi cùng tôi. Ông thừa biết điều đó. Còn với đặc vụ Mila Vasquez, cô ấy từng một mình vào trong hang ổ của kẻ điên khùng đã giam giữ một thằng bé và một cô gái.
Mila chua xót tự nhủ nếu Boris biết chuyện gì đã xảy ra khi cô để cho tính mạng của con tin và của bản thân mình bị đe dọa, chắc anh chàng đã không hăng hái bảo vệ cô đến thế. - Ông nghĩ kỹ đi. Có một bé gái còn sống đang ở đâu đó, nhưng không lâu nữa đâu. Mỗi hiện trường lại cho chúng ta biết thêm điều gì đó về kẻ thủ ác. Nếu ở trong kia có gì giúp chúng ta tiếp cận được Albert, - anh đưa tay chỉ ngôi nhà của Yvonne, - thì cần phải bảo đảm là nó không bị phá hủy. Và cách duy nhất là phái chúng tôi vào trong đó. - Tôi không nghĩ vậy. - Roche cương quyết phản đối. Boris dấn tới thêm một bước, mắt nhìn thẳng vào mắt ông thanh tra. - Ông có muốn mọi chuyện phức tạp hơn không? Như thế này là đã khó khăn lắm rồi nha... Câu này nghe như một lời đe dọa, Mila nghĩ bụng. Cô ngạc nhiên khi Boris dám ăn nói với cấp trên bằng giọng như thế. Có chuyện gì đó giữa hai người này mà cả cô lẫn Goran đều không biết. Roche nhìn Gavila khá lâu: ông ta đang cần lời khuyên, hay chỉ đơn giản là cần một ai đó để chia sẻ trách nhiệm trong quyết định này? Nhưng ông giáo sư tội phạm học không mảy may tính toán. Ông chỉ gật đầu. - Tôi tin là chúng ta sẽ không phải hối tiếc. - Thanh tra Roche dùng ngôi thứ nhất số nhiều để nhấn mạnh phần trách nhiệm của Goran. Đúng lúc đó, một kỹ thuật viên tiến đến, trên tay là màn hình của thiết bị tầm nhiệt. - Thưa thanh tra, máy dò đã xác định được thứ gì đó trên gác... Một sinh vật sống. Mọi người cùng quay nhìn về phía ngôi nhà.
- Đối tượng vẫn ở trên tầng hai, không di chuyển. - Stern thông báo qua radio. Boris đếm ngược trước khi xoay nắm đấm cửa ra vào. Trưởng nhóm bảo vệ đã đưa cho anh chìa khóa dự phòng. Mỗi ngôi biệt thự đều có một chiếc để phòng trường hợp khẩn cấp. Mila quan sát sự tập trung của Boris. Phía sau họ, đội đặc nhiệm đã sẵn sàng để can thiệp. Boris bước qua ngưỡng cửa trước, Mila theo sau, giơ cao súng, và ngoài bộ áo chống đạn, họ còn đội một chiếc mũ cối có gắn tai nghe, micro cùng một đèn pin nhỏ ở thái dương bên phải. Stern chỉ đường cho hai người từ bên ngoài qua radio, trong khi vẫn để mắt đến vật thể được ghi nhận trên màn hình của thiết bị tầm nhiệt. Nó có nhiều cấp độ màu sắc để thể hiện những vùng nhiệt khác nhau của cơ thể, đi từ xanh dương sang vàng rồi đến đỏ. Không thể phân biệt rõ hình thù của đối tượng. Nhưng nó trông giống như một người nằm trên sàn nhà. Có thể đó là một người bị thương, nhưng trước khi đoán chắc về điều này, Boris và Mila phải thăm dò một cách kỹ lưỡng, đặt tiêu chí an toàn lên trên hết. Phía bên ngoài biệt thự, hai đèn chiếu cực mạnh được đặt để rọi sáng hai mặt tiền nhà, tuy vậy ánh sáng lọt vào bên trong khá yếu do bị rèm cửa che chắn. Mila cố gắng tập cho mắt quen với bóng tối. - Mọi chuyện ổn cả chứ? - Boris thì thầm hỏi cô. - Vẫn ổn. - Cô đáp. Trong khi chờ đợi, Goran Gavila đứng ở nơi từng là khu vườn của Kobashi, thèm một điếu thuốc lá như thể chưa được hút hàng năm trời. Ông thấy lo lắng. Nhất là cho Mila. Bên cạnh ông, Sarah Rosa đang xem lại các đoạn băng an ninh trên bốn màn hình trước mặt. Nếu thực sự có một mối liên hệ giữa hai ngôi nhà đối diện nhau thì họ sẽ sớm tìm ra thôi.
Điều đầu tiên Mila ghi nhận được là nhà của Yvonne Gress rất lộn xộn. Ngay từ cửa vào, họ đã thấy toàn bộ phòng khách ở bên trái và gian bếp bên phải. Trên bàn là hàng đống hộp ngũ cốc đã mở, những chai nước cam vơi phân nửa và các hộp sữa đã hỏng. Ngoài ra còn có nhiều vỏ lon bia rỗng. Tủ chạn đang mở toang và một phần đồ ăn bên trong đã bị đổ lung tung xuống sàn. Quanh bàn có bốn chiếc ghế. Chỉ có một chiếc bị dời chỗ. Bồn rửa đầy chén đĩa bẩn và xoong nồi dính cặn thức ăn. Mila chiếu đèn vào tủ lạnh: bên dưới một miếng nam châm hình con rùa là tấm ảnh của một phụ nữ tóc vàng ngoài bốn mươi đang tươi cười, hai tay quàng qua một cậu bé và một cô bé lớn hơn. Trong phòng khách, trên chiếc bàn thấp đặt phía trước màn hình ti vi cực lớn ngổn ngang các chai rượu đã cạn, lon bia và gạt tàn đầy đầu lọc thuốc lá. Một chiếc trường kỷ đã bị kéo ra giữa phòng. Thảm lót sàn lem luốc dấu giày. Boris khều Mila và chỉ vào sơ đồ ngôi nhà, giải thích cho cô hiểu rằng họ phải tách nhau ra trước khi gặp lại tại chân cầu thang dẫn lên tầng trên. Anh chỉ cho cô một khu vực nằm phía sau bếp, để thư viện và phòng làm việc lại cho mình. - Stern, mọi thứ trên lầu vẫn ổn chứ? - Không có động tĩnh gì. - Stern trả lời. Hai người ra hiệu cho nhau rồi Mila tiến đến khu vực được phân công. - Đây rồi. - Trong lúc đó Sarah Rosa tuyên bố trước dãy màn hình. - Ông nhìn này... Goran nghiêng người qua vai cô: theo như ngày tháng ghi trên một góc màn hình, đoạn băng đã được quay chín tháng trước đó. Biệt thự của
Kobashi lúc đó hãy còn là một công trường đang xây dựng. Trong đoạn băng tua nhanh, các công nhân ríu rít xung quanh mặt tiền dang dở như những chú kiến hoảng loạn. - Giờ thì ông xem cái này… Rosa tua đoạn băng đến thời điểm chiều tối, khi mọi người rời công trường để về nhà trước khi quay lại vào sáng hôm sau. Cô cho đoạn băng chạy với tốc độ bình thường trở lại. Họ có thể thoáng thấy một thứ gì đó ở ngay cửa ra vào ngôi nhà của Kobashi. Đó là một cái bóng bất động, như thể đang chờ đợi. Nó hút thuốc. Đốm lửa chập chờn của điếu thuốc tiết lộ vị trí của cái bóng. Cái bóng đứng ở trong ngôi biệt thự của ông nha sĩ, chờ đợi cho trời tối hẳn, rồi mới bước ra ngoài. Hắn nhìn quanh, sau đó băng qua đoạn đường vài mét giữa hai ngôi nhà và bước vào trong ngôi nhà đối diện, không buồn gõ cửa. - Nghe này... Mila đang ở trong xưởng vẽ của Yvonne Gress, ở đó các tấm tranh nằm chồng chất khắp nơi, giá vẽ và màu vẽ nằm lung tung. Nghe thấy giọng nói của Goran, cô dừng bước. - Chúng tôi có lẽ đã biết được chuyện gì xảy ra trong ngôi nhà này. Cô chờ đợi. - Chúng ta đang gặp phải một tên ăn bám: một trong các công nhân được thuê để xây dựng ngôi nhà của Kobashi tối nào cũng ở lại sau giờ làm việc và lẻn sang nhà đối diện. Chúng tôi e là hắn... - ông ngừng một lúc để tìm từ diễn đạt sự việc kinh hoàng - đã giam cầm gia đình bà Yvonne trong chính ngôi nhà của họ.
Kẻ lạ mặt chiếm lấy cái tổ và hành xử như những người khác, tự thuyết phục rằng hắn là một thành viên của nó. Hắn chứng tỏ mọi thứ bằng tình yêu bệnh hoạn của mình. Nhưng khi đã chán, hắn loại bỏ gia đình mới quen và đi tìm một cái tổ khác. Trong khi quan sát các dấu ấn ghê tởm hắn để lại trong xưởng vẽ của Yvonne, Mila lại nhớ đến những con giòi Sarcophaga carnaria lúc nhúc trên tấm thảm nhà Kobashi. Sau đó cô nghe tiếng Stern hỏi: - Trong bao lâu? - Sáu tháng. - Goran đáp. Mila thấy bụng quặn lên. Suốt trong sáu tháng trời, bà Yvonne và các con đã bị giam cầm bởi một kẻ tâm thần được tùy ý muốn làm gì họ thì làm. Quá đáng hơn, hắn làm chuyện đó ngay giữa một tá các ngôi nhà khác, nơi các gia đình khép mình trong thiên đường xa hoa này để tách rời khỏi thế giới tàn khốc và đặt niềm tin vào một sự an ninh lý tưởng đến vô lý. Sáu tháng. Và không một ai nhận ra chuyện gì. Khu vườn được xén cỏ hàng tuần, các luống hoa hồng đều đặn nhận sự chăm sóc tận tâm của các bác làm vườn. Ánh đèn trước hiên nhà được bật lên mỗi tối, nhờ công tắc hẹn giờ theo đúng quy định của ban quản lý. Đám trẻ đạp xe và chơi đá bóng trên con đường trước nhà, các quý bà vừa đi dạo vừa tán gẫu và trao đổi công thức làm bánh, còn cánh đàn ông chạy bộ mỗi sáng Chủ nhật và rửa xe trước gara nhà mình. Sáu tháng trời. Mà không ai thấy gì. Họ không tự hỏi vì sao các tấm rèm luôn che kín mít, kể cả vào ban ngày. Họ không nhận ra đống thư từ dồn ứ trong hộp thư. Không ai buồn chú ý đến sự vắng mặt của Yvonne và các con trong các dịp sinh hoạt của câu lạc bộ, chẳng hạn như vũ hội mùa thu và buổi quay xổ số may mắn ngày 23 tháng Mười hai. Các món đồ trang trí Giáng sinh - nhà nào cũng
như nhà nào - được các công nhân sắp đặt như thường lệ, rồi gỡ đi sau dịp lễ. Điện thoại đổ chuông không người nhấc máy, bà Yvonne và các con không mở cửa khi có người gọi, nhưng chẳng ai lo lắng. Các họ hàng của bà Yvonne Gress đều ở xa. Mà ngay cả họ cũng không thấy gì bất thường bởi sự im lặng quá lâu này. Trong suốt khoảng thời gian dài đó, gia đình nhỏ đã ao ước, hy vọng, cầu nguyện hàng ngày cho một sự giúp đỡ hoặc một sự chú ý chẳng bao giờ đến. Có lẽ gã là một kẻ ác dâm. Và đây là trò chơi, là thú tiêu khiển của hắn. Ngôi nhà búp bê của hắn, Mila thầm nghĩ trong đầu khi nhớ đến trang phục mà Albert đã mặc cho thi thể đặt trong nhà Kobashi. Cô nghĩ đến những trò bạo lực không đếm xuể mà bà Yvonne và các con đã phải hứng chịu trong khoảng thời gian dài đó. Sáu tháng đày ải. Sáu tháng bị tra tấn. Sáu tháng thống khổ. Nhưng nghĩ cho cùng, chỉ cần một khoảng thời gian ngắn hơn là đã đủ để cho mọi người quên hẳn họ. Ngay cả “đội ngũ giữ gìn pháp luật” cũng không nhận ra điều gì, dù họ đứng trước nhà suốt hơn hai mươi bốn giờ vừa qua, trong tình trạng báo động. Họ cũng có tội và là những kẻ đồng lõa theo một nghĩa nào đó. Ngay cả cô cũng vậy. Một lần nữa. Albert đã cho thấy thói đạo đức giả nơi nhóm người cảm thấy “bình thường” chỉ vì mình không giết và cắt tay của các bé gái vô tội. Chính sự vô tâm của họ cũng là một tội ác nghiêm trọng không kém. Boris cắt ngang dòng suy nghĩ của Mila. - Stern, trên đó vẫn ổn chứ? - Đường vẫn thông. - Vậy chúng ta đi thôi.
Họ gặp nhau như đã hẹn ở chân cầu thang dẫn lên tầng trên, ở đó có các phòng ngủ. Boris ra hiệu cho Mila yểm trợ phía sau. Từ lúc này, họ phải quan sát trong tình trạng yên lặng hoàn toàn để không bị lộ. Stern chỉ được phép lên tiếng để cảnh báo họ trong trường hợp vật thể sống trên màn hình di chuyển. Hai người bước lên các bậc thang. Kể cả thảm trải cầu thang cũng dính đầy vết bẩn, dấu giày và đồ ăn. Trên tường treo những tấm ảnh chụp các chuyến du lịch, những dịp sinh nhật hoặc lễ kỷ niệm gia đình, và một bức chân dung bà Yvonne cùng các con nơi đầu cầu thang. Kẻ nào đó đã khoét đi những đôi mắt trên đó, chắc là cảm thấy khó chịu vì cái nhìn thiêu đốt. Khi lên đến nơi, Boris tránh sang bên đợi cho Mila bắt kịp mình. Sau đó anh đi trước mở đường. Có nhiều cánh cửa khép hờ hai bên hành lang. Ở phía cuối, hành lang rẽ sang trái. Sau chỗ rẽ là nơi phát ra nguồn nhiệt. Boris và Mila chầm chậm tiến về phía đó. Khi đi ngang qua một trong những cánh cửa khép hờ, Mila nhận ra tiếng động nhịp nhàng của thông điệp kêu cứu bằng mã Morse mà họ đã nhận được. Cô nhẹ nhàng mở cửa và phát hiện ra đó là phòng của cậu con trai mười một tuổi. Những tấm áp phích hình các hành tinh phủ kín các bức tường, sách thiên văn học chiếm đa số trên các kệ sách. Một chiếc kính viễn vọng được đặt ngay trước cửa sổ. Trên chiếc bàn học nhỏ, cô thấy một mô hình thu nhỏ tái hiện lại thiết bị đánh điện tín hồi đầu thế kỷ XX. Nó gồm một miếng gỗ nhỏ và hai cục pin khô được nối thông qua các điện cực và dây đồng với một chiếc đĩa đục lỗ quay trên một bánh răng theo từng đợt - ba chấm, ba gạch, ba chấm. Tất
cả được nối dây với một máy bộ đàm hình khủng long. Mô hình được gắn một tấm bảng nhỏ bằng đồng để chữ GIẢI NHẤT. Tín hiệu phát ra từ đây. Cậu bé đã biến bài tập của mình thành một trạm phát tín hiệu, tránh được sự kiểm soát và cấm đoán của kẻ cầm tù ba mẹ con. Mila hướng chùm sáng đèn pin vào chiếc giường chưa dọn. Bên dưới nó có một cái xô nhựa. Cô còn để ý thấy những vết trầy xước nơi gờ của đầu giường. Căn phòng đối diện trong hành lang là của cô chị gái mười sáu tuổi. Trên cửa phòng dán những chữ cái đủ màu tạo thành một cái tên: Keira. Đứng trên ngưỡng cửa, Mila quét mắt nhìn nhanh trong phòng. Vải trải giường bị vo thành một cục tròn nằm dưới sàn. Một cái tủ nhiều ngăn đựng quần áo lót lăn kềnh trên sàn. Chiếc gương của tủ commốt đã bị quay vào giường. Không khó để hiểu lý do tại sao. Ở đây cũng có những vết trầy xước trên thanh đầu giường. Còng số tám, Mila thầm nghĩ. Ban ngày hắn còng họ vào giường. Một cái xô nhựa bẩn khác được đặt trong một góc phòng. Chắc nó được dùng cho nhu cầu cá nhân. Cách đó vài ba mét là phòng ngủ của Yvonne. Nệm giường bẩn thỉu, chỉ có một lớp vải trải. Trên lớp thảm trải sàn có dấu vết nôn mửa và băng vệ sinh đã sử dụng. Ở một bức tường, trên cái đinh lúc trước từng dùng để treo tranh là một chiếc thắt lưng da đập vào mắt, lời nhắc nhở đến kẻ ra lệnh và cách thức thực thi mệnh lệnh của hắn. Đây là phòng chơi bời của mày, thằng khốn nạn! Tao nghĩ mày cũng thỉnh thoảng lượn sang phòng của con bé nữa! Và khi đã chán hai mẹ con, mày sẽ mò sang phòng thằng bé để tẩn cho nó mấy cái... Cơn giận là thứ cảm xúc còn lại duy nhất của Mila. Và cô tận dụng nó, hút lấy hút để từ trong cái giếng tối tăm đó.
Đã bao nhiêu lần, bà Yvonne Gress bị buộc phải “chiều chuộng” con quái vật ấy, nhằm giữ hắn lại trong căn phòng này và không để hắn trút giận lên đầu hai đứa con của bà? - Chú ý, có gì đó đang chuyển động. - Stern cảnh báo. Boris và Mila nhất loạt quay về phía chỗ rẽ ngoặt trong hành lang. Không còn thời gian để trinh sát nữa. Họ chĩa súng và đèn về hướng đó, chờ đợi một thứ gì đó xuất hiện. - Đứng yên! - Boris hô to. - Nó đang tiến đến chỗ hai người. Mila đặt ngón trỏ lên cò súng và bắt đầu ấn nhẹ vào đó. Tim cô đập càng lúc càng mạnh. - Nó ở ngay đằng sau góc tường. Con vật kêu rên một tiếng nhỏ. Một cái mõm lông lá xuất hiện và quan sát họ. Một con chó giống Terre-neuve. Mila hạ vũ khí, Boris cũng làm theo. - Mọi chuyện ổn cả. - Anh nói vào bộ đàm. - Chỉ là một con chó thôi. Con vật có bộ lông cứng và dính bết, đôi mắt đỏ. Nó đang bị thương ở một chân. Hắn đã không giết nó, Mila thầm nghĩ trong khi tiến lại gần con vật. - Lại đây nào, cưng, lại đây... - Nó đã sống sót một mình trong gần ba tháng ròng. Làm sao nó sống được? - Boris hỏi. Mila càng tiến tới thì con chó càng thụt lùi. - Coi chừng. Nó đang hoảng sợ. Nó có thể cắn cô đấy.
Cô phớt lờ lời khuyến cáo của Boris và tiếp tục tiến về phía con chó. Cô quỳ xuống để làm nó an tâm, trong khi tiếp tục gọi: - Lại đây, bé cưng, lại đây nào. Khi đã đến đủ gần, cô nhìn thấy một bảng tên gắn vào vòng cổ của con chó. Nhờ ánh sáng đèn pin, cô có thể đọc được tên của con vật. - Terry, lại đây nào, ngoan nào... Rốt cuộc con chó cũng để cho cô tiếp cận. Mila đưa một tay lên trước mõm nó để nó ngửi. Boris tỏ ra sốt ruột. - Được rồi đấy, chúng ta kiểm tra nốt tầng trên này rồi gọi mọi người vào. Con chó giơ một chân khều Mila, như thể nó muốn chỉ cho cô xem một thứ gì đó. - Chờ đã... - Cái gì vậy? Cô không đáp mà chỉ đứng dậy. Con chó lại quay về chỗ rẽ của hành lang. - Nó muốn chúng ta đi theo. Hai người đi sau con chó. Sau ngã rẽ, hành lang chỉ còn tiếp tục thêm vài mét. Ở cuối hành lang, bên phải, có một căn phòng cuối cùng. Boris xem sơ đồ. - Nó trông ra mặt hậu, nhưng tôi không biết nó là phòng gì. Cửa phòng đang đóng. Phía trước nó có nhiều món đồ nằm lộn xộn. Một cái chăn may chần với họa tiết khúc xương, một cái tô, một quả bóng nhiều màu, một sợi dây dắt chó và đồ ăn thừa.
- Ra đây là kẻ đã lục đồ ăn. - Mila nói. - Tôi tự hỏi sao nó lại đem đồ chơi của mình đến chỗ này... Con chó tiến lại gần cánh cửa, như thể muốn khẳng định cái ổ của nó nằm ở đó. - Anh nghĩ nó dọn vào chỗ này một mình à? Tại sao chứ? Như để trả lời cho câu hỏi của Mila, con chó bắt đầu cào vào cánh cửa và rên ư ử. - Nó muốn chúng ta vào trong. Mila cầm lấy sợi dây và buộc con vật vào một cái máy sưởi. - Ngoan nào, Terry. Con chó sủa một tiếng, xem vẻ đã hiểu. Nó tránh khỏi lối đi trong lúc Mila cầm lấy tay nắm và Boris chĩa súng vào cánh cửa. Thiết bị tầm nhiệt không phát hiện được sự hiện diện của sinh vật sống nào khác, nhưng ai mà biết được. Tuy vậy cả hai người đều tin rằng, phía sau tấm chắn mỏng manh này là kết cục bi thảm của những điều đã xảy ra trong những tháng vừa qua. Mila ấn mạnh tay nắm để mở khóa cửa, rồi đẩy nhẹ. Ánh sáng đèn pin chọc xuyên qua bóng tối, nhảy từ bên này sang bên kia căn phòng. Nó trống không. Căn phòng rộng khoảng hai mươi mét vuông. Sàn phòng không trải thảm, các vách tường được sơn trắng. Ô cửa sổ bị che kín bởi một tấm rèm dày. Một bóng đèn treo trên trần. Dường như căn phòng này chưa từng được sử dụng. - Sao con chó dẫn chúng ta vào trong này? - Mila tự hỏi chính mình nhiều hơn là hỏi Boris. - Bà Yvonne và bọn trẻ đâu? Cô tránh không hỏi thẳng rằng “Xác của ba mẹ con ở đâu?”
- Stern. - Tôi đây. - Anh bảo đội khoa học vào đi. Chúng tôi xong việc rồi. Mila bước ra hành lang, cởi dây buộc con chó. Nó lập tức lao vào trong phòng. Mila chạy theo và thấy nó chúi mũi vào một góc. - Terry, mày không thể ở đây được. Nhưng con chó không nhúc nhích. Mila bèn tiến lại gần, tay cầm sợi dây dắt chó. Con vật lại sủa, nhưng không có vẻ đe dọa. Rồi nó bắt đầu hít hít sàn nhà gần chân tường. Mila cúi xuống cạnh nó, đẩy mõm nó ra và rọi đèn pin vào. Chẳng có gì. Nhưng rồi cô nhìn thấy. Một vết màu nâu. Nó có đường kính nhỏ hơn ba milimet. Mila cúi xuống gần hơn. Cô thấy nó có góc cạnh và bề mặt dợn sóng. Cô không còn nghi ngờ gì về nó nữa. - Đây là nơi chuyện đó xảy ra. Boris không hiểu chuyện gì. Rồi cô quay về phía anh - Đây là nơi hắn đã giết họ. - Thật ra chúng tôi biết có người vào nhà, nhưng mà... các anh biết đấy, Yvonne Gress là một phụ nữ hấp dẫn, sống một mình nên... thỉnh thoảng vẫn được đàn ông khu này ghé chơi vào đêm hôm khuya khoắt. Tay đội trưởng đội bảo vệ gục gặc đầu đầy ngụ ý khiến cho Goran phải phản ứng bằng cách nhón gót, đưa mắt mình ngang tầm mắt anh ta.
- Sao anh dám bóng gió những chuyện như thế... Ông nói với một giọng bình thường nhưng hàm chứa đầy vẻ đe dọa. Tay bảo vệ đáng lẽ phải giải thích về sai sót nghiêm trọng của mình và các thuộc cấp. Nhưng ngược lại, anh ta đang cố dùng thủ đoạn đã thống nhất với đám luật sư của Capo Alto. Họ tìm cách biến bà Yvonne Gress thành một phụ nữ dễ dãi dựa trên việc bà đã bỏ chồng và sống độc thân. Goran lưu ý rằng kẻ lạ mặt - vì họ chưa thể xác định danh tính của hắn - kẻ đã ra vào nhà bà Yvonne trong suốt sáu tháng trời, đã lợi dụng chính cái cớ đó để hành động tùy thích. Ông và Rosa đã xem hầu hết các đoạn video an ninh được quay trong thời gian trên. Cùng một sự việc như thế đã diễn ra gần như mỗi ngày. Thỉnh thoảng gã đàn ông không ở lại qua đêm, Goran tự nhủ đó là những thời điểm dễ thở nhất cho gia đình bị cầm tù kia. Nhưng biết đâu đó là những lúc tệ hại nhất, vì họ bị trói vào giường và không được ăn uống gì nếu bị hắn bỏ mặc. Bị bạo hành cũng có nghĩa là còn sống, trong hành trình vô tận đi tìm cái ác ít kinh khủng hơn. Trong các đoạn băng ghi hình, họ nhìn thấy gã đàn ông vào ban ngày, trong khi hắn làm việc trên công trường. Hắn luôn đội mũ lưỡi trai để không bị quay rõ mặt. Stern đi dò hỏi công ty chủ quản đã thuê hắn theo hợp đồng mùa vụ. Họ bảo hắn tên là Lebrinsky, nhưng đó là một cái tên giả. Chuyện này xảy ra cũng là điều bình thường, đặc biệt là vì các công trường xây dựng hay dùng lao động nước ngoài chưa có giấy tờ lưu trú. Theo luật, chủ lao động phải có trách nhiệm kiểm tra giấy tờ của họ để xem họ có hợp pháp hay không. Nhiều công nhân từng làm việc ở công trình xây dựng biệt thự Kobashi cho biết kẻ có tên Lebrinsky là một người ít nói, sống khép mình.
Họ cung cấp những mô tả về hắn nhằm dựng lên một chân dung trên máy tính. Nhưng các mô tả quá khác biệt nên không thể sử dụng được. Khi đã xong việc với tay đội trưởng đội bảo vệ, Goran vào gặp những người còn lại trong ngôi nhà của bà Yvonne Gress, vốn đã được nhóm của Krepp “càn quét” nãy giờ. Mấy cái khuyên xỏ lấp lánh trên khuôn mặt của chuyên gia vân tay trong khi ông di chuyển như một vị thần trong khu rừng ma thuật. Bởi bây giờ ngôi nhà trông thật khác thường: thảm trải sàn đã được bao phủ toàn bộ bằng một lớp nhựa trong, các ngọn đèn halogen được đặt đây đó để chiếu sáng nhiều chỗ, có khi chỉ một chi tiết rất nhỏ. Những con người trong bộ đồ bảo hộ màu trắng và đeo mặt nạ trong suốt đang phủ bột hóa chất lên mọi thứ. - Đối tượng của chúng ta không được thông minh cho lắm. - Krepp bình phẩm. - Ngoại trừ sự lộn xộn do con chó gây ra, hắn đã bỏ lại đủ thứ rác rưởi: lon bia, đầu lọc thuốc lá, ly cốc bẩn. Dữ liệu di truyền nhiều đến độ ta có thể nhân bản hắn! - Còn dấu tay? - Sarah Rosa hỏi. - Cả đống! Nhưng đáng tiếc là hắn chưa bao giờ vào tù nên ta chưa có thông tin trong hệ thống. Goran lắc đầu: dấu vết nhiều như thế mà họ thậm chí không tìm ra nổi một kẻ tình nghi. Rõ ràng tên ăn bám này bất cẩn hơn nhiều so với Albert, kẻ đã phá hoại hệ thống camera an ninh trước khi đưa thi thể bé gái vào trong nhà của Kobashi. Chính vì vậy ông thấy có điều gì đó không hợp lý. - Vậy còn xác của các nạn nhân? Chúng ta đã xem hết băng an ninh, kẻ ăn bám chưa bao giờ mang thứ gì ra khỏi căn nhà này. - Vì gã không đưa họ ra ngoài qua cửa chính... Mọi người bối rối nhìn nhau, cố hiểu ý nghĩa của câu nói. Krepp giải thích thêm:
- Chúng tôi đang kiểm tra các cống rãnh. Tôi tin là hắn đã phi tang các xác chết theo ngả đó. Hắn đã cắt họ thành từng mảnh nhỏ, Goran thầm kết luận. Tên cuồng sát đã nhập vai ông chồng và người cha hờ dễ thương, để rồi một ngày kia khi đã chán, hoặc có thể là khi đã hết việc ở công trình đối diện, hắn đã vào đây một lần cuối cùng. Ông tự hỏi liệu bà Yvonne và các con có dự cảm được kết cục của họ hay không. - Nhưng tôi dành chuyện quái lạ nhất để nói sau cùng... - Krepp lên tiếng. - Chuyện gì mới được chứ? - Căn phòng trống trên gác, nơi cô bạn cảnh sát của chúng ta đã tìm thấy vết máu nhỏ tí ấy. Mila cảm thấy cái nhìn đầy ẩn ý của Krepp chiếu vào mình. Goran thấy cô cứng người phòng thủ. Krepp làm nhiều người phát sợ. - Căn phòng trên gác là nhà nguyện Sixtine của tôi. - Ông nói. - Vết máu khiến chúng ta nghĩ đó là nơi xảy ra vụ thảm sát, trước khi được hắn lau chùi sạch sẽ, mặc dù còn để sót một vết máu nhỏ. Nhưng hắn thậm chí còn đi xa hơn thế. Hắn đã sơn lại các bức tường. - Tại sao? - Boris hỏi. - Vì hắn rất ngu. Rõ ràng là thế. Sau khi đã để lại cả đống rác rưởi lẫn dấu vết và xả tuột mọi thứ xuống cống, hắn đã kiếm cho mình đủ án chung thân. Vậy thì, việc quái gì phải đi sơn lại căn phòng đó? Goran cũng thấy động cơ của hành động đó không rõ ràng. - Vậy anh sẽ làm gì tiếp? - Tôi sẽ bóc đi lớp sơn để xem có gì bên dưới. Việc này cần nhiều thời gian, nhưng với các công nghệ mới tôi có thể thu thập mọi vết máu mà tên đần kia đã phi tang một cách tầm thường đến thế.
Goran cảm thấy chưa được thuyết phục. - Hiện tại chúng ta chỉ mới có một vụ giam giữ người bất hợp pháp và che giấu thi thể. Hắn sẽ bị kết án chung thân, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta đã lập lại công lý. Để làm sáng tỏ sự thật và buộc hắn nhận tội giết người, chúng ta cần chỗ máu đó. - Ông sẽ có, thưa giáo sư. Cho đến lúc này, họ vẫn chỉ có được một mô tả rất vắn tắt về đối tượng tìm kiếm. Họ kết hợp chúng với các thông tin mà Krepp thu thập được. - Tôi có thể nói đây là một gã đàn ông tuổi từ bốn mươi đến năm mươi. - Sarah Rosa khơi mào. - Vóc người vạm vỡ, cao khoảng một mét sáu tám. - Các dấu giày trên thảm có cỡ bốn mươi ba, nên tôi nghĩ mô tả tương đối trùng khớp. - Nghiện thuốc. - Hắn hút thuốc rê. - Giống tôi. - Boris nói. - Rất vui khi được có một điểm chung nào đó với một gã như hắn. - Có thể nói hắn yêu chó. - Krepp chốt lại. - Chỉ vì hắn để cho con chó sống sót thôi à? - Mila hỏi. - Không phải thế. Chúng tôi đã tìm thấy nhiều loại lông chó lai. - Nhưng làm sao có thể khẳng định hắn là người đem lông chó vào nhà? - Lông chó nằm trong chỗ bùn của các vết giày trên thảm. Đương nhiên trong đó có cả các vật liệu xây dựng, xi măng, mát tít, dung môi - thứ
trở thành keo dán cho tất cả những thứ khác. Và dĩ nhiên cho cả những thứ hắn mang từ nhà mình đến. Krepp nhìn Mila theo kiểu một người bỗng dưng đụng phải thách thức nhưng đã vượt qua một cách khéo léo. Sau phút giây đắc thắng đó, ông quay mắt đi và thoắt biến trở lại thành chuyên gia lạnh lùng như mọi người vẫn biết. - Và còn một điều này nữa, nhưng tôi vẫn chưa rõ liệu nó có ý nghĩa gì không... - Nói luôn đi. - Goran ra lệnh, biết tỏng Krepp thích được người khác nài nỉ. - Trong chỗ bùn của các dấu giày, có một lượng vi khuẩn lớn. Tôi đã tham khảo ý kiến một nhà hóa học đáng tin cậy... - Tại sao là hóa học mà không phải vi sinh vật học? - Bởi vì tôi nghĩ chúng là những vi sinh vật “ăn rác” tồn tại trong thiên nhiên nhưng được sử dụng cho các chức năng khác nhau, chẳng hạn như tiêu hủy nhựa, hoặc các dẫn chất của dầu mỏ. Thực ra không phải chúng “ăn” thực sự, mà chỉ sản xuất ra một loại men. Người ta dùng men đó để xử lý các bãi rác cũ... Nghe đến đây, Goran thấy Mila và Boris quay sang nhìn nhau. - Bãi rác cũ? Khốn nạn... Chúng tôi biết gã này!
24 Feldher đang đợi họ. Gã ký sinh cố thủ trong sào huyệt của mình trên đỉnh ngọn đồi rác. Bên cạnh hắn là các vũ khí đủ loại mà hắn đã thu thập từ hàng tháng trời để chuẩn bị cho màn thanh toán này. Thực ra thì hắn chẳng nhọc công trốn tránh. Hắn biết sớm hay muộn sẽ có người đến sờ gáy mình. Mila đến cùng những người khác và một đơn vị đặc nhiệm đang vào vị trí quanh nhà của Feldher. Từ trên cao, trong hang ổ của mình, Feldher có thể kiểm soát con đường dẫn vào bãi phế liệu. Ngoài ra, hắn đã phát quang cây cối để có tầm nhìn tốt hơn. Nhưng hắn không khai hỏa ngay mà đợi cho mọi người vào chỗ mới bắt đầu bắn tỉa. Đầu tiên hắn nhắm vào con chó Koch của mình. Con chó với bộ lông màu gỉ sắt đang chạy lăng quăng giữa đống sắt phế liệu. Hắn hạ gục nó bằng một phát súng vào đầu. Hắn muốn chứng tỏ cho bọn người ngoài kia thấy hắn không đùa. Nhưng cũng có lẽ hắn muốn tránh cho con vật một kết cục tồi tệ hơn, Mila thầm nghĩ. Núp sau một trong những chiếc xe bọc thép, cô quan sát sự việc. Đã bao nhiêu thời gian trôi qua từ sau lần cô cùng Boris đến căn nhà kia để hỏi hắn về cô nhi viện ngày xưa hắn từng ở? Hóa ra hắn che giấu một bí mật còn khủng khiếp hơn bí mật của Ronald Dermis. Hắn đã nói dối nhiều thứ.
Khi Boris hỏi hắn có từng bị đi tù, hắn đáp có. Nhưng không phải vậy. Bằng chứng là họ không tìm thấy dấu vân tay hắn để lại ở nhà bà Yvonne trong hồ sơ cảnh sát. Tuy nhiên những lời nói dối được Feldher dùng để bảo đảm Mila và Boris không kiếm tra thông tin của mình. Boris đã không nhận ra vì theo lẽ thường, chẳng ai đi nói sai sự thật chỉ để làm xấu hình ảnh của mình. Nhưng đó lại chính là điều Feldher đã làm. Hắn rất tinh ranh, Mila thầm nghĩ. Hắn đã thăm dò tình hình và xỏ mũi hai người, chắc ăn họ không có manh mối nào để liên hệ hắn với ngôi nhà của bà Yvonne. Nếu hắn nghi ngờ điều ngược lại, chắc họ đã không sống sót mà rời khỏi nhà hắn được. Sau đó, Mila lại bị lừa thêm một lần thứ hai với sự hiện diện của Feldher hôm hạ huyệt Ronald. Cô cứ tưởng đó chỉ là một hành động thương hại, nhưng thật ra Feldher đến để kiểm tra tình hình. - Bọn con hoang kia, đến đây kiếm tao đi nào! Một loạt đạn liên thanh rạch toang không khí, vài viên trúng vào chiếc xe bọc thép kêu lịch bịch, những viên còn lại đập vào đống sắt phế liệu với những tiếng chát chúa. - Mẹ kiếp! Chúng mày không bắt sống tao được đâu! Không ai đáp lại lời hắn, không ai tìm cách thỏa thuận với hắn. Mila nhìn quanh: không có người thương thuyết cầm loa để thuyết phục Feldher hạ vũ khí. Hắn đã tự tay ký vào bản án tử cho mình. Chẳng ai bận tâm đến chuyện cứu mạng hắn. Họ chỉ đợi hắn sai sót để gạch tên hắn khỏi cõi đời này. Hai xạ thủ đã vào chỗ, sẵn sàng khai hỏa ngay khi Feldher ló đầu ra thêm. Lúc này thì họ để mặc cho hắn hả hê. Như vậy hắn càng có cơ phạm sai lầm. - Mụ ta là của tao, đồ khốn chúng bay! Tao đã cho nó thứ nó muốn!
Hắn đang khiêu khích họ. Căn cứ vào sự căng thẳng trên những gương mặt đang quan sát hắn, nước cờ của hắn khá thành công. - Cần phải bắt sống hắn. - Goran nói. - Đó là cách duy nhất để ta tìm được mối liên hệ giữa hắn và Albert. - Tôi không tin là đội đặc nhiệm đồng tình với chúng ta, thưa giáo sư. - Stern nói. - Vậy thì ta phải nói chuyện với Roche. Ông ta phải ra lệnh đưa người thương thuyết đến. - Feldher sẽ không để bị bắt đâu. Hắn đã dự tính trước mọi thứ, kể cả kết cục cuối cùng. - Sarah Rosa lưu ý ông. - Hắn sẽ làm một cú bất ngờ để ra đi trong ngạo nghễ. Cô nói không sai. Các kỹ thuật viên cháy nổ đi cùng họ đã xác định được một số thay đổi trên nền đất chung quanh ngôi nhà. - Mìn sát thương. - Một trong số họ nói với Roche khi ông đến nơi. - Với tất cả những thứ thối tha nằm bên dưới, đó sẽ là tận thế. Họ đã tham khảo ý kiến của một nhà địa chất học. Ông ta khẳng định rằng, ngọn đồi rác có thể che giấu nhiều túi khí mêtan bên dưới do quá trình phân hủy rác thải tạo nên. - Các anh cần phải lùi ra xa ngay. Chỉ cần một đám cháy thôi là thảm họa sẽ xảy ra. Goran nhấn mạnh với ông chánh thanh tra rằng chí ít họ cũng phải thử thương lượng với Feldher. Rốt cuộc Roche đồng ý cho họ ba mươi phút. Nhà tội phạm học đã định dùng điện thoại gọi cho hắn, nhưng Mila nhớ ra đường dây đã bị cắt do chậm trả tiền cước. Khi cô và Boris tìm cách điện thoại liên hệ với Feldher lúc trước, cô chỉ nghe thấy tiếng trả lời tự động. Phải mất bảy phút để công ty viễn thông mở lại đường dây. Họ chỉ
còn hai mươi ba phút để thuyết phục hắn nộp mình. Nhưng khi điện thoại trong nhà reo, Feldher đáp trả bằng một loạt đạn nhằm vào các cảnh sát. Goran không bỏ cuộc. Ông lấy một cái loa phóng thanh và đến nấp sau chiếc xe bọc thép gần ngôi nhà nhất. - Feldher, tôi là Goran Gavila! - Cút mẹ mày đi! - Hắn đáp trả trước khi bắn một loạt đạn. - Anh nghe tôi nói này: tôi chẳng coi anh là cái thá gì, cũng giống như những người đi cùng tôi! Mila nhận ra Goran không muốn lừa Feldher, vì chuyện đó chẳng để làm gì. Gã đàn ông này đã tự quyết định số mạng của mình, nên ông giáo sư chơi bài ngửa luôn. - Thằng con hoang, tao không thèm nghe mày nói đâu! Một phát đạn trúng vào chỗ cách ông giáo sư vài centimet. Mặc dù được bảo vệ an toàn, ông vẫn bị bất ngờ. - Nhưng anh phải nghe tôi nói, vì như thế chỉ có lợi cho anh mà thôi! Đã đến nước này thì ông còn có thể đưa ra đề nghị nào nữa đây? Mila chưa thông được nước đi của Goran. - Chúng tôi cần anh, Feldher, vì có thể anh biết kẻ đang bắt cóc bé gái thứ sáu. Chúng tôi gọi hắn là Albert, nhưng tôi tin chắc anh biết tên thật của gã. - Tao không biết cái cóc khô gì hết! - Ngược lại, anh đang quan tâm đến nó, vì thông tin này rất đáng giá trong thời điểm hiện tại! Khoản tiền thưởng.
Hóa ra đây là chiến thuật của Goran! Mười triệu được quỹ Rockford tặng cho bất kỳ ai cung cấp được thông tin hữu ích để cứu bé gái số sáu. Người ta có thể tự hỏi liệu một kẻ đã chắc suất đi tù chung thân có thể được lợi lộc gì từ món tiền đó. Nhưng Mila đã hiểu. Nhà tội phạm học muốn gieo vào đầu Feldher ý tưởng rằng hắn có thể ra đi cùng với khoản tiền, rằng hắn có thể “đánh lừa” cả một hệ thống đã bạc đãi cuộc đời hắn và biến hắn thành người như bây giờ. Một thằng khốn nạn, một kẻ thất bại. Cùng với món tiền, hắn sẽ có thể thuê cho mình một luật sư giỏi, người có thể vin vào lý do khuyết tật trí năng để làm giảm nhẹ tội cho hắn, một trò vốn chỉ dành cho những can phạm có tiền, vì rất khó để theo đuổi và chứng minh nó nếu không có đủ năng lực tài chính. Feldher có thể hy vọng được giảm án xuống còn hai mươi năm giam giữ, không phải trong tù, mà là trong bệnh viện dành cho tội phạm tâm thần. Sau đó, một khi đã mãn hạn, hắn có thể tận hưởng