Liễu Phàm Tứ Huấn toan-tap-ht-tinh-khong

phần lưu thông trong kinh Phật vậy, ý nghĩa rất quan trọng. Mời

phần lưu thông trong kinh Phật vậy, ý nghĩa rất quan trọng. Mời

phần lưu thông trong kinh Phật vậy, ý nghĩa rất quan trọng. Mời xem nguyên văn: Kinh Dịch dạy: “Đạo của trời là hao tổn kẻ tự mãn mà lợi ích người khiêm hạ, đạo của đất là trở ngại kẻ tự mãn mà trợ giúp người khiêm hạ. Quỷ thần thường gây họa kẻ ngạo mạn mà ban phước người khiêm tốn; con người thường chán ghét kẻ ngạo mạn mà ưa thích người khiêm tốn”. Đây là những câu trong Kinh Dịch. Do vậy chỉ có quẻ khiêm là sáu hào đều cát tường. Chúng ta xem, 64 quẻ trong Kinh Dịch, mỗi hào đều cát tường tốt đẹp mà không có tướng xấu thì chỉ duy nhất quẻ khiêm, chỉ có quẻ này.

285 Kinh Thư nói: “Ngạo mạn sẽ bị tổn hại, còn khiêm tốn sẽ được lợi ích”. Hai câu này được nói trong Kinh Thư. Nhiều lần tôi cùng bạn học đi thi, mỗi lần gặp những thư sinh nghèo sắp đỗ đạt, đều thấy họ nhất định có dáng vẻ khiêm hạ lộ rõ. Ở sau tiên sinh Liễu Phàm nói, rất nhiều lần ông cùng các bạn học tham gia các kỳ thi, thường gặp các học trò nghèo khó. Lúc sắp phát đạt, cũng chính là lúc họ sắp thi đỗ, trước đó họ có điềm báo, nhất định là họ rất khiêm tốn. Cho nên, xử sự đối nhân tiếp vật, quan trọng nhất là phải hết mực khiêm tốn. Có thể tiếp nhận người khác, có thể thành tựu người khác. Bốn câu này trong Kinh Dịch, chúng ta nói sơ lược một chút. “Khuy” là tổn thất, “doanh” là ngạo mạn, “thiên đạo” cũng chính là đạo lý tự nhiên. Phàm là người tự mãn thì luôn gặp một số chuyện tổn thất, chuyện thiếu hụt. Người có thể khiêm tốn thì nhất định đạt được lợi ích, đây là thiên đạo. “Đạo của đất là trở ngại kẻ tự mãn mà trợ giúp người khiêm hạ”. “Địa” là rộng lớn, “biến” là biến động, “lưu” nghĩa là tụ tập tại một nơi. Giống như dòng nước, nước thường chảy đến nơi trũng thấp, không chảy đến nơi cao. Cho nên “trở ngại kẻ tự mãn mà trợ giúp người khiêm hạ”. Như nước, chỗ cao là đầy, tự mãn, cống cao ngã mạn thì không đạt được lợi ích, không được thấm nhuần, được thấm nhuần luôn là chỗ thấp. “Quỷ thần thường gây họa kẻ ngạo mạn”, đối với người tự mãn, người ngạo mạn, quỷ thần luôn gây phiền phức cho họ, trêu đùa họ. Còn đối với người khiêm tốn thì quỷ thần tôn kính, quỷ thần giúp đỡ, cõi người làm sao có thể ngoại lệ được! “Con người thường chán ghét kẻ ngạo mạn mà ưa thích người khiêm tốn”. Đối với người tự mãn, người tự đại, người kiêu ngạo thì mọi người thường chán ghét họ,

286 đối với người khiêm tốn thì thường yêu thích họ. Cho nên quẻ khiêm này, chỉ có kiết tường, thuận lợi mà không có hung dữ. Đây là nguyên tắc làm người quan trọng. Bên dưới, tiên sinh Liễu Phàm đưa ra 5 người làm thí dụ, chúng ta quan sát từ chỗ này, cách nhìn của ông quả thực không sai, quan sát rất chuẩn xác. Thí dụ thứ nhất: Vào năm Tân Mùi, trong số cử nhân về kinh đô dự thi, thì nhóm đồng hương Gia Thiện chúng tôi có 10 người. Đinh Kính Vũ là người nhỏ tuổi nhất, tính tình hết sức khiêm hạ. Tôi nói với Phí Cẩm Pha rằng: “Anh này năm nay nhất định sẽ thi đỗ”. Họ Phí hỏi lại: “Làm sao biết được?” Tôi nói: “Chỉ có người khiêm tốn mới được phước. Anh xem trong số 10 người chúng ta, có ai thành thật trung thực, không dám vượt trước người như Kính Vũ không? Có ai cung kính thuận theo, thận trọng khiêm hạ như Kính Vũ không? Có ai bị sỉ nhục mà không đáp trả, bị hủy báng mà không biện bạch như Kính Vũ không? Người như vậy ắt được trời đất quỷ thần thường trợ giúp, làm gì có đạo lý không phát đạt cho được?” Đến khi yết bảng, quả nhiên Kính Vũ trúng tuyển. Năm đó tiên sinh Liễu Phàm 37 tuổi, ông đi thi tiến sĩ cùng với mười người bạn, huyện Gia Thiện tất cả có 10 người. Trong 10 người này ông nhận ra Đinh Kính Vũ, Kính Vũ là tự của ông, tên của ông là Đinh Tân. Trong số 10 người thì người này trẻ tuổi nhất, “nhỏ tuổi nhất”, vô cùng khiêm tốn. Liễu Phàm nói với một người bạn khác là Phí Cẩm Pha cũng tham gia kỳ thi lần này; nói với ông, Liễu Phàm nói Đinh Kính Vũ năm nay nhất định sẽ thi đỗ, thi đỗ tiến sĩ. Họ Phí nói: “Làm sao ông biết?” Tiên sinh Liễu Phàm nói: “Chỉ có người khiêm tốn mới được phước”, câu này là định luận từ trong Kinh Dịch. “Anh xem trong số 10 người”, anh xem trong số 10 người chúng ta có ai khiêm tốn như Đinh Kinh Vũ không? “Tuần tuần khoản khoản” là nói giữ chữ tín, trung hậu, thành thật. “Không

287 dám vượt trước người”, luôn đứng sau người khác. Điều này rất hiếm có, không dám đứng trước người khác. “Cung kính thuận theo, thận trọng khiêm hạ”, đối với mỗi người đều có thể cung kính thuận theo. Hay nói cách khác, trong đại chúng ông không cố chấp thành kiến của riêng mình, có thể tùy thuận người khác, rất khó được! “Bị sỉ nhục mà không đáp trả”, ông bị người khác sỉ nhục cũng không nói câu nào, nghe người khác hủy báng ông cũng không biện bạch. Đinh Kính Vũ đều làm được, bản thân ông như vậy nên trời đất quỷ thần đều sẽ giúp đỡ ông, làm gì có chuyện không thi đỗ cho được? Khi yết bảng, ông quả nhiên trúng tuyển, tiên sinh Liễu Phàm không đỗ. Liễu Phàm thi tiến sĩ ba lần, hai lần trước đều không đỗ, đây là lần đầu tiên, năm 37 tuổi ông đi thi, không thi đỗ. Vị thứ hai, ông đưa ra là Phùng Khai Chi, năm đó tiên sinh Liễu Phàm 43 tuổi. Năm Đinh Sửu tôi ở kinh thành. Năm Đinh sửu là công nguyên năm 1577. Chúng ta dùng công nguyên để tính thì chúng ta sẽ dễ tưởng tượng hơn. Năm đó ông lại đi thi tiến sĩ, đây là lần thứ hai đi thi. Lần thứ nhất là năm 37 tuổi, lần thứ hai là năm 43 tuổi, đây là lần thứ hai đi thi. Ở cùng một nơi với Phùng Khai Chi. Phùng Khai Chi cùng đi thi với ông, cũng là người Triết Giang, là đồng hương với nhau. Thấy ông này hết sức khiêm hạ, nét mặt nghiêm trang, những tập khí hồi nhỏ hoàn toàn không còn. Tập khí của ông khi còn trẻ hoàn toàn không còn nữa, lần này Phùng Khai Chi đi thi đã đỗ trạng nguyên, đây là bậc cao nhất của tiến sĩ.

288 Lý Tế Nham là người bạn tốt, tính tình thẳng thắn, thường phê bình lỗi lầm ngay trước ông Phùng, nhưng chỉ thấy ông bình thản tiếp nhận, chưa từng có một lời biện bạch. Lúc đó có một người tên là Lý Tế Nham, đây là người bạn rất thẳng thắn, thấy người khác có lỗi lầm ông liền phê bình ngay trước mặt. Ông thấy Phùng Khai Chi, cũng phê bình không hề khách sáo, nhưng Phùng Khai Chi “bình thản tiếp nhận”, ông nghe xong trong lòng rất bình tĩnh, hoàn toàn tiếp thu “chưa từng có một lời biện bạch”. “Tương báo” chính là biện bạch, không hề biện bạch một câu, hoàn toàn tiếp thu những gì người khác chỉ trích. Tôi nói với ông Phùng rằng. Ông nói với Phùng tiên sinh. Phước có điềm báo của phước, họa có điềm báo của họa. Họa phước đều có điềm báo, “thỉ” và “tiên” là nói dự báo. Tâm ông khiêm hạ như vậy. Ông khiêm tốn không phải giả, là thật, xuất phát từ tâm chân thành. Người khiêm tốn như thế: Trời nhất định sẽ giúp đỡ ông. “Tương” là tương trợ, ông trời cũng sẽ giúp đỡ ông. Năm nay ông nhất định sẽ thi đỗ. Ông phán đoán, năm nay người này chắc chắn thi đỗ. Không lâu sau quả nhiên ông đã trúng cử. Không những ông thi đỗ, mà còn đứng đầu bảng. Về sau làm quan đến chức Biên tu của Viện hàn lâm. Đây là lần thứ hai tiên

289 sinh Liễu Phàm tham gia thi tiến sĩ, gặp người đồng hương là Phùng tiên sinh. Trường hợp thứ ba: Ông Triệu Dụ Phong, tên Quang Viễn, người huyện Quán, tỉnh Sơn Đông, chưa đầy 20 tuổi mà đã thi đỗ cử nhân trong kỳ thi Hương, nhưng sau thi Hội nhiều lần chẳng đỗ. “Đồng niên” là chưa đầy 20 tuổi, 20 tuổi gọi là “nhược quan”, 19 tuổi trở xuống gọi là đồng niên, cho thấy người này rất thông minh. Tuổi còn trẻ mà ông đã thi đỗ cử nhân, thi đỗ cử nhân, về sau thi tiến sĩ thì mãi không đỗ, thi rất nhiều lần đều không đỗ. Cha ông được bổ chức Tam doãn ở huyện Gia Thiện. Phụ thân ông làm Tam doãn của huyện Gia Thiện, địa vị của Tam doãn là đứng thứ ba trong huyện. Thông thường chúng ta gọi đại doãn, đại doãn là huyện trưởng. Đại khái nói như hiện nay thì nhị doãn tương đương với bí thư trưởng, bí thư chủ nhiệm. Tam doãn đại khái là huyện trưởng, đây là tổ chức của chính quyền huyện. Ông theo cha đi nhậm chức. Ông đi theo cha đến Gia Thiện nhậm chức, cha ông tương đương với chức huyện trưởng của chính quyền huyện. Vì ngưỡng mộ [học vấn] của Tiền Minh Ngô. Tiền Minh Ngô là một vị học giả đương thời, là một lão tiên sinh rất có học vấn và đức hạnh. Nên ông đem bài văn của mình đến thỉnh giáo Tiền tiên sinh. Ông tự viết văn, đem bài văn của mình viết cho Tiền tiên sinh xem. Minh Ngô xem xong, thảy đều gạch bỏ bài văn của ông.

290 Tiền tiên sinh phê bình, chỉnh sửa gần hết bài văn của ông, rất nhiều chỗ đều bị gạch bỏ. Họ Triệu chẳng những không giận mà còn hết lòng khâm phục, nhanh chóng sửa đổi. Thông thường tập khí của văn nhân là luôn thấy văn của mình hay. Người khác sửa văn

Chương TrướcHết chương

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 19

Đang tải bình luận...