hồi dài liên tục. Đúng vào lúc đó, Joseph B. Rockford mở mắt. Đôi môi hắn mấp máy
nhưng không thốt ra tiếng. Các dây thanh quản của hắn đã bị tổn hại khi bị người ta mở khí quản để giúp thở dễ hơn. Hắn đã chết. Mớ thiết bị xung quanh cho biết hắn chỉ còn là một đống thịt vô hồn không hơn. Thế nhưng hắn vẫn cố nói. Tiếng lào phào của hắn nghe giống như một người chết đuối đang cố gắng hít không khí một lần cuối. Việc đó không kéo dài. Rốt cuộc, một bàn tay vô hình lại lôi hắn đi, và linh hồn của Joseph B. Rockford như bị chiếc giường nuốt chửng, bỏ lại một thân xác trống rỗng.
32 Khi đã hoàn hồn trở lại, Nicla tự nguyện hợp tác với một trong những nhân viên phác họa của cảnh sát liên bang để vẽ hình ảnh nhận dạng của người đàn ông mà bà đã thấy cùng với Joseph. Người lạ mặt mà hắn gọi là “người đàn ông”, kẻ mà họ cho là Albert. Hàm râu dài và mái tóc bù xù không cho phép bà miêu tả các đường nét của gương mặt một cách chính xác. Bà không biết cung hàm của gã như thế nào, chiếc mũi chỉ là một cái bóng lờ mờ. Hình dạng chính xác của đôi mắt cũng nằm ngoài sự nắm bắt của bà. Bà chỉ có thể nói một cách chắc chắn rằng chúng có màu xám. Dẫu vậy kết quả cũng sẽ được phân phát cho tất cả các đơn vị cảnh sát, các bến cảng, sân bay và cửa khẩu. Roche đã nghĩ đến khả năng cung cấp một bản sao cho báo giới, một việc đòi hỏi phải giải thích cách thức họ đã làm để có được hình ảnh nhận dạng. Nếu họ tiết lộ chuyện nhờ đến một bà đồng, các phóng viên sẽ suy ra rằng cảnh sát chẳng có gì trong tay, phải mò mẫm và nhờ đến bà trong tình cảnh tuyệt vọng. - Đó là một nguy cơ ta phải đối mặt. - Goran nói. Ngài chánh thanh tra đã quay lại cùng nhóm điều tra ở nhà Rockford. Ông ta không muốn gặp bà tu sĩ, vì ngay từ đầu đã nói thẳng là không muốn dính dáng đến cuộc thử nghiệm: như mọi khi, tất cả trách nhiệm sẽ bị đổ lên đầu Goran. Nhà tội phạm học sẵn lòng chấp nhận điều đó vì ông tin ở linh cảm của Mila. - Cháu à, bà đã nghĩ ra một chuyện. - Bà Nicla nói với Mila trong chiếc xe cắm trại di động của cảnh sát, trong khi cô quan sát Gavila và ngài
chánh thanh tra thảo luận trên bãi cỏ phía trước ngôi nhà. - Chuyện gì vậy ạ? - Bà không muốn món tiền thưởng. - Nhưng nếu đó là người mà bọn cháu đang tìm, thì bà có quyền hưởng số tiền đó. - Bà không muốn có nó. - Bà hãy nghĩ đến những gì có thể làm được cho những người mà bà chăm sóc hàng ngày. - Họ còn cần thứ gì nữa chứ? Họ đã có sự yêu thương, chăm sóc của bọn bà, cháu tin bà đi, khi một sinh vật của Chúa trời đi đến điểm kết thúc của sự tồn tại, sinh vật đó không cần gì thêm đâu. - Nếu bà nhận khoản tiền đó thì theo cháu nghĩ, một điều tốt đẹp sẽ có thể nảy sinh từ tất cả chuyện này... - Cái ác chỉ sản sinh ra cái ác. Đó luôn là đặc trưng của nó. - Có một người đã nói với cháu là cái ác luôn có thể được chứng tỏ. Còn điều thiện thì không bao giờ. Bởi cái ác để lại dấu vết trên những gì nó đi qua. Còn điều thiện, ta chỉ có thể chứng kiến thôi. Rốt cuộc bà Nicla cũng mỉm cười. - Vớ vẩn. - Bà nói. - Cháu biết không, thực ra là cái thiện rất chóng qua nên không thể ghi nhận lại được. Và nó không để lại rác rưởi gì sau khi đã đi qua. Cái thiện rất sạch sẽ, cái ác thì dơ bẩn... Nhưng bà có thể chứng tỏ là cái thiện tồn tại, vì bà nhìn thấy nó mỗi ngày. Khi một trong số những con người nghèo khổ của bà gần đất xa trời, bà cố dành nhiều thời gian với họ hết sức có thể. Bà cầm tay người đó, lắng nghe người ta nói chuyện, nếu có thú nhận điều gì không phải thì bà cũng không phán xét. Khi họ hiểu điều sắp xảy ra với mình, nếu họ sống tốt và không làm gì sai trái, hoặc từng làm nhưng đã sửa chữa... thì họ vẫn luôn mỉm cười. Bà không biết tại
sao, nhưng nó là như thế, bảo đảm với cháu đấy. Bằng chứng của cái thiện là nụ cười đi cùng họ khi đối diện với cái chết. Mila yên tâm gật đầu. Cô không muốn cố ép bà Nicla nhận món tiền thưởng. Biết đâu bà nói đúng. Đã năm giờ chiều, bà tu sĩ khá mệt mỏi, nhưng vẫn còn một việc phải làm. - Bà có chắc là nhận ra được cái lán bỏ hoang đó không? - Cô hỏi. - Có, bà biết nó nằm ở đâu. Họ chỉ cần làm một cuộc kiểm tra đơn giản trước khi quay lại studio là có thể xác nhận thông tin do bà Nicla cung cấp. Nhưng dù thế cả nhóm vẫn lên đường. Trong xe, Sarah Rosa làm theo các chỉ dẫn của bà Nicla. Dự báo thời tiết cho biết vẫn còn nhiều trận tuyết rơi mới. Một mặt, trời quang mây và mặt trời đang lặn nhanh chóng. Nhưng mặt khác, các đám mây đang tích tụ ở chân trời và nhiều ánh chớp đầu tiên đang đến gần. Họ đang ở ngay chính giữa nó. - Ta phải nhanh chóng hơn. - Stern giục. Trời sắp tối rồi. Khi đi đến lối rẽ, họ rời con đường chính. Những viên sỏi kêu lạo xạo dưới bánh xe. Sau chừng ấy năm tháng, cái lán gỗ vẫn còn nằm đó. Lớp sơn trắng đã bong tróc hoàn toàn và chỉ còn sót lại ở một đôi chỗ. Những miếng ván bị phơi bày dưới mưa nắng đã thối mục, khiến cho cái lán nom như một chiếc răng sâu. Họ xuống xe và tiến đến cửa. - Coi chừng, nó có thể sập đấy. - Boris cảnh báo.
Goran bước lên bậc thềm đầu tiên. Địa điểm rất trùng khớp với các mô tả của bà tu sĩ. Phía bên trong, sàn nhà bị phủ bởi một lớp đất và họ có thể nghe thấy lũ chuột bị đánh động chạy nhốn nháo bên dưới. Gavila nhận ra cái trường kỷ, dù nó chỉ còn là một đống những lò xo han gỉ. Chiếc tủ buýpphê vẫn nằm nguyên chỗ cũ. Lò sưởi bằng đá đã sụp một phân. Ông lấy từ trong túi ra một chiếc đèn pin nhỏ để xem xét hai căn phòng phía sau. Trong lúc đó, Boris và Stern cũng đã bước vào và đang xem xét căn nhà. Goran mở cánh cửa đầu tiên. - Đây là phòng ngủ. Nhưng chiếc giường đã biến mất. Sự hiện diện của nó được đánh dấu bởi một khu vực nhạt màu hơn trên sàn. Đây là nơi Joseph B. Rockford đã được nhập môn giết chóc. Chúa mới biết ai là thằng bé đã bị kết liễu trong căn phòng này hai mươi năm về trước. - Cần phải đào quanh chỗ này để tìm kiếm các