hồi cánh tay trái, cô đã phải lấy lại niềm tin vào mọi thứ trên đời, không chỉ với cuộc sống thường nhật ở nhà, mà kể cả với những cảm xúc của bản thân. Graciela, cô bạn thân thiết mà cô đã từng cắt máu ăn thề trước khi mất tích, giờ cư xử với cô như người xa lạ. Graciela không còn là cô bạn mà cô chia sẻ đến miếng kẹo cao su cuối cùng và vô tư đi vệ sinh cùng, không còn là người cô trao một nụ hôn “kiểu Pháp” để luyện tập trước khi thử với bọn con trai. Không, Graciela giờ đã khác. Graciela nói chuyện với cô cùng một nụ cười giả lả thường trực trên khuôn mặt, đến nỗi Mila đâm sợ là nếu cô bạn mình cứ tiếp tục như thế thì sẽ bị đau hai bên má. Graciela cố ép mình tỏ ra tử tế, thậm chí không dám nói tục nữa, trong khi cho đến trước đó chưa lâu, cô bé không bao giờ gọi cô bằng tên thật, mà toàn bằng những biệt danh đại loại như “bò cái”, hoặc “heo con tàn nhang”. Hai cô bé đã chích đầu ngón tay bằng một chiếc đinh gỉ để kết nghĩa trọn đời, để không thằng con trai nào có thể chia lìa cả hai. Nhưng trên thực tế, chỉ cần vài tuần là đủ để đào một cái hố không ai san lấp nổi giữa hai đứa. Nghĩ cho cùng, mũi chích đầu ngón tay đó là vết thương đầu tiên của Mila. Nhưng nó khiến cô còn đau hơn sau khi đã lành hoàn toàn. “Đừng có cư xử như thể tôi vừa từ trên cung trăng quay về nữa!” Cô chỉ muốn hét to như thế với mọi người, trước biểu hiện trên gương mặt của họ. Cô không thể chịu được chuyện đó. Cái kiểu nghiêng đầu, bặm môi đó.
Ngay cả khi ở trường, nơi cô chưa bao giờ có điểm số xuất sắc, các sai sót của cô bây giờ đều được thoải mái cho qua. Cô phát mệt vì sự chiều chuộng của những người khác. Cô thấy như mình đang ở trong một bộ phim đen trắng, giống như thứ mà người ta phát trên ti vi ban đêm, trong đó các cư dân của trái đất bị thay thế bằng bọn người hỏa tinh vô tính, và cô là người còn sót lại duy nhất vì bị mắc kẹt trong cái sào huyệt ấy. Như vậy là có hai khả năng: hoặc cả thế giới đã thay đổi, hoặc là sau hai mươi mốt ngày thai nghén trong bụng con quái vật, một Mila mới đã ra đời. Xung quanh cô, không ai nói về những gì đã xảy ra. Họ bắt cô sống trong một quả cầu, như thể cô được làm bằng thủy tinh và có thể vỡ bất cứ lúc nào. Họ không hiểu điều cô muốn là một chút thành thật, sau tất cả những gian dối mà cô phải chịu. Mười một tháng sau, phiên tòa xử Steve bắt đầu. Cô đã đợi khoảnh khắc đó từ rất lâu. Báo chí và truyền hình đều đưa tin, mặc dù bố mẹ không cho cô xem - họ nói là để bảo vệ cô. Nhưng cô vẫn lén lút cập nhật tin tức những khi có thể. Linda và cô sẽ phải làm chứng. Công tố viên chủ yếu dựa vào cô nhiều hơn, vì Linda vẫn tiếp tục khăng khăng bảo vệ tên bắt cóc. Cô bé cứ muốn mọi người gọi mình là Gloria. Các bác sĩ cho rằng Linda bị tổn thương nặng nề về thần kinh. Vậy là chỉ mình Mila đương đầu với Steve. Trong những tháng sau khi bị bắt giữ, Steve đã làm tất cả để được miễn trách nhiệm hình sự. Hắn đã vẽ ra những câu chuyện đầy phi lý về những kẻ đồng lõa giả định mà hắn buộc phải nghe lời. Hắn cũng cố dựa vào câu chuyện về Frankie, gã cộng sự độc ác mà hắn đã kể với Linda. Nhưng nó đã bị bác bỏ khi một cảnh sát phát hiện ra đó là tên con rùa hắn nuôi hồi nhỏ.
Tuy thế, nhiều người vẫn muốn tin vào câu chuyện đó. Steve quá “bình thường” để là một con quái vật. Quá giống với họ. Nghịch lý thay, việc tin rằng còn một ai khác đứng sau hắn, một kẻ bí ẩn hơn nhiều, một con quái vật thật sự, lại khiến họ an tâm. Mila đến phiên tòa với dự định sẽ buộc Steve phải gánh chịu mọi tội lỗi hắn đã gây ra, cũng như một phần sự đau đớn mà hắn đã bắt cô phải chịu. Hắn sẽ vào tù, và vì điều đó, cô sẵn sàng đóng vai nạn nhân tội nghiệp mà cho đến lúc đó cô vẫn cương quyết từ chối. Cô ngồi trên ghế nhân chứng, đối mặt với cái chuồng mà Steve bị còng tay bên trong, với dự định kể tất cả mà không rời mắt khỏi hắn. Nhưng khi nhìn thấy hắn - chiếc áo sơmi xanh lá gài nút đến tận cằm quá rộng vì hắn chỉ còn da bọc xương, đôi bàn tay run rẩy khi hắn cố gắng ghi chép, mái tóc xéo lệch mà hắn đã tự cắt, cô cảm thấy một điều mà cô không ngờ tới: cô vừa thấy thương hắn, lại vừa căm giận kẻ đáng thương đó, bởi hắn đã khiến cô mủi lòng thương. Đó là lần cuối cùng Mila cảm thấy thấu cảm một ai đó. Khi cô phát hiện ra bí mật của Goran, cô đã bật khóc. Tại sao? Một hồi ức nằm đâu đó trong cô mách bảo cô rằng đó là những giọt nước mắt của sự thấu cảm. Đột nhiên một con đập bị vỡ ở đâu đó, giải phóng một lượng xúc cảm bất ngờ. Giờ đây cô thậm chí còn có cảm giác như mình hiểu được những gì người khác đang cảm thấy. Khi Roche đến nơi, cô nhận ra ông ta đã hiểu giờ của mình sắp điểm, bởi lẽ người giỏi nhất của Roche, “mũi khoan kim cương” của ông ta, đã cho ông ta ăn thứ bả độc nhất.
Còn về Terence Mosca, ông đại úy có vẻ như bị kẹt giữa niềm vui của sự thăng tiến và nỗi khó xử gần với nguyên nhân của sự thăng tiến đó. Cô cảm nhận rõ ràng thái độ bối rối và buồn bã của Stern khi anh bước qua ngưỡng cửa căn hộ. Cô hiểu ra ngay anh sẽ bắt tay vào giải quyết vụ việc kinh khủng này. Sự thấu cảm. Cô chỉ không cảm thấy gì đối với một người. Người đó là Goran. Không như Linda, cô đã không bị rơi vào cái bẫy của Steve: cô chưa bao giờ tin vào sự tồn tại của Frankie. Ngược lại, cô đã tin là có một đứa trẻ thực sự sống trong căn hộ này. Cô đã nghe kể về thằng bé. Cô đã chứng kiến những cú điện thoại của bố nó gọi cho bà giúp việc, để bảo đảm nó vẫn ổn và ra các chỉ thị cho bà. Thậm chí cô có cảm tưởng như đã nhìn thấy nó lúc Goran cho nó đi ngủ. Cô không tài nào tha thứ được cho ông tất cả những điều này, vì chúng biến cô thành một con ngốc. Goran Gavila đã sống sót sau cú ngã từ độ cao mười hai mét. Hiện ông đang thoi thóp trên giường chăm sóc đặc biệt. Căn hộ của ông được theo dõi, nhưng chỉ từ bên ngoài. Ở bên trong, chỉ có hai nhân viên điều tra làm việc. Đặc vụ Stern, người đã tạm hoãn quyết định nghỉ việc của mình, và Mila. Họ không tìm gì, chỉ cố sắp xếp các sự kiện theo trình tự thời gian và tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi. Vào thời điểm nào một con người cân bằng và điềm tĩnh như Goran Gavila thực hiện kế hoạch giết người? Tư tưởng trả thù của ông ta đã xuất hiện khi nào? Ông ta biến thù hận thành kế hoạch từ lúc nào? Mila đang ở trong phòng làm việc. Cô nghe thấy tiếng của Stern đang lục soát trong căn phòng bên cạnh. Trong đời cảnh sát của mình, cô đã nhiều lần khám xét nhà người khác. Cô thấy tất cả những gì mình có thể khám phá về cuộc đời của kẻ khác thật khó tin.
Trong khi kiểm tra nơi ẩn mình của Goran, cô đã suy nghĩ và cố gắng giữ thái độ dửng dưng, ghi lại các chi tiết, những thói quen nhỏ có thể vô tình tiết lộ manh mối quan trọng. Goran cất những cái ghim kẹp giấy trong gạt tàn. Ông trực tiếp gọt bút chì trên miệng sọt rác. Và ông để một khung ảnh trống trên bàn. Chiếc khung ảnh trống đó giống như ô cửa sổ nhìn xuống vực thẳm của người đàn ông mà Mila đã tưởng mình có thể yêu thương. Cô nhìn vội đi chỗ khác, như thể sợ mình sẽ bị nuốt chửng vào đó. Tiếp theo cô mở một ngăn kéo tủ. Bên trong, chỉ có một tập hồ sơ duy nhất. Cô lấy nó ra và đặt lên chồng hồ sơ đã xem xét xong. Tập hồ sơ này có sự khác biệt, vì căn cứ theo ngày tháng thì nó là vụ án cuối cùng của Goran trước khi xảy ra vụ các bé gái. Ngoài các giấy tờ, trong tập hồ sơ còn có một loạt băng ghi âm. Cô đọc chỗ giấy tờ. Cô sẽ nghe băng nếu thấy cần. Giấy tờ bao gồm các công văn liên hệ giữa một giám đốc nhà tù - một ông Alphonse Bérenger nào đấy - và văn phòng công tố. Chúng đề cập đến hành vi khác thường của một phạm nhân chỉ được nhắc đến qua số hiệu tù. RK-357/9. Đối tượng đã được tìm thấy vài tháng trước đó bởi hai cảnh sát khi hắn đi lang thang một mình giữa đêm trong tình trạng không mảnh vải che thân, ở một vùng thôn quê. Hắn đã từ chối khai báo danh tính của mình. Kết quả kiểm tra dấu vân tay cho thấy hắn chưa từng có tiền án. Nhưng một chánh án đã buộc tội hắn cản trở pháp luật. Hắn vẫn đang trong thời hạn án tù. Mila cầm một cuốn băng lên xem. Trên nhãn của nó chỉ ghi ngày giờ. Cô gọi Stern và tóm tắt nhanh cho anh những gì mình vừa đọc.
- Anh nghe tay giám đốc nhà tù miêu tả này... “Kể từ khi vào tù, phạm nhân RK-357/9 chưa bao giờ tỏ ra vô kỷ luật và luôn tuân thủ các quy định của nhà tù. Thêm vào đó, hắn ta có bản tính cô độc và ít hòa đồng... Có lẽ cũng vì lý do này mà không ai để ý đến hành vi lạ lùng của hắn, cho đến gần đây, khi nó bị một trong các quản giáo của chúng tôi nhận ra. Phạm nhân RK-357/9 lau chùi mọi đồ vật mà hắn tiếp xúc bằng một miếng dạ, nhặt tất cả lông và tóc rụng hàng ngày của mình, rửa kỹ lưỡng các đồ dùng ăn uống và vệ sinh sau mỗi lần sử dụng”. Anh thấy thế nào? - Tôi không biết. Vợ tôi cũng bị ám ảnh bởi việc lau dọn như thế. - Anh nghe tiếp này: “Như vậy chúng ta đang gặp phải hoặc là một tay cuồng sạch sẽ, hoặc rất có thể là một kẻ muốn bằng mọi giá tránh để lại các ‘dấu vết sinh học’. Do đó, chúng tôi rất nghi ngờ rằng phạm nhân số hiệu RK-357/9 đã gây ra một tội ác cực kỳ nghiêm trọng, và muốn ngăn cản chúng ta thu được mẫu ADN của hắn đem xác định danh tính...” Anh nghĩ sao? Stern cầm tờ giấy lên tay và đọc. - Chuyện xảy ra vào tháng Mười một... Nhưng không thấy ghi rõ liệu cuối cùng họ có tìm được gì về ADN của hắn không. - Có vẻ như họ không thể buộc hắn làm test kiểm tra hoặc tùy tiện lẫy mẫu, vì nó vi phạm quyền hiến pháp của hắn... - Vậy họ đã làm gì? - Họ đã cố tìm một cọng lông, hoặc một sợi tóc bằng cách đột ngột ập vào xà lim của hắn. - Hắn bị biệt giam à? Mila lướt mắt qua tờ giấy để tìm đọc đoạn mà cô vừa nói. - Đây này, ở đây tay giám đốc có viết: “Cho đến hôm nay, đối tượng được giam cùng phòng với một tù nhân khác, kẻ chắc chắn đã giúp hắn tiêu hủy các dấu vết sinh học. Tuy nhiên, xin thông báo để ông được biết, biện
pháp xử lý đầu tiên của chúng tôi là đưa đối tượng ra khỏi buồng giam chung và biệt giam hắn”. - Vậy họ có lấy mẫu ADN của hắn được hay không? - Có vẻ như nghi phạm khôn ranh hơn họ, họ luôn thấy một buồng giam sạch bóng. Nhưng họ cũng nhận ra hắn luôn nói chuyện một mình và đã cho cài một micro để tìm hiểu những gì hắn nói… - Có liên quan gì với Gavila không? - Chắc hẳn họ đã xin ý kiến của Goran, tôi không biết... Stern ngẫm nghĩ một lát. - Chúng ta cần phải nghe mấy cái băng này. Họ tìm thấy một máy ghi âm cũ trên một cái tủ, có lẽ từng được Goran dùng để ghi lại các nhận xét của mình. Mila đưa cuộn băng cho Stern. Anh bước đến gần cái máy, nhét cuộn băng vào trong hộc và giơ tay định ấn nút chạy. - Đợi đã. Bị bất ngờ, Stern quay lại nhìn Mila. Mặt cô tái xanh. - Chết rồi! - Có chuyện gì thế? - Cái tên. - Tên nào? - Tên của tù nhân từng ở cùng xà lim với hắn trước khi hắn bị biệt giam ấy... - Thì sao chứ? - Anh ta tên là Vincent… Vincent Clarisso.
44 Alphonse Bérenger là một ông già sáu mốt với sắc diện như một đứa trẻ. Khuôn mặt hồng hào của ông trông như được gắn bằng một mạng lưới mao mạch chằng chịt. Khi cười, đôi mắt ông nheo lại thành hai đường chỉ. Ông đã lãnh đạo nhà tù từ hai mươi lăm năm nay, và chỉ còn vài tháng nữa là về hưu. Ông rất thích câu cá. Một cần câu cùng một hộp mồi và lưỡi câu nằm trong một góc văn phòng của ông. Chẳng bao lâu nữa, chúng sẽ là mối quan tâm duy nhất trong cuộc sống của ông. Bérenger được nhìn nhận là một người tốt. Trong những năm tháng dưới quyền lãnh đạo của ông, nhà tù đã chưa từng nếm mùi kỷ luật sắt. Ông rất tử tế với các tù nhân, và các quản tù của ông cũng hiếm khi cậy nhờ đến vũ lực. Alphonse Bérenger đọc Kinh thánh và theo chủ nghĩa vô thần. Nhưng ông tin vào cơ hội thứ hai. Ông cho rằng mỗi cá nhân nếu muốn đều đáng được ân xá. Bất luận anh ta đã phạm tội ác gì. Ông nổi tiếng là một người chính trực và luôn hòa nhã với mọi người. Tuy nhiên, thời gian gần đây, ông không tài nào ngủ được. Vợ ông bảo với ông nguyên nhân là do ông sắp về hưu, nhưng không phải thế. Điều quấy rầy ông trong cơn buồn ngủ là việc phải trả lại tự do cho phạm nhân mang số hiệu RK-357/9 mà không hề biết hắn là ai và liệu hắn có từng gây tội ác tày đình nào hay không. - Gã này rất… quái gở. - Ông nói với Mila trong khi hai người bước qua cổng kiểm soát để tiến vào khu biệt giam. - Quái gở thế nào ạ?
- Hắn hoàn toàn điềm tĩnh. Chúng tôi đã cắt nước, với hy vọng hắn sẽ thôi cọ rửa mọi thứ. Hắn tiếp tục lau chùi bằng giẻ. Chúng tôi tước luôn giẻ. Hắn chuyển sang dùng quần áo tù. Chúng tôi ép hắn phải dùng muỗng nĩa của nhà giam. Thế là hắn ngừng ăn. - Vậy các ông làm thế nào? - Đương nhiên chúng tôi không thể để hắn chết đói được! Tất cả mọi ý đồ của chúng tôi đều vấp phải một sự cứng đầu vô phương tháo gỡ... hoặc một sự đấu tranh trong ôn hòa, tùy cô nhìn nhận. - Thế còn cảnh sát khoa học? - Họ đã dành ba ngày xem xét xà lim của hắn nhưng không thể tìm được thứ gì cho phép phân tích mẫu ADN của hắn. Tôi cứ tự hỏi làm sao có thể thế được? Chúng ta mất hàng ngàn tế bào mỗi ngày, dưới dạng lông tóc, hoặc mảnh da chết... Bérenger đã chứng tỏ toàn bộ sức kiên nhẫn của một người câu cá tội nghiệp, với hy vọng như thế là đủ. Nhưng vẫn không đủ. Lần thử sức sau cùng của ông là cô cảnh sát bất ngờ xuất hiện sáng hôm nay, với câu chuyện khó tin nhưng có thật của mình. Họ đi theo hành lang dài đến một cánh cửa kim loại sơn màu trắng. Đó là buồng biệt giam số mười lăm. Ông giám đốc nhà tù nhìn Mila. - Cô chắc chắn chứ? - Trong ba ngày nữa, gã ta sẽ ra tù, và tôi có cảm giác ta sẽ không bao giờ thấy lại gã nữa. Thế nên, tôi tuyệt đối chắc chắn. Cánh cửa nặng nề mở ra rồi lập tức đóng lại sau lưng Mila. Cô bước vào trong thế giới của nghi phạm số hiệu RK-357/9. Gã trông khá khác với những hình dung của cô dựa trên chân dung được dựng lại bởi bà Nicla Papakidis, sau khi bà chui sâu vào trong đầu của Joseph B. Rockford. Ngoại trừ một chi tiết. Đôi mắt xám.
Gã có vóc người nhỏ, đôi vai hẹp, xương đòn nhô ra. Bộ đồng phục tù nhân màu cam tỏ ra quá rộng so với gã, tới mức gã phải xắn tay áo và gấu quần lên. Tóc gã ít và chỉ tập trung ở hai bên đầu. Gã đang ngồi trên giường, một cái tô sắt đặt trên đầu gối. Gã lau nó bằng một miếng giẻ màu vàng nhạt. Trên giường, bên cạnh gã, có mấy bộ muỗng nĩa, bàn chải đánh răng và một cái lược nhựa. Có lẽ gã vừa mới chùi chúng xong. Gã chỉ hơi ngước mắt lên nhìn Mila, trong lúc tay vẫn không ngừng lau chùi. Mila có cảm giác chắc chắn là gã biết lý do cô đến đây. - Chào ông. - Cô nói. - Tôi ngồi xuống được chứ? Gã lễ độ gật đầu, tay chỉ cái ghế đẩu kê sát tường. Mila ngồi xuống đó. Tiếng cọ xát đều đặn của miếng giẻ trên kim loại là âm thanh duy nhất trong căn buồng. Những âm thanh đặc trưng của nhà tù hoàn toàn vắng bóng trong khu biệt giam, nhằm làm nặng nề thêm sự cô độc về mặt tinh thần. Nhưng hình như nó chẳng mảy may ảnh hưởng tới nghi phạm RK357/9. - Ở đây tất cả đều tự hỏi ông là ai. - Mila mở lời. - Thắc mắc đó đã gần như trở thành một nỗi ám ảnh, tôi nghĩ thế. Ít ra là đối với ông giám đốc nhà tù. Và cả với văn phòng công tố nữa. Các phạm nhân khác truyền tai nhau câu chuyện của ông. Gã tiếp tục nhìn cô trơ trơ. - Tôi thì không thắc mắc điều đó. Tôi biết câu trả lời. Ông là kẻ mà chúng tôi gọi là Albert. Đối tượng chúng tôi đang truy lùng. Gã không phản ứng gì. - Ông đã ngồi trên chiếc ghế bành của Alexander Bermann trong hang ổ khiêu dâm của hắn. Ông đã gặp Ronald Dermis ở cô nhi viện, khi hắn còn
là một đứa trẻ. Ông đã có mặt trong biệt thự của bà Yvonne Gress trong lúc Feldher thảm sát bà ta và hai đứa con. Hình dáng ông rõ rành rành trên chỗ máu bắn lên tường. Ông đã ở cùng với Joseph B. Rockford khi hắn lần đầu tiên giết người trong cái lán bỏ không... Bọn họ là đồ đệ của ông. Ông đã xúi bẩy