Kẻ Nhắc Tuồng

phần còn lại của điếu thuốc vào chiếc gạt tàn bằng

phần còn lại của điếu thuốc vào chiếc gạt tàn bằng

phần còn lại của điếu thuốc vào chiếc gạt tàn bằng bạch ngọc, rồi lấy một điếu khác từ trong chiếc bao da đặt trên đầu gối, cùng một chiếc bật lửa bằng vàng. Khi châm lửa, những ngón tay của cô ta hơi run nhẹ. - Cô chính là người đã treo giải thưởng mười triệu để tìm ra cô bé số sáu. - Goran nói.

- Đó là việc nhỏ nhặt nhất mà tôi có thể làm. Lara đang thách thức họ dựa trên sự thật. Có lẽ cô ta muốn gây sốc, hoặc cũng có thể đó chỉ là do sự phá bỏ lề thói khác thường, trái hẳn với sự hà khắc của ngôi nhà mà cô ta đang náu mình. Goran quyết định chấp nhận lời thách thức. - Cô biết chuyện anh trai cô chứ? - Mọi người đều biết. Nhưng không ai lên tiếng. - Tại sao lần này lại khác? - Ý ông là sao? - Tay gác rừng đã tìm thấy thi thể của bé gái ấy. Tôi thiển nghĩ, chắc ông ta cũng đã bị mua chuộc... Mila nghĩ Goran đã đoán ra và biết Lara có thể dễ dàng cho mọi chuyện chìm xuồng, nhưng lại không muốn như thế. - Ông tin vào sự tồn tại của linh hồn chứ? Vừa hỏi câu ấy, Lara vừa vuốt ve bìa sau của cuốn sách đặt trên ghế. - Còn cô? - Tôi đã nghĩ đến chuyện đó... - Chính vì thế mà cô đã không cho phép các bác sĩ ngắt những thiết bị đang duy trì sự sống cho anh trai cô phải không? Nữ tỉ phú không đáp ngay. Cô ta ngước mắt nhìn lên trần. Joseph B. Rockford đang nằm ở tầng trên, trong chiếc giường hắn thường nằm từ thuở ấu thơ. Phòng ngủ của hắn đã được biến thành một phòng chăm sóc đặc biệt xứng tầm với một bệnh viện hiện đại. Hắn được gắn với những thiết bị hỗ trợ thở, cung cấp thuốc men và dịch truyền cho hắn, lọc máu và giảm tải cho ruột rà của hắn.

- Xin đừng hiểu nhầm. Tôi muốn anh tôi chết. Cô ta có vẻ thành thật. - Có thể anh cô biết kẻ đã bắt cóc và giết chết năm bé gái, đồng thời giam giữ bé gái số sáu. Cô không thể hình dung được ai có thể là kẻ đó... Lara hướng con mắt duy nhất của mình vào Goran. Rốt cuộc cô ta cũng đã để mắt đến ông. Hay đúng hơn là cô ta công khai để cho ông quan sát. - Ai mà biết được, kẻ đó có thể là một người trong đám gia nhân. Một người đang có mặt, hay có thể là từng làm việc ở đầy. Ông chỉ việc kiểm tra. - Chúng tôi đang làm việc đó, nhưng tôi sợ rằng kẻ chúng tôi đang tìm kiếm quá ranh ma để có thể ban cho chúng tôi nhường ấy ân huệ. - Như ông đã thấy, chỉ có những ai có thể bị Joseph mua chuộc mới bước chân được vào trong ngôi nhà này. Bị quản lý và được cho tiền, dưới sự kiểm soát của anh tôi. Tôi chưa từng thấy người lạ ở đây. - Vậy còn những thanh niên mà anh trai cô đã quan hệ? - Mila đột ngột lên tiếng. Lara mất một lúc lâu để trả lời: - Anh tôi cũng trả tiền cho bọn họ. Thỉnh thoảng, nhất là trong thời gian gần đây, anh tôi đề nghị với họ một kiểu hợp đồng theo đó họ bán linh hồn mình cho anh ấy. Họ cứ nghĩ đó chỉ là trò chơi, một câu chuyện đùa của nhà tỉ phú nhằm tiêu tán chút tiền. Thế là họ ký. Tất cả đều ký. Tôi đã tìm thấy các bản hợp đồng trong két sắt văn phòng. Những chữ ký khá là rõ ràng, ngay cả khi bọn họ không sử dụng chúng một cách nghiêm túc... Lara bật cười trước sự liên tưởng rùng rợn ấy, nhưng đó là một tiếng cười quái lạ, nó khiến Mila rợn người. Tiếng cười bật ra từ trong sâu thẳm, như thể đã nằm đó từ lâu, trong buồng phổi của cô ta, trước khi bị khạc ra

ngoài. Nó khàn đặc vì nicotin, và cả vì đau đớn nữa. Sau đó Lara cầm lấy cuốn sách đặt bên cạnh mình. Faust. Mila tiến một bước lại gần. - Cô không phản đối nếu chúng tôi tìm cách thẩm vấn anh trai cô chứ? Goran và Boris nhìn Mila như thể cô đang mất trí. Lara lại bật cười. - Cô định làm thế nào đây? Anh tôi đang chết nhiều hơn là sống. - Rồi cô ta nghiêm túc trở lại. - Muộn mất rồi. Nhưng Mila kiên quyết: - Cứ để chúng tôi thử.

30 Thoạt nhìn, Nicla Papakidis có vẻ là một phụ nữ yếu đuối. Có lẽ do bà thấp người và có cái hông quá khổ. Cũng có thể là do đôi mắt toát lên một sự hài hước buồn bã và khiến người ta nghĩ đến một bài hát trong vở nhạc kịch của Fred Astaire, một tấm ảnh chụp trong buổi dạ vũ mừng năm mới thời trước hoặc vào ngày cuối cùng của mùa hè. Trên thực tế, bà là một phụ nữ mạnh mẽ. Bà đã tạo dựng sức mạnh cho mình từng chút một, sau những năm tháng ít nhiều sống trong nghịch cảnh. Bà sinh ra ở một ngôi làng nhỏ, là chị cả và cũng là đứa con gái duy nhất trong một gia đình có bảy người con. Năm lên mười một tuổi, bà mồ côi mẹ. Bà đã phải trông nom gia đình, chăm sóc bố và nuôi dạy các cậu em trai. Nhờ bà, họ đã đỗ đạt thành tài và tìm được việc làm tốt. Nhờ tiền bạc có được từ sự hy sinh vô bờ của bà và việc thắt chặt chi tiêu trong gia đình, các em trai của bà chưa bao giờ bị thiếu thốn thứ gì. Bà đã chứng kiến các em cưới những cô gái nhà lành, xây dựng gia đình và cho ra đời hơn hai chục đứa cháu cả trai lẫn gái, niềm vui và tự hào của bà. Khi người em trai út rời khỏi mái nhà chung, bà đã ở lại để chăm sóc cho người cha già yếu, từ chối đứa ông vào viện dưỡng lão. Bà luôn nói: “Đừng có lo cho tôi. Các cậu có gia đình của các cậu, còn tôi chỉ có một mình. Đây chẳng phải là hy sinh gì đâu”. Bà đã chăm sóc cha như một đứa trẻ cho đến khi ông được chín chục tuổi. Lúc ông mất, bà tập hợp các cậu em lại. “Tôi đã bốn mươi bảy, tôi nghĩ từ giờ mình hết lập gia đình được rồi. Tôi không có con cái, nhưng tôi sẽ luôn xem đàn cháu như chính con ruột mình và thế là đủ. Tôi cám ơn các cậu đã mời tôi về ở cùng, nhưng ý tôi đã

quyết từ cách đây nhiều năm, dù hôm nay tôi mới cho các cậu biết. Chúng ta sẽ không gặp nhau nữa, các cậu em trai yêu quý của tôi ạ... Tôi đã quyết định dành cuộc đời mình cho Chúa, và từ ngày mai tôi sẽ náu mình trong nhà tu kín cho đến khi từ giã cõi đời”. - Hóa ra là một bà tu sĩ! - Boris vừa nói vừa lái xe, sau khi đã nghe Mila kể lại câu chuyện. - Bà ấy còn hơn thế nhiều. - Tôi vẫn chưa thể tin là cô đã thuyết phục thành công giáo sư Gavila. Lại càng không tin là ông ấy thuyết phục được Roche. - Đây chỉ là một phép thử, chúng ta có mất gì đâu? Hơn nữa, tôi nghĩ ta có thể tin tưởng ở Nicla trong việc giữ kín chuyện này. - À, việc đó thì hẳn rồi! Trên ghế sau xe có đặt một chiếc hộp thắt dây ruy băng đỏ. - Sôcôla là điểm yếu duy nhất của Nicla. - Mila đã nói thế khi cô yêu cầu Boris dừng xe trước một hiệu bánh. - Nhưng bà ấy theo dòng tu kín, tức là không thể đi cùng chúng ta. - Thật ra thì chuyện phức tạp hơn thế... - Nghĩa là sao? - Nicla đã sống vài năm trong tu viện. Nhưng khi họ phát hiện ra điều bà đã làm, họ đã trả bà về với thế giới bên ngoài. Họ đến nơi sau mười hai giờ trưa một chút. Khu vực này của thành phố khá lộn xộn. Tiếng ồn ào của dòng xe cộ trộn lẫn với tiếng nhạc xập xình, tiếng la hét cãi vã phát ra từ các căn hộ, cũng như từ những hoạt động hợp pháp lẫn phi pháp đang diễn ra trên đường phố. Những người sống ở đây không bao giờ thoát được chúng. Trung tâm thành phố, nơi chỉ cách đó

có vài trạm xe điện, với những nhà hàng sang trọng, các cửa hiệu và những tiệm trà, đối với họ cũng xa vời như sao Hỏa. Thiết bị định vị toàn cầu trên xe đã ngừng cung cấp thông tin từ khi họ rời khỏi xa lộ. Những chỉ dẫn duy nhất là các hình vẽ trên tường đánh dấu ranh giới địa bàn của các băng nhóm. Boris lái xe vào một phố ngang kết thúc trong ngõ cụt. Anh đã quan sát một chiếc xe hơi bám đuôi họ được vài phút. Một chiếc xe với hai cảnh sát ngồi trong không thể không bị chú ý bởi những tên cảnh giới vốn luôn nghe ngóng động tĩnh mọi ngóc ngách trong khu vực. - Lái chậm thôi, và để cho chúng thấy hai bàn tay của anh. - Mila đã nói với Boris như thế. Cô từng đến chỗ này khá nhiều lần. Tòa nhà hai người định đến nằm ở cuối con phố nhỏ. Họ đậu xe ở giữa những cái xác xe cháy. Cả hai bước xuống xe Boris nhìn chung quanh. Anh chuẩn bị bấm điều khiển để chốt cửa xe, nhưng Mila đã ngăn anh lại. - Đừng làm thế. Cứ để chìa khóa trong xe. Chúng có thể phá cửa chỉ vì “ngứa mắt”. - Nhưng ai sẽ ngăn chúng trộm xe bỏ chạy? Mila đi sang bên phía ghế lái, lục lọi trong túi và lôi ra một tràng hạt nhỏ bằng nhựa màu đỏ. Cô treo nó vào gương chiếu hậu. - Ở đây nó là bùa chống trộm hiệu quả nhất đấy. Boris lúng túng nhìn Mila, sau đó đi theo cô về phía tòa nhà. Tấm bảng bằng bìa treo ngay cửa có đề: “Xếp hàng nhận thức ăn bắt đầu từ mười một giờ”. Và vì không phải người nào trong số các đối tượng của hàng chữ đó cũng biết đọc, nên người ta đã vẽ ở bên cạnh hình kim đồng hồ bên trên một đĩa thức ăn bốc khói. Không khí thoang thoảng thứ mùi của thức ăn hòa lẫn với chất tẩy trùng. Tại cửa vào, vài chiếc ghế nhựa cọc cạch được bày quanh một cái

bàn nhỏ trên có để mấy tờ báo cũ. Trên bàn cũng có mấy tờ rơi in thông tin của nhiều chủ đề khác nhau, từ phòng ngừa sâu răng trẻ em cho đến các biện pháp phòng tránh một số loại bệnh hoa liễu. Tất cả là nhằm biến chỗ này thành một phòng đợi. Trên tường, thông báo và yết thị được gắn kín mít trên tấm bảng thông tin. Có thể nghe thấy nhiều tiếng người nói vọng qua căn phòng, nhưng không thể biết chúng đến từ đâu. Mila kéo tay áo Boris. - Ta đi nào, bà ấy ở tầng trên. Hai người bước lên cầu thang. Các bậc thang đều đã hư hỏng và lan can lung lay một cách đáng sợ. - Nhưng ta đang ở nơi quái quỷ gì thế này? Boris tránh không đụng chạm vào bất cứ thứ gì vì sợ nhiễm khuẩn. Anh càu nhàu liên tục cho đến khi họ lên đến tầng trên. Trước một cánh cửa kính, một cô gái tuổi tầm đôi mươi rất xinh xắn đang đưa một lọ thuốc cho một ông già quần áo tả tơi, người chua khẳm và nồng mùi rượu. - Phải uống một viên mỗi ngày, bác nhé? Cô gái không có vẻ khó chịu vì mùi hôi hám của ông già. Cô nói với giọng rõ ràng, từ tốn, rành mạch từng chữ như nói với trẻ con. Ông già gật gù nhưng xem vẻ không thật thuyết phục. - Việc này rất quan trọng. - Cô gái trẻ nhấn mạnh. - Bác không được quên đâu đấy. Nếu không, sẽ lại giống như lần trước, khi người ta đưa bác đến đây trong tình trạng dở sống dở chết. Cô gái rút một chiếc khăn tay từ trong túi ra và buộc quanh cổ tay ông già. - Phải thế này, bác mới không quên. Ông già mỉm cười, vẻ hài lòng, rồi cầm lấy cái lọ và đi về, vừa đi vừa ngắm nghía món quà nơi cổ tay mình. - Anh chị cần gì thế ạ? - Cô gái hỏi hai người.

- Bọn chị tìm bà Nicla Papakidis. - Mila đáp. Boris đần mặt nhìn cô gái trẻ, đột nhiên những nỗi bực bội của anh bay đi đâu mất. - Em nghĩ bà đang ở trong căn phòng áp cuối, dưới kia. - Cô vừa nói vừa chỉ hành lang sau lưng mình. Khi họ đi ngang qua cô gái trẻ, Boris cụp mắt xuống nhòm ngực cô, và vấp ngay phải cây thánh giá mạ vàng đeo trên cổ cô. - Nhưng cô ấy là… - Phải. - Mila đáp ngay, cố nhịn cười. - Tiếc thật. Trong khi đi xuôi hành lang, họ nhìn qua các căn phòng. Những chiếc giường sắt, giường gấp, hoặc chỉ là xe lăn, tất cả đều đã được sử dụng bởi những kẻ dạt nhà, không phân biệt già trẻ. Họ bị mắc bệnh AIDS, nghiện ma túy hay nghiện rượu, mắc bệnh gan ở giai đoạn cuối, hoặc chỉ đơn giản là bệnh già. Họ có hai điểm chung: ánh mắt mệt mỏi và cảm giác đã sống một cuộc đời vứt đi. Không bệnh viện nào tiếp nhận họ trong tình trạng như thế. Họ không có gia đình hoặc đã bị đẩy ra khỏi nhà. Ở đây, người ta đến để chết. Đó là điểm đặc biệt của nó. Nicla Papakidis gọi nó là “cảng trung chuyển”. - Ngày hôm nay đẹp thật, Nora ạ. Bà tu sĩ ân cần chải mái tóc dài bạc trắng của một bà già nằm trên chiếc giường đối diện cửa sổ, vừa chải vừa nói những lời dịu dàng. - Sáng nay, lúc đi ngang qua công viên, tôi đã để bánh mì lại cho lũ chim. Với tình hình tuyết thế này, chúng sẽ dành thời gian ở trong tổ để ủ ấm cho nhau.

Mila gõ cánh cửa đang mở. Bà Nicla quay lại, mắt sáng lên khi nhìn thấy cô. - Cháu tôi! - Bà vừa nói vừa đến ôm hôn cô. - Thật vui vì được gặp lại cháu! Bà mặc một chiếc áo thun màu xanh xám xắn tay quá khuỷu vì lúc nào bà cũng cảm thấy nóng, cộng thêm một chiếc váy đen quá đầu gối, chân xỏ đôi giày thể thao. Làn da rất trắng làm đôi mắt xanh thẳm của bà nổi bật hẳn lên. Tất cả toát lên sự tinh khiết và sạch sẽ. Boris nhận thấy bà quàng một tràng hạt đỏ trên cổ, giống như cái mà Mila đã buộc vào gương chiếu hậu. - Cháu xin giới thiệu Boris, đồng nghiệp của cháu. Boris hơi rụt rè tiến lên. - Rất hân hạnh. - Cậu vừa mới gặp xơ Mary, đúng không? - Bà Nicla vừa bắt tay anh vừa hỏi. - Dạ... phải. - Boris đỏ mặt đáp. - Cậu đừng lo, con bé gây thiện cảm với rất nhiều người… Tại sao cháu đến đây, đến cái cảng trung chuyển này, hử Mila? - Bà hỏi cô. - Chắc là bà đã nghe đến vụ các bé gái mất tích? - Mila hỏi nghiêm túc. - Bọn ta cầu nguyện cho chúng mỗi tối. Nhưng họ không cho biết gì nhiều trên bản tin. - Cháu cũng thế, cháu không thể tiết lộ gì nhiều. Bà Nicla nhìn thẳng vào mắt Mila. - Cháu đến vì cô bé số sáu, có phải không?

- Bà có thể nói gì về cô bé ấy không? Bà Nicla thở dài. - Bà đã thử tìm cách bắt liên lạc, nhưng không dễ. Bà không còn như hồi trước nữa. Khả năng của bà đã yếu đi nhiều. Lẽ ra bà có thể vui mừng vì chuyện đó, vì nếu bà mất nó hoàn toàn thì người ta đã cho phép bà quay về tu viện, với các xơ dễ mến ở đó. Nicla Papakidis không thích bị người ta gọi là bà đồng. Bà bảo đó không phải là chữ thích hợp để định nghĩa một “ân huệ của Chúa”. Bà không cảm thấy mình đặc biệt. Năng lực của bà mới là thứ đặc biệt. Bà chỉ là người trung gian được Chúa chọn để đón nhận ân huệ và ban phước lành. Trong suốt chuyến đi, ngoài những chủ đề khác, Mila đã kể cho Boris nghe làm thế nào bà Nicla đã phát hiện ra mình sở hữu những năng lực cảm nhận hơn người. “Năm lên sáu tuổi, bà ấy đã nổi tiếng trong làng vì có thể tìm thấy những món đồ bị mất: nhẫn, chìa khóa, những bản di chúc bị giấu quá kỹ bởi người quá cố... Một tối nọ, cảnh sát trưởng của địa phương đã đến gặp bà. Một đứa bé năm tuổi đã bị lạc, mẹ nó rất tuyệt vọng. Người ta đưa bà ấy đến nhà bà mẹ, người van xin bà tìm hộ con trai mình. Bà Nicla nhìn người mẹ một hồi, rồi nói: ‘Người đàn bà này nói láo. Bà ta đã chôn con trai mình trong vườn rau sau nhà’. Và quả thực, họ đã tìm thấy thằng bé ở đó”. Boris đã rất kinh ngạc vì câu chuyện được nghe. Đến mức anh ngồi hơi cách xa một chút, để mình Mila nói chuyện với bà tu sĩ. - Điều cháu định nhờ bà hơi khác thường một chút. - Cô nói. - Cháu cần bà đi cùng chúng cháu và bắt liên lạc với một người đàn ông sắp chết. Mila đã nhờ cậy đến năng lực của bà Nicla nhiều lần trước đây. Thỉnh thoảng việc đó giúp cô giải quyết công việc của mình. - Cháu à, bà không đi đâu được, cháu biết mà. Họ cần bà ở đây.

- Cháu biết, nhưng cháu vẫn rất muốn nhờ bà. Đó là hy vọng duy nhất giúp chúng cháu tìm lại cô bé số sáu. - Bà đã nói rồi, bà không còn chắc chắn là “ân huệ” của mình còn hoạt động hay không nữa. - Nhưng cháu thì lại nghĩ đến bà vì một lý do khác nữa... Một khoản tiền thưởng lớn đã được hứa trao cho người cung cấp các thông tin hữu ích nhằm tìm ra cô bé. - Ồ, bà biết chuyện đó. Nhưng bà biết làm gì với mười triệu đây? Mila đảo mắt nhìn quanh, ám chỉ dùng tiền thưởng vào việc tu sửa chỗ này là lẽ đương nhiên. - Bà tin cháu đi. Khi bà đã tường tận vụ này, bà sẽ nhận ra đó là cách sử dụng món tiền thưởng tốt nhất có thể... Vậy, bà định thế nào ạ? - Đáng lẽ Vera đến đây gặp tôi hôm nay. Người vừa lên tiếng là bà già đang nằm trên giường. Cho đến lúc đó, bà ta vẫn nằm bất động và im lặng, mắt nhìn đăm đăm ra cửa sổ. Bà Nicla tiến đến gần bà già. - Phải rồi, Nora, Vera sẽ đến muộn. - Con bé đã hứa. - Phải, tôi biết. Nó đã hứa và nó sẽ giữ lời, rồi bà sẽ thấy. - Nhưng thằng bé kia đang ngồi trên ghế của nó. - Bà già vừa nói vừa chỉ vào Boris, khiến anh dợm đứng lên. Bà Nicla ngăn anh lại. - Cậu cứ ngồi. Vera là người em song sinh của bà ấy. Vera chết cách đây bảy chục năm,

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 50

Đang tải bình luận...