Kẻ Nhắc Tuồng

phần cuộc sống của Goran mà cô chưa được biết.

phần cuộc sống của Goran mà cô chưa được biết.

phần cuộc sống của Goran mà cô chưa được biết. Một lát sau, nhà tội phạm học đến chỗ Mila, mỉm cười tuyên bố:

- Nó ngủ rồi. - Em không muốn làm phiền ông. Nhưng chuyện này quan trọng lắm. - Em đã xin lỗi rồi mà. Nào, em hãy nói cho tôi biết chuyện gì đã xảy ra... Ông ngồi xuống một chiếc trường kỷ rồi bảo cô ngồi cạnh mình. Ngọn lửa lò sưởi tạo nên những hình bóng nhảy múa trên tường. - Chuyện đó lại diễn ra: người ta theo dõi em. Nhà tội phạm học nhíu mày. - Em chắc chứ? - Lần trước thì không, lần này thì có. Cô thuật lại sự việc cho ông nghe không sót chi tiết nào. Chiếc xe tắt đèn, ánh trăng phản chiếu trên nóc xe, việc kẻ bám đuôi cố quay đầu bỏ đi sau khi bị phát hiện. - Tại sao ai đó lại có lý do để theo dõi em? Ông đã đặt câu hỏi đó với cô lúc ở nhà hàng, khi cô kể lại cảm giác bị theo dõi ở nhà nghỉ. Lần này câu hỏi được ông dành cho chính mình thì đúng hơn. - Tôi không tài nào tìm được một lý do xác đáng. - Ông kết luận sau một thoáng suy nghĩ. - Em nghĩ hoàn toàn không cần thiết phải cắt cử một người bảo vệ em để bắt quả tang kẻ theo dõi. - Giờ thì chắc hắn biết em đã để ý hắn, nên hắn sẽ không làm chuyện đó nữa đâu. Mila gật đầu.

- Nhưng em đến đây không phải chỉ vì chuyện đó. Goran lại nhìn vào Mila: - Em đã phát hiện được chuyện gì à? - Đúng hơn thì em đã hiểu ra một chuyện. Một trong những trò ảo thuật của Albert. - Cái nào? - Cách gã đã làm để bắt cóc cô bé gái trên vòng quay ngựa gỗ mà không ai hay biết. Đôi mắt Goran sáng lên: - Nói tiếp đi, tôi đang muốn nghe đây… - Chúng ta luôn cho rằng Albert là kẻ bắt cóc. Tức là một người đàn ông. Nhưng nếu như ngược lại, đó là một phụ nữ? - Tại sao em nghĩ như thế? - Thật ra, chính mẹ Sabine đã khiến em tin vào giả thiết này. Dù em không hỏi, bà ta đã nói rằng nếu như có một người đàn ông lạ mặt trên vòng quay ngựa gỗ, tức không phải một ông bố, thì bà ta đã nhận ra ngay. Bà ta cũng nói thêm là một người mẹ luôn có giác quan thứ sáu trước những chuyện như thế. Em tin bà ta. - Tại sao? - Bởi vì cảnh sát đã xem hàng trăm bức ảnh được chụp tối hôm đó từ những tay máy nghiệp dư, nhưng không ai thấy một người đàn ông nào tình nghi. Từ đó chúng ta đã suy ra rằng gã Albert có một diện mạo rất tầm thường... Còn em thì cho rằng một phụ nữ có thể dễ dàng hơn trong việc bắt cóc cô bé. - Vậy là theo em, gã có một kẻ đồng lõa... - Ông có vẻ thích giả thiết của Mila. - Nhưng chúng ta không có bất kỳ manh mối nào để chứng minh

điều đó. - Em biết. Đó là vấn đề lớn. Goran đứng dậy và bắt đầu rảo bước trong phòng. Ông vuốt râu suy nghĩ. - Đây không phải là lần đầu. Điều này từng xảy ra trong quá khứ. Chẳng hạn như vụ Fred và Rosemary West ở Gloucester. Nhà tội phạm học kể nhanh vụ một cặp đôi sát thủ hàng loạt. Đối tượng nam là thợ nề, đối tượng nữ nội trợ. Mười đứa con. Cùng nhau, chúng đã dụ dỗ và giết hại các bé gái vô tội, sau khi ép các nạn nhân tham gia vào các trò tình dục bệnh hoạn. Chúng đã chôn xác các cô bé trong sân sau ngôi nhà số 25 phố Cromwell, Gloucester. Người ta thậm chí đã tìm thấy xác đứa con gái ruột mười sáu tuổi của cặp tội phạm, con bé có thể đã táo gan chống đối chúng. Hai nạn nhân khác đã được tìm thấy ở những nơi có thể liên hệ tới Fred. Mười hai thi thể cả thảy. Nhưng cảnh sát đã phải ngừng đào bới vì sợ cả ngôi nhà nhỏ sẽ sụp đổ. Theo ví dụ đó, Gavila cho rằng giả thiết của Mila về kẻ đồng lõa của Albert không phải là không có cơ sở. - Biết đâu người phụ nữ đó đang chăm sóc cho nạn nhân số sáu. Goran có vẻ rất thích thú, nhưng ông không muốn để sự nhiệt tình cuốn mình đi. - Em đừng hiểu nhầm tôi nhé. Linh cảm của em rất tuyệt vời, nhưng ta cần phải kiểm chứng cái đã. - Ông sẽ nói với những người khác chứ? - Tôi sẽ suy nghĩ. Trong lúc đó, tôi sẽ yêu cầu một người trong nhóm chúng ta xem lại các bức ảnh và đoạn phim được thực hiện tại hội chợ. - Em có thể phụ trách việc này.

- Đồng ý. - Còn một việc nữa... Là em tò mò thôi. Em đã thử tự mình tìm câu trả lời nhưng không được. - Chuyện gì thế? - Trong quá trình phân hủy, mắt của tử thi có chịu một sự biến đổi, phải không ạ? - Thường thì mống mắt nhạt đi dần dần... Goran nhìn Mila đăm đăm. Ông không hiểu cô muốn đi đến đâu. - Tại sao em lại hỏi chuyện này? Mila rút từ trong túi ra bức ảnh của Sabine mà mẹ cô bé đã đưa cho cô vào cuối chuyến thăm viếng của cô. Tấm ảnh mà cô đã đặt trên ghế ngồi bên cạnh mình trong suốt chặng lái xe về. Tấm ảnh mà cô đã nhìn rất kỹ sau màn đuổi bắt nghẹt thở, và đã gieo mối nghi ngờ vào lòng cô. Có điều gì đó không ổn. Goran cầm lấy tấm ảnh quan sát. - Thi thể bé gái tìm thấy trong nhà Kobashi có đôi mắt màu xanh. - Mila nhắc ông. - Còn mắt của Sabine lại có màu nâu. Ngồi trong taxi, Goran không nói một lời suốt chuyến đi. Sau khi cho ông biết khám phá của mình, Mila đã thấy tâm trạng của ông đột ngột thay đổi. Và ông đã nói một điều khiến cô chấn động. - Có những người ta tưởng đã hiểu cặn kẽ, nhưng thật ra chẳng biết gì về bọn họ... Ông ta đã biến chúng ta thành lũ ngốc. Lúc đầu, cô tưởng ông muốn nói tới Albert, nhưng không phải.

Ông đã nhanh chóng gọi điện cho các thành viên trong đội điều tra và bà vú nuôi của Tommy. Sau đó, ông nói với cô một câu ngắn gọn: - Ta đi thôi. - Còn con trai ông? - Bà Runa sẽ có mặt sau hai mươi phút nữa, dù sao thì thằng bé cũng đã ngủ. Họ đã gọi một chiếc taxi. Trụ sở cảnh sát liên bang vẫn còn sáng đèn vào thời điểm khuya khoắt ấy. Trong tòa nhà, các cảnh sát viên đang nhộn nhịp thay ca. Gần như tất cả đều đang bận rộn với vụ án. Từ nhiều ngày nay, họ đã tiến hành khám xét nhà các nghi phạm hoặc những địa điểm được mách nước qua điện thoại bởi những người dân nhiệt tình muốn giúp đỡ cuộc tìm kiếm bé gái số sáu. Sau khi thanh toán tiền taxi, Goran tiến đến cửa trụ sở, không buồn đợi Mila đang nhọc nhằn đuổi theo. Tại ban khoa học hành vi, họ thấy Rosa, Boris và Stern đang đứng đợi. - Có chuyện gì vậy? - Stern hỏi. - Cần phải làm rõ tình hình. - Goran đáp. - Chúng ta cần phải gặp Roche. Ông tìm thấy ngài chánh thanh tra giữa cuộc họp của các sếp cảnh sát liên bang. Cuộc họp đã diễn ra nhiều giờ đồng hồ, với chủ đề chính là vụ Albert. - Chúng ta cần nói chuyện. Roche đứng lên khỏi ghế: - Thưa quý vị, tất cả đều đã biết giáo sư Gavila, người đã hợp tác với bộ phận của tôi từ nhiều năm qua... Goran thì thầm vào tai ông thanh tra:

- Ngay bây giờ. Nụ cười nhã nhặn vụt tắt trên gương mặt của Roche. - Mong mọi người thứ lỗi, vừa có tin mới nên tôi phải đi. Trong khi thu xếp giấy tờ, Roche cảm thấy mọi ánh nhìn đang đổ dồn vào mình. Goran lùi về sau đứng đợi ông, trong khi các thành viên khác chờ ngoài cửa phòng. - Tôi hy vọng chuyện này thực sự quan trọng. - Ngài chánh thanh tra nói sau khi lẳng tập hồ sơ lên bàn làm việc của mình. Goran đợi cho tất cả mọi người vào trong phòng xong xuôi rồi mới khép cửa lại và đối mặt với Roche. - Xác chết tìm thấy trong phòng khách nhà Kobashi không phải là của nạn nhân số ba. Giọng điệu đanh thép của ông không cho phép người khác phủ nhận. Ngài chánh thanh tra ngồi xuống, hai tay chắp lại trên bàn. - Ông nói tiếp đi. - Đó không phải là Sabine. Mà là Melissa. Mila nhớ đến bé gái số bốn. Cô bé nhiều tuổi nhất trong số các nạn nhân, nhưng cơ thể còn chưa dậy thì có lẽ đã gây ra sự nhầm lẫn. Và cô bé có đôi mắt xanh. - Nói tiếp đi, tôi đang nghe đây... - Thanh tra Roche lặp lại. - Điều này có thể nói lên hai việc. Hoặc là Albert đã thay đổi phương thức hành động của gã, bởi vì cho đến lúc này gã vẫn giao cho chúng ta thi thể của các bé gái theo thứ tự bắt cóc. Hoặc là Chang đã nhầm lẫn trong khi phân tích ADN.

- Tôi tin cả hai giả thiết đều có thể xảy ra. - Roche tự tin khẳng định. - Còn tôi thì ngược lại. Tôi tin là giả thiết đầu gần như không thể xảy ra... Còn về cái thứ hai, tôi thực sự nghĩ ông đã ra lệnh tráo kết quả trước khi đưa nó cho Mila! Thanh tra Roche tím mặt. - Nghe này, giáo sư, ông tưởng tôi sẽ ngồi yên cho ông buộc tội đấy à? - Xác của bé gái thứ ba đã được tìm thấy ở đâu? - Cái gì? - Ngài chánh thanh tra cố làm ra vẻ ngạc nhiên. - Rõ ràng là ông đã tìm thấy, nếu không thì Albert đã không trưng ra cái xác thứ tư. - Cái xác nằm ở nhà Kobashi từ hơn một tuần nay! Chúng ta lẽ ra phải tìm thấy nạn nhân số ba trước, như ông nói. Hoặc đơn giản là, chúng ta đã tìm thấy số bốn trước, rồi sau đó Chang đã nhầm lẫn, tôi thì biết gì? Nhà tội phạm học nhìn thẳng vào mắt thanh tra Roche. - Chính đó là lý do khiến ông cho chúng tôi xả trại hai mươi bốn giờ sau vụ việc ở cô nhi viện. Để chúng tôi không quẩn chân ông. - Goran, tôi đã nghe đủ những cáo buộc nực cười đó rồi đấy! Ông không có gì để chứng minh cho những gì ông vừa nói! - Đây là vì vụ Wilson Pickett, có phải không? - Những gì xảy ra hồi đó không dính gì với vụ này, tôi cam đoan với ông. - Không, thực tế là ông không còn tin tôi nữa. Và có lẽ ông đã không hoàn toàn sai... Nhưng nếu ông nghĩ cuộc điều tra này đang tuột khỏi tay tôi, thì tôi muốn ông nói thẳng với tôi và miễn cho tôi các trò chính trị kia.

Cứ nói đi, và chúng tôi sẽ lùi lại, nhận lãnh trách nhiệm của mình mà không làm phiền đến ông. Thanh tra Roche không đáp ngay. Ông ta chắp hai bàn tay dưới cằm và ngả người tới lui trên ghế bành. Sau đó ông ta mở lời: - Thành thực mà nói, tôi không hiểu... - Thôi nào, ông nói cho ông ấy đi. - Stern cắt ngang và nhận lấy ánh mắt phóng lửa của thanh tra. - Anh cứ ở yên chỗ của anh! Goran quay lại nhìn Stern, rồi Boris và Rosa. Ông nhận ra tất cả mọi người đều đã biết vụ việc ngoại trừ ông và Mila. Ra đây là lý do Boris tỏ ra lảng tránh khi mình hỏi anh ta đã làm gì vào ngày xả trại, Mila nghĩ bụng. Cô cũng nhớ giọng điệu có phần đe dọa mà anh chàng đã dùng để nói với thanh tra Roche trước cửa nhà bà Yvonne Gress, khi ông ta từ chối cho anh vào trong nhà trước đội đặc nhiệm. Đó ngầm hiểu là một lời đe dọa tố giác. - Phải đấy, thanh tra. Ông hãy nói tất cả và chúng ta kết thúc luôn chuyện này. - Sarah Rosa hối thúc, bênh vực cho Stern. - Ông không thể gạt bỏ ông ấy, như thế là không công bằng. - Boris nói thêm, hất đầu chỉ nhà tội phạm học. Cả ba thành viên trong nhóm điều tra đều có vẻ hối lỗi vì đã cho Goran ra rìa, và cảm thấy có tội vì đã tuân theo một mệnh lệnh mà họ cho là bất công. Thanh tra Roche đợi thêm vài giây nữa, rồi lần lượt nhìn Goran và Mila. - Thôi được rồi... Nhưng nếu để rò rỉ chuyện này, hai người chết với tôi.

29 Mặt trời rón rén mọc lên trên những cánh đồng. Ánh sáng chỉ vừa đủ để làm hiện lên đường nét của nhiều quả đồi tiếp nối nhau như những con sóng đất khổng lồ. Màu xanh ngắt của thảm cỏ lộ ra dưới lớp tuyết nổi trên nền trời xám. Một dải đường nhựa len lỏi qua các thung lũng, vặn mình theo những chuyển động của quang cảnh. Tì trán vào kính cửa sau xe hơi, Mila bình tĩnh lạ lùng, có lẽ là do mệt mỏi, hay cũng có thể là do cam chịu. Bất luận chuyện gì được cô khám phá ở cuối chuyến đi ngắn này cũng sẽ không làm cô ngạc nhiên nữa. Roche đã không tiết lộ gì nhiều. Sau khi lệnh cho cô và Goran giữ bí mật, ông ta đã giam mình trong văn phòng cùng với nhà tội phạm học để nói chuyện tay đôi với nhau. Cô ở lại ngoài hành lang, trong khi Boris giải thích những lý do khiến ngài chánh thanh tra không tin tưởng họ. - Ông ấy là dân thường, còn cô... Cô đến đây như một người cố vấn, nên... Không có gì nhiều để nói thêm. Dù cho bí mật mà Roche muốn giấu kín có là gì thì tình hình vẫn phải nằm trong kiểm soát. Như vậy mấu chốt là phải tránh mọi sự rò rỉ. Biện pháp duy nhất là tiết lộ nó cho những người trực tiếp bị ông ta quản lý và do vậy có thể bị dọa dẫm. Ngoài chuyện đó ra, Mila không biết gì hơn. Mà cô cũng không đặt câu hỏi nào. Hai giờ sau, cánh cửa văn phòng của Roche bật mở. Ngài chánh thanh tra lệnh cho Boris, Stern và Rosa đưa giáo sư Gavila đến hiện trường thứ

ba. Dù không nhắc đến tên Mila, nhưng ông ta vẫn chấp thuận để cô đi cùng. Họ đã rời khỏi tòa nhà và đến một nhà để xe cách đó không xa. Mọi người lấy hai chiếc xe hòm bình thường để tránh bị theo dõi bởi đám nhà báo đang túc trực trước trụ sở. Mila lên một chiếc xe cùng với Stern và Gavila, cố tình không đi chung xe với Sarah Rosa. Sau khi cô ta rắp tâm phá hỏng mối quan hệ của cô với Goran, Mila cảm thấy mình không thể chịu nổi người đàn bà này và sợ rằng sớm muộn gì cô cũng sẽ tính sổ với cô ta. Họ đã chạy xe được một lúc và Mila đã cố ngủ chút ít. Khi cô thức dậy thì họ sắp sửa đến đích. Con đường khá vắng vẻ. Mila trông thấy ba chiếc xe hơi sẫm màu đậu bên vệ đường, trên mỗi chiếc xe có hai người ngồi. Lính canh, cô nghĩ thầm, để ngăn chặn những kẻ tọc mạch nếu có. Họ đi dọc theo một bờ tường cao bằng gạch đỏ khoảng một cây số nữa và đến một cánh cổng sắt. Con đường chấm dứt ở đó. Không có chuông, cũng chẳng có điện thoại nội bộ. Trên một cây cột có một camera an ninh đang chiếu con mắt điện tử của nó vào họ khi hai chiếc xe dừng lại. Một phút sau, cánh cổng tự động mở ra. Con đường tiếp tục rồi biến mất sau một mô đất. Không thể thấy gì phía sau giới hạn đó ngoài một thảm cỏ trải dài. Mười phút trôi qua trước khi họ trông thấy một tòa nhà cổ kính. Nó xuất hiện trước mắt họ như thể vừa từ dưới đất chui lên. Ngôi nhà rất đồ sộ và có kiến trúc khô khan. Kiểu dáng của nó giống như những tòa dinh thự đầu thế kỷ XX, vốn được xây dựng bởi những tay trùm sắt thép hay dầu mỏ để khoe của.

Mila nhận ra tấm gia huy bằng đá trấn ngay mặt tiền. Một chữ R to tướng được khắc trên đó. Đây là nơi ở của Joseph B. Rockford, ngài chủ tịch của quỹ cùng tên, nguồn gốc của giải thưởng mười triệu cho bất cứ ai tìm ra bé gái số sáu. Họ vượt qua ngôi nhà và dừng xe gần mấy chuồng ngựa. Để đến được hiện trường thứ ba, nằm ở ranh giới phía tây của khuôn viên rộng nhiều mẫu đất, nhóm điều tra phải sử dụng những chiếc xe hơi chạy điện tương tự như xe cho người chơi golf. Mila trèo vào chiếc xe do Stern lái. Anh bắt đầu tóm lược cho cô nghe về Joseph B. Rockford, xuất thân và khối tài sản khổng lồ của ông ta. Gia tộc được hình thành từ một thế kỷ trước cùng với Joseph B. Rockford đệ nhất, người ông nội. Theo như lời kể, ông ta là con trai độc nhất của một thợ cắt tóc nhập cư. Không quan tâm đến cây kéo và con dao cạo, ông ta đã bán cửa tiệm của bố mình để làm ăn. Trong khi mọi người thời đó đều đầu tư vào ngành công nghiệp khai thác dầu mỏ non trẻ thì Rockford đệ nhất đã may mắn sử dụng khoản tiền tiết kiệm của mình để lập nên một doanh nghiệp đào giếng. Xuất phát từ ý tưởng cho rằng dầu mỏ thường nằm ở những mảnh đất cằn cỗi, Rockford đi đến kết luận là những kẻ dành cả đời để làm giàu từ lòng đất sẽ nhanh chóng thiếu thốn một khoản thiết yếu: nước. Khai thác từ những chiếc giếng khoan cạnh những mỏ dầu khổng lồ, thứ nước quý giá ấy được bán với giá cao gấp đôi giá dầu. Joseph B. Rockford đệ nhất trở thành tỉ phú trước khi chết. Ông qua đời trước khi tròn năm mươi tuổi do căn bệnh ung thư dạ dày dạng bộc phát hiếm gặp. Joseph B. Rockford đệ nhị đã thừa hưởng từ bố mình một di sản khổng lồ. Ông này đã nhân đôi nó bằng cách đầu cơ vào tất cả những gì trong tầm tay: từ cây gai dầu cho đến bất động sản, từ việc nuôi bò cho đến ngành công nghiệp điện. Để tưởng thưởng cho sự giàu lên của mình, ông này đã cưới một cô hoa hậu nhí và cô vợ này đã sinh cho ông ta hai đứa con. Tuy nhiên, ít lâu trước khi vượt qua ngưỡng năm mươi tuổi, ông có

những dấu hiệu đầu tiên của bệnh ung thư dạ dày và mất không đầy hai tháng sau đó. Người con trai cả của ông, Joseph B. Rockford đệ tam, đã nối bước cha mình lên nắm quyền một đế chế khổng lồ ở độ tuổi rất trẻ. Mệnh lệnh đầu tiên và cũng là duy nhất của anh ta là cắt bỏ con số thứ tự đầy phiền toái khỏi tên mình. Không có bất kỳ tham vọng kinh tế nào, và có thể sẵn sàng vung tay quá trán, Joseph B. Rockford sống một cuộc đời không mục đích. Quỹ gia tộc trùng tên là ý tưởng của người em gái, Lara. Nó cung cấp thức ăn, mái nhà, sự chăm sóc y tế và giáo dục cho các trẻ em không được may mắn như hai anh em nhà họ. Lara đã hiến luôn một nửa di sản gia đình cho quỹ này. Mặc cho sự hào phóng đó, theo tính toán của các nhà tư vấn, gia đình Rockford vẫn còn có thể sống thoải mái trong ít nhất một thế kỷ nữa. Lara Rockford đã ba mươi bảy tuổi, năm năm về trước chị ta đã sống sót một cách thần kỳ sau một tai nạn xe hơi. Joseph năm nay bốn mươi chín. Căn bệnh ung thư dạ dày di truyền vốn đã cướp đi sinh mạng của ông nội và bố anh ta vừa mới xuất hiện trên cơ thể anh ta mười một tháng trước. Từ ba mươi tư ngày nay, Joseph B. Rockford rơi vào hôn mê và ở trong ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Mila chăm chú lắng nghe lời kể của Stern trong khi chiếc xe hơi chạy điện nhấp nhổm trên những mô đất gồ ghề. Họ đang đi trên một lối mòn đã được thành hình một cách tự phát trong vòng hai ngày vừa qua, sau những chuyến đi tới lui của nhiều phương tiện đi lại giống như thứ họ đang sử dụng. Khoảng nửa tiếng sau, họ đã đến rìa của hiện trường thứ ba. Từ xa, Mila đã trông thấy những bộ áo liền quần màu trắng thường thấy ở mọi hiện trường vụ án. Ngay cả trước khi tận mắt chứng kiến cảnh tượng mà Albert đã bày sẵn cho họ, Mila đã thấy chấn động vì hình ảnh trước mắt. Số lượng của các kỹ thuật viên đang làm việc lên đến hơn một trăm.

Cơn mưa tỉ tê rơi không ngừng. Trong lúc tìm đường len qua những công nhân đang xúc nhiều khối đất lớn, Mila cảm thấy nôn nao khó chịu. Khi chỗ xương lần lượt được phát hiện, có người đã phân loại và bỏ chúng vào trong những cái túi nhựa trong có dán nhãn, trước khi xếp vào những chiếc hộp chuyên dụng. Trong một chiếc hộp, Mila đếm được ít nhất ba chục cái xương đùi. Còn trong một hộp khác, cô nhìn thấy toàn xương chậu. Stern quay sang nói với Goran: - Cô bé đã được tìm thấy ở khu này đây... Anh chỉ một khu vực được căng các tấm ni lông che mưa gió. Trên mặt đất, đường nét của một thi thể được vẽ lại bằng latex. Cánh tay trái bị thiếu. Sabine. - Nạn nhân nằm trên cỏ, trong tình trạng phân hủy nặng. Cô bé đã nằm đó quá lâu, bọn thú hoang đã đánh hơi thấy thi thể. - Ai đã tìm ra cái xác? - Một trong những người gác rừng của khu vực này. - Các anh đã lập tức cho đào bới à? - Đầu tiên chúng tôi đưa chó nghiệp vụ đến, nhưng chúng không đánh hơi được gì. Sau đó chúng tôi quan sát bằng trực thăng để xem liệu mặt đất có những chỗ gồ ghề bất thường không. Chúng tôi đã nhận thấy là xung quanh chỗ tìm thấy thi thể, hệ thực vật có vẻ khác biệt. Chúng tôi liền đưa các tấm ảnh chụp cho một nhà thực vật học kiểm tra, và ông ta khẳng định sự biến đổi đó có thể là do thứ gì đấy được chôn bên dưới.

Mila từng nghe nói đến điều này: các kỹ thuật tương tự đã được sử dụng ở Bosnia để tìm ra các hố chôn tập thể sau thảm kịch diệt chủng. Các thi thể nằm trong đất gây ra nhiều tác động lên hệ thực vật bên trên, do đất được tiếp nhận nhiều dưỡng chất từ quá trình phân hủy xác. Goran nhìn quanh. - Có cả thảy bao nhiêu? - Ba mươi, bốn mươi, chúng tôi chưa thể khẳng định được... - Họ đã ở đó được bao lâu? - Chúng tôi đã tìm được những cái xương rất cũ, những cái khác có vẻ mới hơn. - Chúng là của ai? - Đàn ông. Đa

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 46

Đang tải bình luận...