phần công danh, ông cũng không có con trai. Điều này là do trong đời quá khứ ông tạo ra, có thể tránh né, có thể cứu vãn, cứu vãn như thế nào? Nay ông hãy nâng cao đức hạnh. Tôi phải sửa sai tự làm mới. Nỗ lực làm thiện, rộng tích âm đức. Âm đức là gì? Là làm việc tốt mà không để cho người khác biết, đây gọi là âm đức, âm đức được quả báo dày. Làm một chút việc tốt mà mọi người đều biết, như hiện nay quý vị được phương tiện truyền thông biểu dương, khen ngợi, giới thiệu quý vị trước xã hội quần chúng. Đây cũng là phước, nhưng phước này lập tức bị báo hết, rất đáng tiếc! Bởi vậy người làm việc tốt thật sự, đừng để người khác biết. Nếu làm việc tốt mà nhất định phải có giới truyền thông đưa tin, phải được báo chí biết đến, thì đây không phải việc tốt thật
52 sự. Tâm này của bạn vẫn chưa rời danh văn lợi dưỡng, bạn không phải dùng chân tâm. Việc thiện này của bạn là giả thiện, là ngụy thiện, không phải chân thiện. Chân thiện thì cần gì để người khác biết? Nếu các phương tiện truyền thông đến đưa tin thì hãy nên tránh né, như vậy mới tốt. Thời xưa, các bậc đại đức tài năng chân thật, thường che giấu tài năng, ẩn cư trong rừng sâu, không ai biết đến, do đó họ tích được đức ngày càng dày. Đến lúc nhân duyên chín muồi, bị người phát hiện, họ có thể vì quốc gia, vì dân tộc mà kiến công lập nghiệp. Trong này chứa đựng rất nhiều học vấn, những điều này chúng ta phải tư duy thật sâu sắc, chúng ta đều phải học tập. Đây là phước do chính ông tu tích được, thì tại sao ông không thể hưởng. Bản thân tạo phước thì đương nhiên bản thân đều được hưởng. Tiếp theo đại sư lại dẫn chứng câu nói trong Kinh Dịch: Kinh Dịch chỉ bày cho người quân tử cách cầu lành tránh dữ. Ngài dẫn chứng hai câu này để tăng trưởng tín tâm cho tiên sinh Liễu Phàm. Nếu nói số mệnh không thể thay đổi, thì điều lành làm sao có thể cầu, điều dữ làm sao có thể tránh. Câu này nói rất hay, nếu nói vận mệnh là nhất định, không thể thay đổi được, vậy thì câu này trong Kinh Dịch nói không thông rồi. Nói cách khác, hai câu trong Kinh Dịch này nói với chúng ta, vận mệnh rất linh hoạt sống động, chúng ta mỗi ngày khởi tâm động niệm, niệm thiện thì tăng phước, phước tăng thêm một phần, niệm ác thì phước giảm bớt một phần. Mỗi ngày chúng ta khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác có cộng trừ nhân chia, ngày ngày đều có
53 cộng trừ nhân chia. Tại sao vận mệnh của người thế gian bị người đoán chắc như vậy? Vì mức độ cộng trừ nhân chia của họ không lớn, không rời trung tuyến của họ quá xa, cho nên đoán rất chuẩn. Nếu mức độ cộng trừ nhân chia rất lớn thì vận mệnh của họ sẽ không chuẩn nữa. Như ở trước nói, người làm việc thiện lớn thì vận mệnh không trói buộc được họ. Người làm việc ác lớn thì vận mệnh cũng không trói buộc được họ, đó chính là mức độ cộng trừ nhân chia lớn. Họ làm việc thiện lớn thì họa liền trở thành phước, nếu họ làm việc ác lớn thì phước sẽ biến thành họa, đạo lý là như vậy. Chương đầu tiên của Kinh Dịch nói rằng: “Nhà tích điều thiện, ắt thừa niềm vui”. Ông có thể tin được điều này không? Những cuốn sách này, bình thường tiên sinh Liễu Phàm thường đọc rất thuộc, đọc rất thuộc, không thể nói ông không hiểu ý nghĩa trong đó, nhưng hiểu chưa đủ sâu sắc. Hay nói cách khác, đọc những sách đó của các bậc cổ thánh tiên hiền, nhưng bản thân không thể áp dụng vào trong cuộc sống. Không cách gì thực hành trong cuộc sống, công việc, xử sự, đối người, tiếp vật, do đó vận mệnh của ông không thể thay đổi được chút nào. Thiền sư Vân Cốc vừa khai thị, ông liền hiểu rõ. Tiên sinh Liễu Phàm nói: Tôi tin tưởng lời của thiền sư, liền lạy tạ rồi xin nhận lãnh lời dạy bảo. Những lời thiền sư Vân Cốc dạy, đã thức tỉnh tiên sinh Liễu Phàm, vận mệnh đích thực là do chính mình tạo, chính mình có thể thay đổi, nhất định phải hiểu tự cầu đa phước. Chúng ta học Phật, có nhiều người hỏi tôi. Họ hỏi, thưa pháp sư vì sao thầy muốn học Phật? Tôi trả lời rất đơn giản, mục đích học Phật của tôi rất đơn thuần, là để nâng cao cảnh giới của mình, đây là nói từ phương diện quả báo. Từ trên nhân mà nói, là để nâng cao đức hạnh của mình. Tích lũy công đức là tu nhân, nhân tốt đương nhiên quả sẽ thù thắng.
54 Khi nghiệp nhân quả báo đến mà bản thân bạn có thể nhận ra được, thì bạn sẽ rất hoan hỷ. Nhà Phật thường nói: “Thường sanh tâm hoan hỷ”, suốt đời đều sống trong niềm hoan hỷ, điều này thật vui sướng! Trong lòng không có âu lo, không có vướng bận, không có vọng tưởng, không có chấp trước, không có phiền não, đây gọi là được đại tự tại. Trong kinh luận thường nói: “Thường sanh tâm hoan hỷ”, suốt đời sống trong thế giới cảm ân, điều này hạnh phúc biết bao! Vì điều này nên tôi mới học Phật. Thật ra, đây là ngày xưa thầy dạy cho tôi. Trước khi học Phật tôi rất yêu thích triết học. Thầy giáo tôi là thầy Phương Đông Mỹ, thầy nói với tôi: “Phật học là tinh hoa trong triết học, là đỉnh cao nhất trong triết học, học Phật là sự hưởng thụ cao nhất của đời người”, tôi bị câu nói này của thầy làm chấn động, cho nên siêng năng học tập. Sau khi tôi xuống tóc xuất gia, đến thăm thầy thầy rất hoan hỷ, thầy nói: “Con đường anh chọn rất đúng, tôi chỉ nói với anh như vậy, không ngờ anh làm thật”. Quả thật là tôi được thầy chỉ dẫn, tôi cũng giống như tiên sinh Liễu Phàm vậy. Tôi tin tưởng lời thầy, lạy tạ rồi xin nhận lãnh lời dạy bảo. Thầy Phương giới thiệu Phật pháp cho tôi, đại sư Chương Gia đặt nền tảng cho tôi, thầy Lý Bỉnh Nam dùng thời gian 10 năm bồi dưỡng tôi. Suốt đời được lợi ích, được an vui, được tự tại. Tiên sinh Liễu Phàm hiểu rồi, giác ngộ rồi, tiếp theo là thật làm. Do đó, tôi đem tất cả những lỗi lầm trước đây. Trong quá khứ đã tạo ra các loại tội ác, đủ thứ sai lầm. Ở trước Phật chí tâm phát lộ sám hối. Phát lộ là không hề giấu giếm một chút nào, nói ra tất cả. Đồng thời viết thành một bài sớ trình bày tất cả.
55 Sớ là văn chương, nghĩa là bản thân hạ quyết tâm phải sửa sai làm mới. Viết một bài văn, cầu Phật, Bồ-tát làm chứng cho mình, dụng ý là như vậy. Trước tiên cầu thi đỗ cử nhân. Trong mệnh của ông không có công danh, cầu điều này trước. “Đăng khoa” là trước tiên cầu thi đậu cử nhân. Số mệnh của ông chỉ có tú tài, tú tài đến cao nhất chỉ là cống sinh, bởi thế ông không có khoa đệ, nói như hiện nay là ông không có học vị. Nguyện làm đủ 3.000 điều thiện để báo đáp ân đức của trời đất, tổ tông. Bắt đầu chân thật đoạn ác tu thiện, phát tâm lớn như thế, điều này rất khó được. Thiền sư Vân Cốc thấy vậy đương nhiên rất hoan hỷ, người này có thể dạy được. Tuy lúc này tiên sinh Liễu Phàm đã 35 tuổi rồi, nhưng có thể thật sự quay đầu, đoạn ác hướng thiện. Vào thời nhà Minh, lúc đó “công quá cách” rất phổ biến. Chúng ta thấy trong lịch sử, rất nhiều vĩ nhân có thành tựu, đều từng dùng phương pháp “công quá cách” này để kiểm điểm sai lầm của chính mình. Thiền sư liền lấy một bản công quá cách đưa cho tôi xem, bảo tôi ghi chép tất cả việc làm hằng ngày lại. Việc thiện thì cộng thêm, việc xấu ác thì trừ đi. Ngài còn dạy tôi trì chú Chuẩn Đề, qua một thời gian ắt có sự linh nghiệm. Tiên sinh Liễu Phàm quả thật là một phàm phu, là hàng sơ học, hơn nữa căn tánh không phải là thượng căn lợi trí, có thể nói là hàng căn tánh trung hạ, cho nên thiền sư Vân Cốc liền dùng phương pháp “công quá cách” để giúp ông. Phương pháp công quá cách hiện nay cũng rất lưu thông ở Đài Loan và Hồng Kông, đều có thể tìm thấy. Trước đây, chúng tôi cũng từng in ấn. Mỗi ngày đều ghi chép lại,
56 việc tốt mình làm hằng ngày đều ghi lại, mỗi ngày gây ra lỗi lầm, phản tỉnh lỗi lầm, lỗi lầm cũng ghi lại. So sánh thiện và ác, hôm nay rốt cuộc ta làm việc thiện nhiều hay ác nhiều? Khi mới làm nhất định là thiện ác hỗn tạp, có thể là ác nhiều hơn thiện, do đó sự cảnh giác của bản thân liền được nâng cao. Ngày ngày siêng năng nỗ lực sửa đổi, hy vọng đến một ngày, mở công quá cách ra là thuần thiện không có ác, như vậy là bạn thành công rồi. Đây là dạy ông thay đổi từ trên sự. Phương pháp này không phải là một phương pháp cao minh, nhưng đối với người thông thường mà nói là một phương pháp rất có hiệu quả. Lại dạy ông trì chú Chuẩn Đề. Trong Phật pháp có tham thiền, trì chú, niệm Phật, tuy phương pháp khác nhau nhưng mục tiêu và công hiệu hoàn toàn giống nhau, đó là nhiếp tâm. Người bình thường không thể không có vọng niệm, chỉ có Phật, Bồ-tát, bậc đại tu hành mới không có vọng niệm. Vọng niệm có hại rất lớn đối với chúng ta, chúng ta phải biết, vọng niệm không những phá hoại tâm thanh tịnh của chúng ta, mà còn có ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe thân thể của chúng ta. Chúng ta xem đức Phật Thích-ca Mâuni lúc còn tại thế, một ngày ăn một bữa, ngày ăn một bữa ngọ, mà ăn rất đơn giản, rất ít. Người bây giờ chúng ta nghĩ “như vậy sao đủ dinh dưỡng?” Chúng ta không hiểu đạo lý, khi hiểu rõ đạo lý rồi thì bỗng nhiên đại ngộ, thì ra dinh dưỡng là bổ sung năng lượng cho chúng ta. Thân thể giống như một bộ máy vậy, bộ máy này vận hành suốt 24 tiếng đồng hồ, khi ngủ cũng không ngừng, tim vẫn đập, mạch vẫn đập, máu huyết đang tuần hoàn, nên cần có năng lượng. Ăn uống là bổ sung năng lượng, như xe hơi cần đổ xăng vậy. Nhưng chúng ta biết, có xe hao xăng, có xe tiết kiệm xăng. Thân thể chúng ta cũng như vậy, thân thể đối với việc tiêu hao năng lượng, có hao năng lượng, có tiết kiệm năng lượng. Rốt cuộc năng lượng hao vào
57 đâu? Hiện nay, chúng tôi thật sự đã hiểu rõ, 95% tiêu hao vào vọng niệm. Như vậy mới biết vì sao người tu hành có thể ngày ăn một bữa? Vì tâm họ thanh tịnh, ít vọng niệm nên họ tiêu hao năng lượng ít, thân thể mạnh khỏe. Phàm phu vọng tưởng nhiều, tạp niệm nhiều, mỗi ngày bổ sung ba bữa còn chưa đủ, còn phải ăn khuya, ăn điểm tâm, từ sáng đến tối đều phải bổ sung, họ tiêu hao quá nhiều năng lượng. Tiêu hao quá nhiều thì chắc chắn ảnh hưởng không tốt đến thân thể. Bởi vậy, bạn muốn giữ gìn thân thể khỏe mạnh thì phải giảm bớt vọng tưởng. Vọng niệm giảm bớt rồi, thì việc ăn uống của bạn tự nhiên cũng giảm bớt. Thân thể mạnh khỏe nhất sẽ không cần ăn uống, vì sao vậy? Dù ăn uống ít đến đâu cũng không có cách nào để hoàn toàn không bị ô nhiễm, không ăn uống thì nhất định sẽ không có ô nhiễm, như vậy thân thể của bạn mới thật sự mạnh khỏe. Cho nên, ăn nhiều không phải là việc tốt, ăn nhiều thì những chất dơ bẩn không thể bài tiết hết, nên mức độ ô nhiễm của các cơ quan trong thân thể bạn sẽ nhiều hơn người khác, hiện nay gọi là “có nhiều cơ hội mắc bệnh”. Người xưa nói là “bệnh từ miệng vào, họa từ miệng ra”, lời này không sai chút nào. Dạy người trì chú, trì chú chính là tu tâm thanh tịnh. Con người chắc chắn có tạp niệm, bạn tập trung ý niệm vào trong câu chú thì tạp niệm liền mất. Dùng một ý niệm để thay thế tất cả các vọng niệm, đạo lý là ở đây, hiệu quả vô cùng rõ ràng. Cho nên, quý vị dùng phương pháp tham cứu cũng được, dùng phương pháp trì chú cũng được, dùng phương pháp niệm Phật cũng được, có rất nhiều phương pháp, nhà Phật nói tám vạn bốn ngàn pháp môn. Pháp là phương pháp, môn là con đường, phương pháp và con đường rất nhiều. Quý vị có thể chọn lựa một hoặc hai phương pháp, để giúp bạn nhiếp tâm, giúp bạn tiêu trừ vọng tưởng. Tâm địa thanh tịnh, trí tuệ liền hiện tiền, chân tâm liền hiện tiền, đây là một loại cách thức và phương pháp tu hành. Thiền sư Vân Cốc dạy ông niệm chú Chuẩn Đề, lại nói với ông:
58 Thiền sư nói với tôi rằng: “Những người vẽ bùa chú thường nói, vẽ bùa không đúng cách sẽ bị quỷ thần chê cười”. Những chuyên gia vẽ bùa niệm chú thường nói, quý vị không biết vẽ bùa sẽ bị quỷ thần chê cười. Quỷ thần không những trêu đùa quý vị, mà có khi còn khiến quý vị không thể chịu được. Trong này có bí truyền. Vẽ bùa có một phép bí truyền, là trong lúc vẽ không được khởi tâm động niệm. Vẽ bùa, trì chú, niệm Phật đích thực là phương pháp khác nhau nhưng công diệu thì như nhau. Đây chính là phương pháp hình thức khác nhau, nhưng nguyên lý mục đích thì hoàn toàn tương đồng, đều phải dùng chân tâm, tức là không khởi một vọng niệm nào thì bùa này sẽ linh. Khi cầm bút lên để vẽ. Là chúng ta cầm bút lên để vẽ bùa. Trước tiên phải buông bỏ hết thảy vạn duyên, một niệm cũng không khởi. Ông phải buông xuống tất cả mọi vọng niệm, một niệm cũng không sanh. Từ chỗ trong tâm không chút động niệm như thế liền hạ bút chấm một điểm, gọi là hỗn độn khai cơ. Từ điểm đó, liên tục vẽ cho đến khi xong lá bùa. Trong quá trình đó mà không khởi lên một vọng niệm nào thì lá bùa đó sẽ linh nghiệm. Vẽ bùa, nhưng bùa này có linh hay không thì bạn phải xem người vẽ bùa. Cho nên bình thường phải luyện tập, luyện thật thuần thục. Khi chúng tôi còn nhỏ, lúc là học sinh cũng thích vẽ bùa, ngày nào cũng luyện, nhưng chúng tôi không hiểu nguyên lý này. Nếu
59 trong lúc vẽ bùa, mà còn khởi vọng niệm, thì bùa này không linh. Đạo bùa này, nhất định là từ khi hạ bút vẽ một điểm cho đến khi vẽ xong lá bùa, phải không khởi một vọng niệm nào. Tâm thanh tịnh, thì bùa này sẽ linh. Từ đó biết được, trì chú cũng như vậy. Lúc trì chú không được xen tạp một vọng niệm ở trong đó, xen tạp một vọng niệm thì chú này không linh. Vậy mới biết, niệm thần chú không dễ, chú càng dài càng khó niệm. Càng dài, thời gian dài rất khó để không có tạp niệm. Nhà Phật thường nói: Đọc kinh không bằng trì chú, trì chú không bằng niệm Phật. Vì sao vậy? Vì kinh dài hơn chú, không vọng tưởng là điều rất khó, chú cũng khá dài, lúc trì không khởi vọng tưởng cũng rất khó. Phật hiệu ngắn, bốn chữ A-diđà Phật, trong bốn chữ A-di-đà Phật này không xen tạp một vọng niệm, thì câu Phật hiệu này sẽ linh. Vừa niệm Phật vừa khởi vọng tưởng thì Phật hiệu này sẽ không linh. Cho nên, những phương pháp này đều là nhiếp tâm, đều giúp chúng ta đạt được tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh là chân tâm, trong tâm có vọng niệm thì tâm này gọi là vọng tâm. Vọng tâm có sanh diệt, chân tâm không sanh không diệt, trong chân tâm không có niệm, nên nó không có sanh diệt. Làm sao có thể đoạn tận sanh diệt, khôi phục được bất sanh bất diệt? Đây là mục tiêu cao nhất trong công phu tu học của nhà Phật, đạt đến bất sanh bất diệt. Đạo lý này rất hiếm có, thiền sư Vân Cốc đã nói cho chúng ta biết. Bên dưới nói: Phàm là việc cầu trời để thay đổi số mạng thì đều phải từ tâm địa thanh tịnh mà cầu cảm ứng tương thông. “Cảm cách” chính là cầu cảm ứng, cầu cảm ứng với tâm tánh, cầu cảm ứng với trời đều phải dùng tâm chân thành. Gọi là “thành ắt linh, không thành thì không được thứ gì”. Lại nói: Mạnh tử luận về học thuyết lập mệnh. Học thuyết lập mệnh là Mạnh tử nói sớm nhất.
60 Nói rằng: “Đoản mạng và trường thọ không phải hai”. Nếu cho đoản mạng và trường thọ là hai sự việc. Vậy khi không khởi tâm động niệm thì ai đoản mạng, ai trường thọ. Mạnh tử nói lời này rất cao minh, “yểu” là đoản mệnh, “thọ” là trường thọ, đoản mạng và trường thọ là một không phải hai, câu nói này người thông thường nghe không hiểu. Đoản mạng và trường thọ khác biệt quá lớn, tại sao nói là một không phải hai chứ? Vì chúng ta nhìn thấy là hai, thấy có sự sai biệt quá lớn, chúng ta dùng tâm gì để nhìn vậy? Dùng tâm phân biệt để nhìn, dùng tâm chấp trước để nhìn, cho nên nhìn nó thành hai. Nếu tâm bạn bất động, trong tâm bạn không có một ý niệm nào, thì trường thọ và đoản mạng đích thực là một không phải hai, vì sao vậy? Vì không có phân biệt, có phân biệt mới có hai ba, không có phân biệt thì làm gì có hai ba? Ai không phân biệt? Thánh nhân không có tâm phân biệt, đức Phật không có tâm phân biệt, Bồ-tát không có tâm phân biệt. Phàm phu có tâm phân biệt, cho nên biến tất cả pháp thế gian thành đối lập. Lớn và nhỏ là đối lập, dài và ngắn là đối lập, thiện và ác là đối lập, chân và vọng là đối lập, tất cả đều trở thành đối lập. Đối lập chính là thuyết tương đối mà các nhà khoa học nói. Sống trong thế gian tương đối, đây là thế gian hư vọng, trong kinh Kim Cang gọi là “mộng huyễn bọt bóng”. Đây không phải là chân tướng của vũ trụ nhân sinh, chân tướng của vũ trụ nhân sinh gọi là “nhất chân”. Nghĩa là nói, trong đó chắc chắn không có tương đối. Đây mới là chân, có tương đối thì không phải là chân. Trong lục đạo là tương đối, trong mười pháp giới vẫn là tương đối, đến nhất chân pháp giới thì tương đối không còn nữa. Chúng ta nói tương đối không còn nữa, vậy có tuyệt đối không? Tuyệt đối cũng không có, hai thứ tuyệt đối và tương đối hình thành lẫn nhau. Tương đối không còn, thì tuyệt đối cũng không còn. Cảnh giới này, trong kinh Phật gọi là “không thể nghĩ bàn”. “Nghĩ” là tư duy, quý vị không thể tư duy,
61 vừa tư duy thì bạn sai rồi. “Bàn” là bàn luận, là nói, cũng không thể nói, nói là sai rồi, “mở miệng liền sai, động niệm liền trái”, đó là nhất chân pháp giới thật sự, đó là thật bình đẳng. Mạnh tử nói những lời này không đơn giản, nếu ngài không khế nhập cảnh giới này, thì không nói được như thế. Cho nên tuy Khổng tử, Mạnh tử không tiếp xúc với Phật pháp, nhưng nếu dùng tiêu chuẩn của Phật pháp để xem Khổng tử, Mạnh tử, thì các ngài cũng là đại Bồ-tát, cũng không phải người bình thường. Ngôn luận của các ngài, sự quan sát của các ngài, trong Phật pháp gọi là cảnh giới của Thất địa Bồ-tát trở lên trong Viên giáo Đại thừa. Nếu chia nhỏ ra để nói. Nghĩa là mở rộng nó ra. Biết được giàu và nghèo không hai, sau đó mới có thể lập mạng chuyển từ nghèo sang giàu. “Phong” là được mùa, năm nay nông dân được mùa, gặt hái tốt. “Khiểm” là gặt hái không tốt. Gặt hái được nhiều, phong phú, thì năm nay có thể sống sung túc. Năm nay mất mùa thì cuộc sống rất khó khăn. Nếu quý vị có thể hiểu “phong khiểm bất nhị”, đó chính là giàu nghèo không hai, thì quý vị có thể lập mạng chuyển từ nghèo sang giàu. Khốn khó và hiển đạt không hai, sau đó mới có thể lập mệnh chuyển từ nghèo hèn sang phú quý. “Cùng” là rơi vào hoàn cảnh khó khăn, làm việc gì cũng gian nan khốn khổ, không thể thành tựu. “Thông” là thông đạt, muốn làm việc gì cũng có rất nhiều trợ duyên, thuận lợi vô cùng. Nếu bạn không hiểu đạo lý này, thì không thể lập mệnh chuyển từ nghèo hèn sang phú quý. Chúng ta muốn hỏi thế gian có giàu nghèo hay không? Có. Có quý tiện hay không? Có. Nên lập mệnh như thế nào?
62 Người nghèo thì an phận nghèo, người giàu an phận giàu, người quý an phận quý, người tiện an phận tiện, người nào sống đúng phận người đó, đây gọi là lập mệnh. Hai bên tôn trọng lẫn nhau, yêu kính lẫn nhau, hợp tác lẫn nhau, đây là thật sự biết mệnh trời. Cho nên, thế gian vĩnh viễn thái bình, xã hội tuyệt đối không thể có động loạn, vì sao vậy? Vì biết mệnh, đây là học vấn, là thực học, là học vấn thật sự. Tiếp theo nói: Đoản mạng và trường thọ không hai, sau đó mới có thể lập mạng chuyển từ đoản mạng sang trường thọ. Hiện tượng sanh tử trong lục đạo đều có, có đáng sợ chăng? Không đáng sợ, sanh tử rất bình thường. Chỉ cần bạn hiểu rõ ràng sáng tỏ đạo lý trong đó, thì bạn còn tham sống sợ chết nữa không? Không còn nữa, sanh và tử là một việc, không phải hai. Người thông đạt, đối với vấn đề sanh tử, xả thân thọ thân giống như mỗi người chúng ta thay quần áo, đổi quần áo vậy. Chúng ta ví quần áo như thân thể, bộ quần áo này mặc đã lâu, bị dơ bẩn, bị rách rồi, thì chúng ta tự nhiên phải cởi nó ra. Thân này không cần nữa, thay một bộ quần áo khác, tức là thay một thân thể khác. Cho nên sanh tử, xả thân thọ thân giống như thay quần áo vậy. Ở đây chúng ta cần phải chú ý, quần áo này càng thay càng đẹp, như vậy thì tốt! Nếu càng thay càng xấu, như vậy là không tốt. Nếu một người làm nhiều việc ác, họ xả bỏ thân thể này, đời sau lại được một thân khác xấu hơn thân này, là thân súc sanh, thân ngạ quỷ, thân địa ngục, thân này ngày càng xấu hơn so với chúng ta. Nếu người này suốt đời hành thiện, hiếu thiện tích đức, sau khi họ xả bỏ thân này thì đời sau sẽ được sanh lên cõi trời, thân trời trang nghiêm hơn thân chúng ta nhiều. Họ được thân Bồ-tát, được thân Phật, ngày càng trang nghiêm hơn. Nếu hiểu được chân tướng sự thật này, hiểu được đạo lý này thì bạn mới thật sự chịu đoạn ác tu thiện. Tuy đoạn ác tu thiện là lợi ích người khác, nhưng lợi người mới thật sự lợi mình, đây là
63 chân lý. Tổn người chắc chắn hại mình, người thế gian thường nói “tổn người lợi mình”. Lời này nói sai rồi, “tổn người chắc chắn hại mình”. Lợi mình là đạt được chút lợi ích nhỏ trước mắt, nhưng mấy mươi năm sau, sau khi bạn chết biến thành ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục, đó thật sự là hại mình rồi, hại mình rất thê thảm, đến lúc đó bạn hối hận cũng không kịp nữa. Bởi vậy, tuyệt đối không được làm điều tổn hại người khác. Người thông minh, người hiểu biết thật sự, nhất định sẽ làm việc lợi ích tất cả chúng sanh. “Văn nhân” là người đi theo sự nghiệp giáo dục văn hóa, ngày nay chúng ta thấy rất nhiều tác phẩm được xuất bản. Có rất nhiều người tặng sách, tặng các tác phẩm cho tôi xem, Trước tiên là tôi xem trang bản quyền. Nếu trên trang bản quyền viết: “Có bản quyền, cấm sao chép dưới mọi hình thức”, vậy sách này tôi không xem, vì sao tôi không xem? Vì tôi nghĩ họ viết chẳng có gì hay, vì tâm họ rất tự tư, họ không có ý lợi ích đại chúng. Tôi không muốn lãng phí thời gian và tinh thần, nên tôi không xem mấy sách như thế. Nếu ở sau in: “Hoan nghênh ấn tống, công đức vô lượng”, thì sách này tôi xem kỹ từ đầu đến cuối, vì sao vậy? Vì tâm họ rộng lớn, họ không có ý niệm tự tư tự lợi. Đây là người tốt, đây là người thiện, sách của họ nhất định có thể đọc, cho nên tôi đọc sách không giống với người thông thường. Như bản thân tôi mấy năm nay, số lượng băng ghi hình và băng ghi âm giảng kinh rất nhiều, thống kê tất cả có đến mấy nghìn loại. Thư tịch cũng có không ít, nhưng tôi hoàn toàn không có bản quyền, hoan nghênh ấn tống, hoan nghênh lưu thông. Người ta có thể lưu thông, ấn tống sách và băng đĩa của tôi, tôi rất cảm kích, coi như họ xem trọng tôi. Nếu họ không xem trọng tôi thì sao phải mất nhiều tiền như vậy để làm việc này? Tôi hà tất phải hạn chế người khác không được ấn tống, không được lưu thông chứ. Vậy thì việc chúng tôi giúp chúng sanh phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui, sẽ vĩnh viễn không đạt được ý nguyện này. Cho nên,
64 chúng tôi hoàn toàn không có bản quyền, hơn nữa còn hoan nghênh mọi người ấn tống lưu thông. Do đó, đối với vấn đề sanh tử đã tham thấu, nhìn thấu rồi, biết được chân tướng sự thật này, cho nên không còn ý niệm tham sống sợ chết nữa. Bất luận khi nào, bất luận bị chết như thế nào, đều sẽ hoan hỷ vui vẻ, vì sao vậy? Vì biết sau khi xả bỏ thân này, lập tức thay một thân khác tốt hơn, thù thắng hơn hiện tại. Tôi có niềm tin, có sự chắc chắn. Con người ở thế gian coi việc sanh tử là quan trọng nhất, nên Mạnh tử chỉ nói về đoản mạng và trường thọ, nhưng kỳ thực hết thảy mọi việc thuận nghịch đều bao gồm ở trong câu này rồi. “Cai” là bao gồm, chỉ cần có thể thấu triệt được cửa ải này, thì trong tất cả mọi cảnh giới đối lập nhau, bạn đều có thể được tự tại. “Hết thảy thuận nghịch”, thuận cảnh hay nghịch cảnh, thiện duyên hay ác duyên, trong mọi hoàn cảnh nhân sự đều bao gồm ở trong đó. Bao gồm ở trong đó là gì? Là không hai. Chúng ta phải nhập vào cảnh giới này, trong đời này chúng ta nhất định sẽ gặp một số người đối tốt với chúng ta, quan tâm chúng ta, đây là có ân huệ. Cũng có một số người bất mãn với chúng ta, ác ý hủy báng, hãm hại, sỉ nhục. Chúng ta dùng tâm như thế nào để đối đãi họ? Dùng tâm cảm ân đối đãi họ. Người tốt với tôi, tôi cảm kích họ, họ giúp đỡ tôi rất nhiều; người không tốt với tôi, người hủy báng tôi, người sỉ nhục tôi, người hãm hại tôi, tôi cũng rất cảm kích họ. Cảm kích họ điều gì? Vì họ tiêu nghiệp chướng cho tôi, thành tựu đức hạnh cho tôi. Tức là nói, họ dùng thủ đoạn này đối với tôi, xem tâm tôi có bình đẳng hay không, tâm tôi còn sân hận hay không? Nếu như tôi còn có một niệm sân hận, còn có một niệm trả thù, thì tôi là phàm phu, công phu không tiến bộ. Họ đối đãi với tôi như thế, cũng giống như một bài thi vậy, tôi đạt tiêu chuẩn rồi. Tôi không có ác ý hay ý niệm trả thù
65 họ, không những không có ý trả thù, mà còn cảm kích họ, cảm ân họ. Cho nên, trong Phật đường nhỏ của tôi, những oán thân trái chủ, những người đối với tôi rất tệ, tôi đều cúng bài vị trường sanh cho họ, ngày ngày tụng kinh lạy Phật cầu phước cho họ, ngày nào cũng vậy. Dù quý vị hãm hại tôi như thế nào đi nữa, tôi vẫn cầu nguyện cho quý vị, tôi xem quý vị chẳng khác gì Phật, Bồ-tát. Vì sao quý vị không tốt với tôi? Vì quý vị không hiểu về tôi cho lắm, cho nên tất cả đều phát sanh từ sự hiểu lầm, hà tất phải tính toán so đo? Tính toán so đo là sai lầm của tôi. Tôi không tính toán so đo, mà tôi cảm ân, tôi tôn kính họ. Khi quý vị gặp khó khăn, cần tôi giúp đỡ, tôi sẽ toàn tâm toàn lực giúp quý vị. Đây là đạo lý làm người, cần phải hiểu thấu triệt “pháp môn không hai”. Pháp môn không hai là nhà Phật nói, chúng ta xem từ chỗ này, xem những gì Mạnh tử nói thì biết nhà Nho cũng khế nhập pháp môn không hai, Nho và Phật là một không phải hai. Sau đó chúng ta lại tỉ mỉ mà quan sát, rất nhiều kinh sách của các tôn giáo trong thế gian, trong mắt của tôi đều là pháp môn không hai. Tôi học Phật, nhưng tôi đi vào giáo đường của các tôn giáo khác, tôi cũng lễ bái, tôi cung kính. Rất nhiều người thấy vậy cảm thấy rất kỳ lạ, tôi nói chẳng có gì kỳ lạ cả, tất cả các vị thần đều là một không phải hai. Tốt rồi, hôm nay chúng ta giảng đến đây thôi. TẬP 5 Chư vị đồng học, xin chào mọi người! Thiền sư Vân Cốc nói tiếp rằng:
66 Cho đến vấn đề tu thân và chờ đợi mọi việc, đây là việc tích đức, cầu trời chuyển đổi vận mệnh. Nói “tu” có nghĩa là khi thân có lỗi lầm thì đều phải sửa đổi và trừ bỏ ngay. Nói đến “đợi” là khi tâm khởi mong cầu, khi trong tâm loạn khởi vọng niệm thì đều phải trừ bỏ sạch sẽ. Đạt đến mức như vậy, đó là đến cảnh giới tâm thanh tịnh không động niệm. Đây chính là học vấn chân thật. Đoạn này là nói đến tu thân. Mạnh tử nói “tu thân và chờ đợi mọi việc”, câu này là nói mình phải tu dưỡng đức hạnh từng giây từng phút. Cho đến “việc tích đức, cầu trời chuyển đổi vận mệnh”. “Tu” nghĩa là tu sửa, đây là thuộc về công phu tu dưỡng. Thân có lỗi lầm, có hành vi ác, cần phải vĩnh viễn đoạn trừ nó. “Sĩ” là chờ đợi, gọi là điều kiện chín muồi thì sự việc tự nhiên sẽ thành công. Trong này cấm kỵ nhất là không được có chút tâm cầu may và suy nghĩ vượt bổn phận nào, cũng không được để cho ý niệm trong tâm loạn khởi vọng động. “Tương nghênh” nghĩa là ý niệm sanh diệt, “giai đương trảm tuyệt” là đều phải đoạn trừ nó, đây là công phu chân thật. Quả nhiên đến được mức độ này thì đã hoàn toàn khôi phục lại tánh đức. Cảnh giới này trong nhà Phật gọi là cảnh giới của đại Bồtát. “Đây chính là học vấn chân thật”, là học vấn thực sự. Mạnh tử nói rất hay: “Học vấn không có thứ gì khác, chỉ là tìm lại bản tánh đã mất mà thôi”. “Phóng tâm” là gì? Là vọng tưởng, tạp niệm, phân biệt, chấp trước, học vấn thật sự là gì? Có thể đoạn trừ tất cả những điều này thì đây là học vấn thực sự. Như vậy thì hoàn toàn có thể khôi phục lại tự tánh, khôi phục lại bản tâm. Tự tánh vốn đầy đủ vô lượng trí tuệ, vô lượng đức năng, vô lượng tướng hảo. Đây là có cầu ắt ứng, có cầu thì nhất định sẽ đạt được nguyên lý chân thật, cầu nguyên lý thật sự thì chúng ta nhất định phải có niềm tin. Thật sự nương theo lý luận phương pháp này để tu học, thì làm gì có chuyện không cầu được? Pháp thế gian và xuất thế gian không có gì mà không cầu được. Đoạn văn bên dưới lại nói:
67 Tuy ông chưa đạt được cảnh giới vô tâm, nhưng nếu có thể trì chú Chuẩn Đề đến mức không nhớ số lượng, không để gián đoạn, trì đến khi thuần thục rồi thì sẽ đạt được cảnh giới trì mà không trì, không trì mà trì. Trì đến lúc ý niệm không khởi nữa thì sẽ thấy linh nghiệm. Đạo lý này là “thành tắc linh, thành tắc minh”. Chúng ta là phàm phu, phàm phu không thể đạt được cảnh giới vô tâm, nghĩa là vô niệm, phàm phu đều có ý niệm. Làm sao để khống chế được ý niệm này? Làm sao để tiêu diệt ý niệm này? Vậy thì phải có phương pháp, thiền sư Vân Cốc dạy Liễu Phàm dùng phương pháp trì chú. Có người đọc cuốn sách này, nghe tôi nói những lời này, quay lại hỏi tôi: “Thưa pháp sư! Chúng con có cần niệm chú Chuẩn Đề hay không? Hay là tiếp tục niệm A-di-đà Phật?” Có không ít người hỏi câu này. Do đây có thể biết, học tập nhưng không khéo dụng tâm, quý vị nghe không hiểu ý nghĩa. Không phải phía trước đã nói với quý vị rồi hay sao? Vẽ bùa, tham thiền, trì chú, niệm Phật, phương pháp không giống nhau nhưng hiệu quả như nhau. Phương pháp cách thức không giống nhau, nhưng mục đích, nguyên lý thì hoàn toàn tương đồng. Họ niệm chú Chuẩn Đề, còn chúng ta niệm A-diđà Phật. Nhưng phải nhớ mấy câu bên dưới, đây là nguyên tắc chung: “Không nhớ số lượng”. Điều này phải xem người như thế nào, người căn tánh trung thượng có thể dùng phương pháp này, người căn tánh trung hạ tốt nhất là nhớ số. Cho nên, chúng ta niệm Phật dùng chuỗi, dùng chuỗi để làm gì? Để nhớ số lượng, mỗi ngày nhất định phải nhớ số lượng bao nhiêu, như vậy có thể tiêu trừ vọng niệm. Công phu có thể đạt được tinh tấn mà không giải đãi, đây là công phu ban đầu. Chư vị nên nhớ, sau mấy năm dụng công, vọng niệm ít đi, tâm địa ngày càng thanh tịnh thì bạn không cần nhớ số nữa. Vì sao vậy? Vì nhớ số vẫn làm phân tâm, đây là phương pháp
68 bất đắc dĩ lúc mới học. Nhớ số lượng, là một ngày nhất định phải niệm mấy vạn câu Phật hiệu, niệm 5 vạn câu, niệm 10 vạn câu. Đây là công phu lúc ban đầu, công phu thuần thục rồi thì không nhớ số lượng nữa, nghĩa là không bị phân tâm nữa. Câu Phật hiệu này tiếp nối câu kia, không nhớ không đếm, như vậy thì tâm quý vị sẽ niệm niệm ở trong câu Phật hiệu, vọng niệm tự nhiên sẽ không sanh nữa. Công phu niệm Phật quý ở chỗ không hoài nghi, không gián đoạn, không xen tạp. Khi công phu thuần thục, đến mức trì mà không trì, không trì mà trì, nghĩa là niệm và không niệm hợp thành một, niệm và không niệm là một không phải hai, quý vị liền nhập vào pháp môn bất nhị, công phu niệm Phật của bạn đã đạt tiêu chuẩn rồi. Cho nên, chúng ta dùng phương pháp niệm Phật hay trì chú đều giống nhau, công phu có rất nhiều cấp bậc, bản thân nhất định phải biết. Ngày nay, chúng ta nhất định phải dùng phương pháp nhớ số, nhớ số là công phu thấp nhất. Từ nhớ số nâng lên không nhớ, không tính số lượng, tiếp tục nâng lên trì mà không trì, không trì mà trì, đó là cảnh giới thứ ba. Chư vị hiểu được đạo lý này thì bản thân bạn sẽ đạt được sự linh nghiệm. Nguyên lý của linh nghiệm là “thành tắc linh”, linh là nói cảm ứng, “thành tắc minh”, minh là nói trí tuệ hiện tiền. Thiền sư Vân Cốc dạy Liễu Phàm, đến đoạn này là hết. Tiếp theo là nói về kinh nghiệm tu trì của tiên sinh Liễu Phàm, làm sao để đem những lời khai thị của thiền sư Vân Cốc, hoàn toàn áp dụng vào trong tư tưởng và hành vi của chính mình. Đây là công phu thật sự, rất đáng cho chúng ta học tập. Tôi trước đây hiệu là Học Hải. Từ “hiệu” của ông, chúng ta cũng có thể thấy được cách làm người của tiên sinh Liễu Phàm. Ông thích đọc sách, hiếu học, nhưng tập khí rất nặng. “Học Hải”, khẩu khí này rất lớn, chúng ta có thể
69 cảm nhận thấy, rõ ràng ông rất cống cao ngã mạn, ông đích thực là người như vậy. Hôm đó đã đổi thành Liễu Phàm. Bắt đầu từ ngày hôm nay, sau khi tiếp thu lời giáo huấn của thiền sư Vân Cốc, ông đã đổi hiệu thành Liễu Phàm, ông đã đổi hiệu của mình, không dùng hai chữ “học hải” nữa, mà đổi thành Liễu Phàm. “Liễu” là thấu triệt, liễu thoát, “phàm” là phàm phu. Bởi vì tôi đã hiểu rõ đạo lý lập mạng, nên tôi không muốn rơi vào trong khuôn khổ của phàm phu nữa. Bây giờ đã hiểu, biết rằng vận mệnh có thể thay đổi. “Số” là có thể đột phá, không muốn tiếp tục làm phàm phu nữa, nhất tâm muốn vượt thoát, cho nên đổi hiệu thành Liễu Phàm. Từ đó trở đi, cả ngày tôi đều thận trọng dè dặt, liền cảm thấy hoàn toàn khác so với trước đây. Trước đây, tôi thường buông thả phóng túng, còn bây giờ bản thân luôn thận trọng lo sợ [mắc phải lỗi lầm]. Ở trong phòng tối [không ai thấy] cũng thường sợ đắc tội với thiên địa quỷ thần. Khi gặp phải người oán ghét, hủy báng, nhưng tôi vẫn có thể thản nhiên chấp nhận. Đây là hiện tượng công phu tu trì mới đắc lực, chúng ta phải thường kiểm điểm lại chính mình, phải nghiêm túc phản tỉnh. Ngày hôm nay của mình có trôi qua vô ích hay không? Nếu công phu của mình không đắc lực, thì ngày hôm nay trôi qua vô ích rồi. Ngạn ngữ thời xưa thường nói, thời gian rất quý báu, “tấc vàng khó mua được tấc thời gian”, thời gian trôi qua rồi thì không trở lại được. Người thật sự thành công, bất luận là thế pháp hay Phật pháp, không ai mà không quý trọng thời gian, không ai mà không quý tiếc thời gian. Ngày ngày cầu tinh tấn, một ngày cũng không để trôi qua vô ích, hạng người này nhất định có thành tựu. Từ lúc này Liễu Phàm mới
70 xem như nghiêm túc dụng công, mỗi ngày đều y theo công quá cách để tự kiểm điểm công phu của mình. Cho nên mỗi ngày nơm nớp lo sợ, do đó cảm thấy không giống trước đây. Trước đây mỗi ngày đều sống buông thả phóng túng, không hề chú ý đến chuyện này, bây giờ cảm thấy mình có công phu thận trọng dè dặt, có một chút cảnh tượng khác trước. Từng giây từng phút có thể nhắc nhở chính mình, chỉ sợ mình lại khởi ác niệm, nói sai, làm sai, ông có ý niệm cảnh giác này. “Thường sợ đắc tội với thiên địa quỷ thần”. Những người này sống khác tầng không gian với chúng ta, tầng không gian cao có thể nhìn thấy tầng thấp, tầng thấp không thấy được tầng cao. Ví như chúng ta nhìn thấy kiến, những loài bò sát nhỏ, chúng sống trong không gian hai chiều, còn chúng ta sống trong không gian ba chiều. Chúng ta hiểu về chúng, nhưng chúng không biết gì về chúng ta. Cùng một đạo lý, sống trong không gian bốn chiều, không gian năm chiều, hiện nay chúng ta gọi đó là thiên địa quỷ thần. Có người hỏi tôi: “Thiên địa quỷ thần có thật hay không?” Tôi cũng không nói với họ là có thật hay giả, tôi nói với họ, bởi vì bây giờ họ đang học khoa học, họ tin vào khoa học. Các nhà khoa học nói, sinh vật sống trong các tầng không gian khác nhau, người thời xưa của Trung Quốc và trong kinh Phật gọi đó là thiên địa quỷ thần. Tầng không gian họ sống cao hơn chúng ta, họ biết về chúng ta, nhưng chúng ta không biết về họ. Cho nên, thiên địa quỷ thần là có thật, không phải giả. Những người này, chỉ cần tâm địa của chúng ta chân thành, thanh tịnh, thì chúng ta cũng có thể đột phá giới hạn của không gian, có thể giao tiếp với họ, câu thông với họ, chẳng phải không làm được. Chúng ta sống trong không gian ba chiều, giao tiếp với không gian bốn chiều và không gian năm chiều không phải là chuyện khó, nhưng tầng không gian cao hơn nữa thì không dễ. Giống như chúng ta là một người dân bình thường, chúng ta giao tiếp với trưởng thôn,
71 tổ trưởng rất dễ dàng, thường gặp mặt. Nếu chúng ta muốn gặp bộ trưởng, tổng thống thì rất khó khăn, vì sao vậy? Vì địa vị họ quá cao, chúng ta không dễ gặp họ được. Đạo lý này cũng giống như vậy. Cho nên, không gian bốn chiều, năm chiều rất gần chúng ta, giống như trưởng thôn và tổ trưởng của chúng ta vậy, dễ gần gũi. Như thiên thần, thiên thần có trời Dục giới, trời Sắc giới, trời Vô Sắc giới, cảnh giới này cao, chúng ta không dễ gì qua lại với họ. Việc đó cần phải có định công sâu hơn, định công bình thường không làm được, trong kinh thường gọi là “thiền định thâm sâu”. Trên quả địa Như Lai, đích thực là đạt đến một niệm không sanh, thanh tịnh đến cực điểm; do đó các ngài đột phá hết toàn bộ vô lượng vô biên các tầng không gian, cho nên không gian mà các ngài sống quá lớn, lớn vô cùng. Hư không pháp giới không gì không biết, không gì không thể. Câu nói này là thật, tuyệt đối không phải là lời khen ngợi hay là lời khoa trương, mà thực tế là như vậy. Trong kinh đức Phật nói với chúng ta, các ngài có năng lực này, Vậy chúng ta có năng lực này hay không? Đức Phật nói tất cả đều có, tất cả chúng sanh đều có năng lực này. Bây giờ ta không có năng lực này, bởi vì hiện nay ta có chướng ngại. Chướng ngại gì? Là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, những thứ này chướng ngại bản thân bạn. Chỉ cần bạn buông bỏ những thứ này, thì trí tuệ liền hiện tiền, năng lực liền hiện tiền, nghĩa là bạn có năng lực đột phá các tầng không gian khác nhau. Bạn đều có thể giao tiếp được với thiên địa quỷ thần, bạn đều thấy được họ. Tuy hiện nay chúng ta không có năng lực này, tâm còn động loạn, chưa có năng lực đột phá. Nhưng cần phải biết, trời đất quỷ thần nhìn thấy chúng ta. Chúng ta khởi tâm động niệm phải nghĩ rằng, họ đang ở bên cạnh chúng ta, do đó tự nhiên không dám khởi ác niệm nữa, tự nhiên từ bỏ hành vi ác. Đạt đến hiệu quả đoạn ác tu thiện, sửa sai đổi mới. Bên dưới đưa ra ví dụ, gặp người oán hận mình, ghét mình, có người hủy báng mình. Trước đây, tiên sinh Liễu Phàm gặp những người này, tuyệt đối
72 không cam tâm tha thứ cho họ, nhất định phải trả thù. Bây giờ ông đã hiểu, không báo thù nữa, tâm an định lại, có thể “thản nhiên chấp nhận”, tâm lượng dần dần rộng lớn hơn, có thể bao dung, đây là công phu tu trì đắc lực. Đến năm sau. Chư vị phải nhớ rằng, năm 35 tuổi tiên sinh Liễu Phàm gặp thiền sư Vân Cốc, năm sau là 36 tuổi. Đến năm sau. Bộ Lễ mở khoa thi. “Khoa cử”, đây là cuộc thi của bộ Lễ. Khổng tiên sinh đoán tôi đỗ hạng ba. Ông tham gia kỳ thi lần này, Khổng tiên sinh xem cho ông, ông thi đứng thứ ba. Đột nhiên thi được hạng nhất. Đây chính là công phu tu trì của ông đã thay đổi vận mệnh, nên ông thi đứng thứ nhất. Lời tiên đoán của Khổng tiên sinh đã bắt đầu không linh nghiệm. Khổng tiên sinh xem cho ông, lần đầu tiên không ứng nghiệm. Đến kỳ thi Hương, vào mùa thu tôi đã thi đỗ cử nhân. Mùa thu năm đó, ông đi thi cử nhân và ông đã đậu cử nhân, trong mệnh của ông không thi đỗ cử nhân. Đây là hiệu quả của việc thay đổi vận mệnh, ứng nghiệm rất rõ ràng, chư vị nên nhớ, chỉ mới một năm! Nói chung khi sửa đổi bản thân, lúc mới bắt đầu tâm luôn dũng mãnh. Trong nhà Phật chúng ta thường nói: “Học Phật năm đầu, Phật ở trước mắt; học Phật năm hai, Phật ở chân trời; học Phật
73 năm ba, Phật hóa mây khói”, không còn nữa, đây là bệnh chung của con người. Năm đầu tiên có thể nói tiên sinh Liễu Phàm rất dũng mãnh tinh tấn, về sau cũng thoái chuyển, tuy thoái chuyển nhưng ông luôn giữ tâm cảnh giác, vẫn rất nỗ lực, nhưng tiến bộ rất chậm, không bằng năm đầu tiên. Năm đầu tiên tiến bộ rất nhanh, về sau thì tiến bộ chậm chạp. Phần sau ông có kiểm điểm lại mình, đây là điều khó được ở ông. Tuy nhiên tôi hành thiện vẫn chưa thuần thục. Ông tự kiểm điểm, tôi đoạn ác tu thiện chưa được thuần thục, còn xen tạp quá nhiều. Kiểm điểm ngôn hành của mình còn quá nhiều lỗi lầm. Ông kiểm thảo hành vi của mình, còn quá nhiều sai lầm. Hoặc thấy việc thiện nhưng làm chưa tận tâm. Biết rằng cần phải siêng năng nỗ lực thực hành, nhưng thực hành chưa đủ, chưa tận tâm. Hoặc khi cứu giúp người, nhưng trong tâm còn do dự phân vân; hoặc có khi thân miễn cưỡng làm điều thiện, nhưng trong tâm lời nói lại có lỗi lầm; hoặc khi tỉnh táo thì giữ gìn được phẩm hạnh, nhưng khi uống say thì lại buông thả phóng túng. Lấy công trừ tội [chỉ sợ vẫn chưa đủ], để ngày ngày trôi qua một cách uổng phí. Đây là ông tự kiểm điểm, mới tu hành, có thể nói đây là hiện tượng bình thường, mỗi người tu hành đều phải trải qua. Đừng chán nản, đừng sợ hãi, không được thoái chuyển, trong sự chậm chạp vẫn cầu tiến bộ là được. Lúc nào cũng tiến bộ, tiến bộ không nhiều, nhưng chỉ cần tiến bộ là được. Chư vị phải biết rằng, không tiến ắt
74 lùi, điều này rất đáng sợ. Không được nói hôm nay mình không có tiến bộ, nhưng cũng không thoái lui, trên thực tế bạn đã thoái lui rồi. Phát nguyện từ năm Kỷ Tỵ. Kỷ Tỵ là năm ông 35 tuổi, chính là sau khi gặp thiền sư Vân Cốc, ông đã phát nguyện đoạn ác tu thiện. Mãi đến năm Kỷ Mão, trải qua 10 năm, tôi mới làm xong 3.000 điều thiện. Phát nguyện làm 3.000 việc thiện tròn 10 năm, từ 35 tuổi đến 45 tuổi mới hoàn thành 3.000 việc thiện. Do đây có thể biết, 3.000 điều thiện khó làm biết bao, nhưng ngày nào ông cũng làm. Mười năm, 3.600 ngày, tính bình quân một ngày ông làm chưa được một việc tốt, cũng may là ngày nào ông cũng làm. Chúng ta biết chân tướng sự thật này, hy vọng chúng ta có thể dũng mãnh hơn ông, ít nhất một ngày làm một việc tốt, có thể làm hai đến ba việc thì càng tốt hơn. Ngày ngày đừng gián đoạn, như vậy hiệu quả của chúng ta chắc chắn vượt hơn tiên sinh Liễu Phàm. Bên dưới ông nói tiếp: Lúc đó tôi đang cùng tiên sinh Lý Tiệm Am đến Sơn Hải quan nên chưa kịp hồi hướng. Năm Canh Thìn trở về miền Nam, thỉnh hai vị hòa thượng là Tánh Không và Huệ Không làm lễ hồi hướng tại thiền đường Đông Tháp. Sau đó bèn phát nguyện cầu sanh con trai và cũng hứa làm 3.000 điều thiện. Năm Tân Tỵ sanh con trai đặt tên là Thiên Khải. Đây là tự thuật lại, ông làm 3.000 việc thiện trước là để cầu công danh, ông đã thi đỗ cử nhân, ứng nghiệm rồi, nhưng dùng hết thời gian 10 năm. Tiếp theo ông lại phát nguyện làm 3.000 việc thiện để cầu con trai, quả là hiếm thấy. Lúc ông 46 tuổi, năm Canh Thìn là ông 46 tuổi, sau khi trở về, mời những người xuất gia như pháp sư Tánh Không, Huệ Không làm lễ hồi hướng ở thiền đường
75 Đông Tháp, 10 năm đã hoàn thành 3.000 việc thiện. Sau khi hồi hướng, ông lại phát nguyện cầu sinh con trai, cũng hứa làm 3.000 việc thiện, hiệu nghiệm này cũng rất nhanh. Đến năm thứ hai, Tân Tỵ là năm thứ hai, tiên sinh Liễu Phàm 47 tuổi, sanh đứa con đầu lòng tên là Thiên Khải. Mỗi khi ta làm một việc thiện thì đều lấy bút ghi lại. Mẹ con không biết chữ nên mỗi khi làm được một việc thiện liền lấy lông ngỗng vẽ một vòng tròn đỏ lên tờ lịch. Vì đoạn ác tu thiện có hiệu quả tốt như thế, nên tín tâm tăng trưởng, hành thiện càng khẩn thiết. Hay nói cách khác, đoạn ác tu thiện ngày càng thuận lợi, hiệu nghiệm ngày càng rõ ràng. Ông hằng ngày tu trì vẫn dùng công quá cách, ghi chép lại trong công quá cách. “Mẹ con không biết chữ”, đây là nói vợ ông, vợ ông không biết chữ, không đi học. Làm được một việc tốt, bà liền dùng lông ngỗng chấm vào chu sa, chu sa là màu đỏ, vẽ một vòng trên tờ lịch, hôm nay làm được một việc tốt, bà dùng phương pháp này để ghi lại. Bên dưới đưa ra ví dụ: Hoặc bố thí thức ăn cho người nghèo. Đây là việc tốt, thấy người nghèo khó, bản thân liền bố thí một ít thức ăn cho họ. Hoặc mua vật phóng sanh. Phóng sanh là cơ duyên, đừng đặc biệt đi mua. Mỗi ngày đi chợ mua thức ăn, thấy những động vật sống này, sau khi mua, chúng đích thực có thể sống được thì bạn hãy mua. Nếu thấy tình trạng của chúng, mua phóng sanh mà chúng cũng không thể sống được, như vậy thì không cần mua. Cho nên, mỗi ngày gặp được thì tùy duyên mua một ít, mua xong thì đem đi phóng sanh. Việc tốt giống như thế:
76 Có khi một ngày làm được hơn mười vòng tròn. Có thể thấy ông làm việc thiện rất cần mẫn, rất siêng năng. Đến tháng 8, năm Quý Mùi đã hoàn thành 3.000 việc thiện. Năm Quý Mùi, tiên sinh Liễu Phàm 49 tuổi. Ở trước là năm Canh Thìn phát nguyện, đến năm Quí Mùi là 4 năm. Lần trước, làm 3.000 việc thiện phải mất 10 năm mới hoàn thành, lần thứ hai phát nguyện làm 3.000 việc thiện, 4 năm là hoàn thành, có thể thấy ông càng làm càng thuận lợi. Lại thỉnh hòa thượng Tánh Không đến nhà làm lễ hồi hướng. Ông làm rất như pháp, cũng rất siêng năng, làm theo quy củ. Làm xong 3.000 việc thiện, lần này ông mời pháp sư đến nhà hồi hướng, tụng kinh hồi hướng. Ngày 13 tháng 9. Ngày 13 tháng 9 cùng năm. Tôi lại phát nguyện cầu thi đỗ tiến sĩ. Mong muốn của ông ngày càng cao, ông hy vọng thi đỗ tiến sĩ, thời xưa tiến sĩ là học vị cao nhất. Tôi hứa làm 10.000 điều thiện, năm Bính Tuất thì thi đỗ. Bính tuất là lại thêm 4 năm nữa. Phát nguyện này xong, 4 năm sau quả nhiên đăng đệ, thi đỗ tiến sĩ, năm đó tiên sinh Liễu Phàm 52 tuổi. Được bổ nhiệm làm tri huyện Bảo Để. Sau khi đậu tiến sĩ, triều đình cử ông đến làm tri huyện ở huyện Bảo Để. Ông nhậm chức ở huyện Bảo Để 7 năm, tức là từ năm 1586
77 đến năm 1592, ông làm tri huyện ở Bảo Để 7 năm. Sau khi nhậm chức, ông nói: Tôi chuẩn bị một cuốn sổ trắng, đặt tên là Sổ Trị Tâm. Mỗi buổi sáng lên công đường, tôi dặn gia nhân trao cuốn sổ đó cho nha dịch, bảo họ để lên bàn làm việc của tôi. Mỗi việc thiện ác làm trong ngày hôm đó, dù nhỏ nhặt đến đâu tôi cũng ghi chép tỉ mỉ vào đó. Mỗi buổi tối, tôi noi gương ông Triệu Duyệt Đạo bày hương án trước sân, đốt hương bẩm báo với Ngọc Hoàng những việc đã làm trong ngày. Tiên sinh Liễu Phàm làm không tệ, rất siêng năng, rất như pháp. Sau khi làm tri huyện, ông chuẩn bị một cuốn sổ, cuốn sách này là giấy trắng, lấy tên là Sổ Trị Tâm, đối trị ác niệm ở trong tâm. Mỗi sáng sớm đi làm, “tọa đường” tức hiện nay gọi là đi làm. Khi đi làm, tùy tùng của ông đem theo cuốn sổ này, giao cho nhân viên ở chỗ làm việc. Những người hầu của ông để nó ở trên bàn làm việc. Những việc thiện ác ông làm mỗi ngày đều được ghi chép lại. Buổi tối, bày một bàn hương án ở trong sân, học theo Triệu Duyệt Đạo. Triệu Duyệt Đạo là người thời nhà Tống, thời Tống Nhân Tông ông làm Ngự sử, làm người công chánh vô tư, cho nên đương thời gọi ông là Thiết Diện Ngự Sử. Mỗi buổi tối ông đều đặt hương án trong sân, cầu nguyện với Thượng đế. Viết tất cả việc thiện ác của mình đã làm trong một ngày thành một bài văn, giống như báo cáo lên Thượng đế vậy. Do đây có thể biết, người này đại công vô tư, tuyệt đối không che giấu lỗi lầm của mình. Cũng dùng phương pháp này để đoạn ác tu thiện, ngày ngày đều như vậy, điều này rất khó được. Hay nói cách khác, nếu là việc xấu, những việc không dám nói với Thượng đế thì ông tuyệt đối không dám làm. Chẳng những không dám làm, mà ý niệm cũng không dám khởi lên. Do đó đến lúc lớn tuổi, hiệu quả đoạn ác tu thiện ngày càng thù thắng hơn, ông nói:
78 Mẹ con thấy cha không làm được nhiều việc thiện nên chau mày nói rằng: “Trước đây ở nhà tôi có thể giúp ông cùng làm việc thiện, nên 3.000 điều thiện mới được hoàn mãn. Nay ông phát nguyện làm 10.000 điều thiện, nhưng ở trong nha môn không có việc gì để làm. Vậy đến bao giờ mới có thể hoàn thành được đây? Đây là mẹ của Thiên Khải nói, tức là vợ ông thấy trong huyện nha này, “Huyện nha” tương đương với ủy ban huyện bây giờ, trong ủy ban huyện không có việc thiện nào để làm. Trước đây ở nhà, thường qua lại với hàng xóm láng giềng, nên làm việc thiện dễ dàng. Bây giờ làm quan, phu nhân của tri huyện đi đến đâu cũng có người tiếp đãi. Hay nói cách khác, không có cơ hội để làm việc thiện, do đó bà rất lo lắng, ưu sầu. Bây giờ ông hứa làm 10.000 điều thiện, biết đến bao giờ mới có thể làm xong? Đây là nhắc nhở tiên sinh Liễu Phàm, tiên sinh Liễu Phàm nghe xong cũng rất ảo não. Ông có cảm ứng. Nửa đêm, bỗng nhiên mộng thấy một vị thần, tôi bèn đem chuyện khó làm đủ 10.000 điều thiện nói với thần. Vị thần nói: “Chỉ cần một việc giảm thuế ruộng cho dân thì 10.000 điều thiện đã hoàn thành rồi”. Đây là cảm ứng, tâm chân thành liền có cảm ứng. Buổi tối, lúc ông ngủ mơ thấy một vị thần, mộng thấy thiên thần. Ông nói với thiên thần, con hứa làm 10.000 việc thiện, sợ rằng rất khó mãn nguyện. Vị thần nói với ông, thiện nguyện của ông đã viên mãn rồi, chính là nhờ việc giảm thuế; 10.000 điều thiện đã hoàn thành, nghĩa là ông đã làm viên mãn rồi. Thiên thần nhắc nhở ông. Đích thực là có việc này. Bên dưới ông nói: Thuế ruộng ở huyện Bảo Để. Đây chính là thuế ruộng.
79 Mỗi mẫu ruộng sẽ thu 2 đồng 3 xu 7 hào. Ông cảm thấy thuế ruộng quá nặng, sau khi ông làm huyện trưởng, bèn giảm nhẹ thuế ruộng. Tôi bèn kiểm tra xem xét lại, rồi giảm xuống còn 1 đồng 4 xu 6 hào. Quả thật là có việc đó. Đích thực là có việc này, đây là việc lúc ông làm huyện trưởng đã làm như vậy, trong mộng thiên thần đều biết được. Nhưng tôi còn có chút hoài nghi. Việc này sao thiên thần lại biết được! Thần nói với ông, một việc này đã viên mãn 10.000 việc thiện của ông rồi. Đúng lúc thiền sư Huyễn Dư từ núi Ngũ Đài đến, tôi liền kể lại giấc mộng cho ngài nghe, rồi hỏi giấc mơ này có đáng tin hay không? Thiền sư Huyễn Dư ở núi Ngũ Đài, họ quen biết nhau đã nhiều năm rồi, thiền sư đến huyện Bảo Để gặp Liễu Phàm. Ông đem chuyện trong mộng thỉnh giáo thiền sư Huyễn Dư, lại hỏi những lời của thiên thần nói có thể tin được không. Thiền sư nói: “Nếu dùng thiện tâm chân thành, khẩn thiết thì làm một điều thiện có thể tương đương với vạn điều thiện”. Đây là căn cứ theo luận lý trong kinh điển để nói, vì sao vậy? Vì làm thiện với tâm chân thành khẩn thiết. Chân tâm không có phân biệt, không có chấp trước. Hôm nay bạn nói làm 3.000 việc thiện, 10.000 việc thiện, 100.000 việc thiện đều là từ trong cảnh giới phân biệt chấp trước biến hiện ra, cho nên bạn vẫn còn giới hạn. Nếu làm bằng chân tâm, chân tâm không có giới hạn, không có phân biệt, không có chấp trước, nên việc thiện nhỏ nhất cũng trọn khắp hư không pháp giới. Rất ít người hiểu được đạo lý này. Cho nên, Bồ-tát
80 làm điều thiện cực kỳ vi tế, nhưng việc thiện nhỏ đó có thể biến thành vô lượng vô biên, biến thành thiện lớn. Người thế gian thường giống như tiên sinh Liễu Phàm, hứa làm 10.000 việc thiện, làm rất gian nan nhưng lại là thiện nhỏ. Vì sao vậy? Vì bạn chưa lìa khỏi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Nói cách khác, nếu có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thì việc thiện bạn làm có giới hạn, có hạn lượng. Nếu lìa khỏi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thì bạn tu điều thiện cực nhỏ cũng không có hạn lượng, sẽ trở thành vô lượng vô biên. Cho nên nói: “Một điều thiện có thể tương đương với vạn điều thiện”, đây là nói với ông, kỳ thực một điều thiện là thiện lớn vô lượng vô biên, chúng ta cần phải hiểu đạo lý này. Cho nên, mở rộng tâm lượng rất quan trọng, chúng ta làm việc thiện lớn nhỏ ở thế gian, có liên quan đến tâm lượng của mình. Tâm lượng càng lớn thì thiện nhỏ sẽ biến thành thiện lớn, nếu tâm lượng rất nhỏ hẹp, thì thiện lớn cũng trở thành thiện nhỏ, đạo lý này không thể không hiểu. Hai câu này là nói từ trên lý, sau đó là nói từ trên sự: Huống hồ ông giảm tiền thuế cho cả huyện, hàng vạn người dân được hưởng phước. Một việc thiện này của ông đã viên mãn cả vạn điều thiện rồi. Ông có thể giảm thuế ruộng, thì nông dân ở huyện này của ông đều được hưởng lợi ích. Ở huyện này của ông đâu chỉ có mười ngàn nông dân, hơn nữa nông dân còn có người nhà. Gia đình họ còn có cha mẹ và vợ con, tất cả đều được hưởng lợi ích. Việc thiện này của ông, cho nên mới nói ở chốn quan trường dễ tu phước. Người thời xưa vì sao phải mong cầu khoa đệ? Vì sao hy vọng được làm quan? Vì làm quan dễ tu thiện, như người dân bình thường muốn tu 10.000 việc thiện thì vô cùng khó khăn. Nếu bạn làm huyện trưởng, chỉ cần làm một việc như vậy thì vạn điều thiện đã được viên mãn rồi, thế nên chốn quan trường dễ tu thiện. Ngược lại, bạn muốn làm ác cũng dễ. Nếu bạn chê thuế ruộng quá thấp, muốn thu thuế nặng hơn,
81 nhiều hơn một chút, tốt thôi, quý vị vừa khởi ý niệm này thì đã tạo thành vạn điều ác rồi, đạo lý là như vậy, thiện ác chỉ trong một ý niệm này. Thời xưa chỉ có người làm quan, vì có địa vị, có quyền thế nên mới dễ dàng, tạo ác hay tu thiện đều tiện lợi, đều dễ dàng. Thời đại hiện nay thì khác, thời đại này tu đại thiện, tạo đại ác trong rất nhiều ngành nghề đều có thể làm được. Hiện nay ngành dễ làm nhất, không gì hơn được giới giải trí, giới điện ảnh, công ty truyền thông. Quyền thao lược này còn hơn cả đế vương, hơn cả lãnh tụ quốc gia. Đặc biệt là độ phủ sóng của vệ tinh và mạng Internet hiện nay. Nếu chúng ta truyền bá những điều tốt, việc thiện lành, thì có thể dẫn dắt chúng sanh, đại đa số quần chúng, khiến họ có thể giác ngộ, khiến họ có thể biết đoạn ác tu thiện, tích lũy công đức, quý vị truyền bá điều thiện này một tiếng đồng hồ, sẽ vượt qua vạn điều thiện của tiên sinh Viên Liễu Phàm. Nếu như chúng ta phát sóng tiết mục xấu ác, dạy người sát - đạo - dâm - vọng thì tội lỗi mà bạn tạo ra trong một tiếng đồng hồ này chính là địa ngục A-tỳ. Do đây có thể biết, người bây giờ không cần cầu công danh, không cần làm quan lớn, nắm đại quyền, không cần! Trong bất kỳ ngành nghề nào, việc đoạn ác tu thiện đều thuận lợi hơn thời xưa rất nhiều. Chúng ta phải hiểu điều này. Hiện nay, khoa học kỹ thuật phát triển, phương diện này có thể cung cấp cho chúng ta một vài phương tiện, nhưng những phương tiện này tuy có ưu điểm nhưng cũng có khuyết điểm, cho nên chúng ta cần nhận thức rõ ràng. Lành dữ họa phước quả thật chỉ trong một niệm của chúng ta. Sau khi thiền sư nói rõ ràng tường tận điều này rồi, tiên sinh Liễu Phàm cũng rất vui mừng. Tôi liền quyên góp tiền lương bổng của mình. Ông quyên góp bổng lộc của mình.
82 Nhờ thiền sư về núi Ngũ Đài làm lễ trai tăng, cúng dường 10.000 vị tăng để hồi hướng công đức cho ông. Trai tăng nghĩa là mời người xuất gia dùng cơm, cúng trai tăng, đây là việc tốt. Mời 10.000 người xuất gia đến nhận sự cúng dường của ông, lấy phước báo này để hồi hướng. Khổng tiên sinh đoán tôi 53 tuổi sẽ qua đời. Khổng tiên sinh xem cho ông, thọ mạng của ông chỉ đến 53 tuổi, năm 53 tuổi ông sẽ chết. Tôi cũng chưa từng cầu trường thọ. Ông không cầu trường thọ, cầu sống lâu, ông không cầu điều này. Nhưng năm đó lại bình an vô sự trôi qua, năm nay tôi đã 69 tuổi rồi. Năm 53 tuổi ông được bình an, dù ông không cầu thọ mạng. Năm đó ông đã 69 tuổi rồi, lúc này ông đã từ chức tri huyện Bảo Để, nghỉ hưu rồi. Từ câu này chúng ta hiểu, bốn bài văn này ông viết vào năm 69 tuổi, dạy con trai của ông là Thiên Khải. Kinh Thư nói: “Đạo trời khó thể tin, mạng số không nhất định”. Lại nói: “Vận mạng không phải là cố định”. Những lời này đều là chân thật không hư dối. Đây là dẫn chứng lời trong Kinh Thư. Đạo trời khó tin, vì sao vậy? Vì mệnh người không phải là cố định, cũng tức là nói định số sẽ thay đổi, không phải là thường hằng. Lại nói vận mạng không phải là cố định, mệnh trời là vô thường, tu đức là quan trọng, những lời này đều là thật, tuyệt đối không phải vọng ngữ.
83 Tôi nhờ vậy mà hiểu được mọi việc họa phước đều do chính mình tự tạo. Đây là lời của thánh hiền, nếu nói họa phước là do trời định thì đó là ngôn luận của người thế tục. Ông hiểu rõ ràng tường tận đạo lý này rồi, do đó phải tiếp thu giáo huấn của thánh nhân. Tự mình phải biết thay đổi vận mệnh, phải biết làm chủ vận mệnh của mình, vậy thì người này là anh hùng hào kiệt. Tuyệt đối không thể giống những người bình thường khác, suốt đời nghe theo sự sắp xếp của vận mệnh, như vậy là hoàn toàn sai lầm. Đặc biệt là không được tạo ác nghiệp, tạo ác nghiệp sẽ tổn giảm phước báo của chính mình, giảm tuổi thọ của chính mình, đây là việc làm ngu si tột cùng. Mặc dù bạn là người giàu có, phú quý của bạn có thể thọ hưởng lâu dài, nhưng do bạn tạo điều bất thiện nên phước của bạn bị tổn giảm, thọ mạng cũng bị tổn giảm, đây là người rất ngu si trong thế gian. Bởi vậy, con người không thể không tiếp thu giáo dục, đặc biệt là không thể không tiếp thu giáo huấn của thánh hiền. Chỉ có tiếp thu giáo huấn của thánh hiền thì mới có thể hiểu lý, mới có thể thay đổi vận mệnh của chính mình, nâng cao cảnh giới của chính mình. Tốt rồi, hôm nay chúng ta giảng đến chỗ này. TẬP 6 Chư vị đồng học, xin chào mọi người! Lần trước chúng ta nói đến Khổng tiên sinh đoán Liễu Phàm 53 tuổi sẽ gặp nạn, nhưng năm đó ông vẫn sống bình an. Ông tổng kết cho con trai rằng: Phàm là họa hay phước đều do chính mình cầu, đây là giáo huấn của các bậc thánh hiền. Nếu nói họa phước là do số mệnh định sẵn, thì đây là
84 cách nói của những người thế tục thông thường, không đáng tin. Tiếp theo ông nói với con trai rằng: Mạng của con không biết sẽ như thế nào. Không biết rốt cuộc mệnh của con sẽ như thế nào? Dù gặp lúc vinh hiển cũng phải thường giữ tâm như lúc nghèo hèn. Mặc dù số mệnh con có vinh hoa phú quý, nhưng bản thân phải thường xem như mình không được như ý. Khi thời vận thuận lợi, cũng thường phải giữ lòng như lúc gặp khó khăn. Nghĩa là làm việc rất thuận lợi, nhưng vẫn thường xem như chưa toại nguyện. Cho dù trước mắt sung túc đầy đủ, cũng phải thường nghĩ như lúc nghèo khổ. Khi được người quý mến kính trọng, phải thường cẩn thận, dè dặt. Khi gia thế được trọng vọng, phải thường nghĩ như lúc địa vị còn thấp hèn. Khi học vấn cao thâm, phải thường nghĩ như lúc mình còn thiển cận. Những điều này là dạy con trai ông phải học cách khiêm tốn. Trong kinh Dịch nói: Sáu hào đều cát tường, thì chỉ có quẻ “khiêm”. Trong Kinh Thư nói càng hay hơn: “Ngạo mạn sẽ bị tổn hại, khiêm tốn thì được lợi ích”. Một người bất luận sống trong hoàn cảnh nào, hoàn cảnh tốt hay hoàn cảnh xấu đều phải khiêm tốn, tuyệt đối không được ngạo mạn, đoạn văn này ý nghĩa rất sâu sắc. Sau đó ông dạy con trai: Xa là nghĩ truyền thừa, xiển dương đức hạnh của tổ tiên, gần là nghĩ che đậy lỗi lầm của cha mẹ. Trên là nghĩ báo ân quốc gia, dưới là nghĩ tạo phước cho gia đình. Ngoài là nghĩ
85 giúp người lúc họ khó khăn, trong là nghĩ ngăn ngừa tà niệm của chính mình. Sáu chữ “tư” này chính là nghĩ, phải thường nghĩ như thế. Sáu điều này đích thực trong Phật pháp gọi là “chánh tư duy”, con người nhất định phải có tư tưởng đúng đắn, sáu điều này là tiêu chuẩn của tư tưởng đúng đắn. Thứ nhất, phải thường nghĩ làm rạng rỡ đức hạnh của tổ tông, điều này là căn bản. Tổ tông của chúng ta là ai? Là tổ tông của dân tộc. Trong lịch sử ghi chép, từ các đời Hoàng Đế như: Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Võ, Chu Công, đây là tổ tông của dân tộc. Tổ tông của mỗi gia đình chúng ta, đều là kế thừa đạo thống của cổ thánh tiên hiền mà có. Nói như hiện nay, câu này nghĩa là phải thường nghĩ đến việc phát triển rộng rãi nền văn hóa truyền thống. Nền văn hóa này có lịch sử rất lâu dài, nền văn hóa này coi trọng sự chung sống hòa thuận giữa người với người, giữa con người với đại tự nhiên, giữa con người với trời đất quỷ thần, đều phải tôn trọng lẫn nhau, kính yêu lẫn nhau, hợp tác hỗ trợ. Phải thường nghĩ làm sao để áp dụng đức của tổ tông vào trong đời sống xã hội hiện nay, có thể làm lợi ích xã hội đại chúng hiện nay. “Gần là nghĩ che đậy lỗi lầm của cha mẹ”, đây là nói đến chỗ gần. Các bậc cổ thánh tiên hiền thường dạy chúng ta: “Chuyện xấu trong nhà không được nói ra bên ngoài”, vì sao vậy? Vì trong nhà có những chuyện không hay, đây cũng là điều khó tránh. Nếu thường nói cho người ngoài nghe, thì tự nhiên người bên ngoài sẽ coi thường gia đình bạn. Thậm chí khiến họ khởi lên ý đồ bất thiện, muốn phá hoại sự hòa thuận trong gia đình của bạn, ngạn ngữ nói: “Họa từ miệng ra”. Gia đình như vậy, xã hội cũng như vậy. Vì sao xã hội ngày nay hỗn loạn như vậy? Nguyên nhân này rốt cuộc ở đâu? Chúng ta suy nghĩ tỉ mỉ, là do chúng ta đã làm trái với giáo huấn của cổ thánh tiên hiền. Cổ nhân dạy rằng: “Không nghe lời người xưa, thiệt thòi ngay trước mắt”. Trước mắt chúng ta sẽ bị thiệt
86 thòi lớn! Lời người xưa là gì? Người xưa dạy chúng ta, đối với xã hội, đối với đại chúng phải “ẩn ác dương thiện”. Nhìn thấy người khác có chỗ không tốt thì đừng nói, tuyệt đối không tuyên dương, cũng không để nó ở trong lòng. Thấy ưu điểm của người khác thì chúng ta nên tán dương. Cách làm này khiến người bất thiện tự cảm thấy hổ thẹn, tôi làm việc ác như vậy mà người ta đều có thể bao dung, đều có thể tha thứ cho tôi. Tôi làm có một chút việc thiện, mà người ta biểu dương, khen ngợi tôi như vậy. Cách này có thể khởi phát tâm liêm sỉ của mọi người, khởi phát lòng hổ thẹn của mọi người. Như vậy xã hội mới có thể an định, thế giới mới có thể hòa bình. Hiện nay những gì chúng ta thấy trước mắt, cho dù trong nước hay nước ngoài đều là trái ngược với lời giáo huấn đó. Xã hội hiện nay là “ẩn thiện dương ác”, những việc xấu ác lại đặc biệt đưa tin nhiều hơn, còn việc thiện thì thường không nhắc đến. Cách làm này khiến người hành thiện thoái tâm, nhưng lại khuyến khích rất lớn đối với người làm ác. Xã hội động loạn, cục diện thế giới bất an đều có nguyên nhân cả. Đây là nói gia đình, cha mẹ, anh em có lỗi lầm đều phải che giấu. Một mực che giấu cũng là sai lầm, cần phải khuyên răn, khuyên cha mẹ, anh em sửa ác hướng thiện. chỉ khuyên răn khi có người trong nhà, trong trường hợp có người ngoài thì tuyệt đối không nói. Chỉ cần có người ngoài, thì chúng ta nhất định phải ẩn ác dương thiện. Phải ghi nhớ lời giáo huấn của người xưa, làm như vậy là đúng. “Trên là phải nghĩ báo ân quốc gia”, phải thường nghĩ đến việc báo ân. Đức Phật dạy đệ tử: “Trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường”. Đệ tử Phật ngày ngày đều tụng bài kệ hồi hướng này, tuy miệng niệm nhưng không thực hành. Cho nên tôi thường nói, không thể thực hành lời giáo huấn của Phật thì chúng ta lấy gì để hồi hướng? Chỉ hồi hướng trên miệng, không có đức hạnh chân thật để
87 hồi hướng. Đây là gạt mình gạt người, đây là sai lầm. “Bốn ân nặng”, thứ nhất là ân cha mẹ, thứ hai là ân thầy tổ, thứ ba là ân quốc gia, thứ tư là ân chúng sanh. Chúng ta sống trên thế gian, ăn, mặc, đi, ở đều nhờ vào đại chúng, con người không thể rời khỏi quần chúng để sống độc lập được, giữa người với người đều có ân đức, chúng ta phải thường nhớ nghĩ. Làm sao để báo đáp? Cống hiến trí tuệ của mình, Cống hiến đức năng của mình để phục vụ cho quốc gia, cho xã hội, đây là việc làm báo ân cụ thể. “Dưới là phải nghĩ tạo phước cho gia đình”, đây chính là nhà Nho dạy người tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.“Tạo phước cho gia đình”, đây là tề gia, trong nhà phải có trật tự. Tiêu chuẩn của trật tự là gì? Tiêu chuẩn là “luân lý”, luân lý là một loại trật tự rất tự nhiên. Chúng ta biết xã hội có trật tự thì xã hội đó an định, quốc gia có trật tự thì quốc gia đó giàu mạnh, gia đình có trật tự thì gia đình đó nhất định sẽ hưng vượng. Cha từ con hiếu, anh thương em kính, chồng công chánh vợ thuận theo, đây là trật tự tề gia tự nhiên, tuyệt đối không phải do Khổng Phu tử chế định ra, cổ thánh tiên hiền chế định ra, như vậy là sai rồi. Người ta chế định ra, vì sao tôi phải học theo họ. Người thông thường nói: “Bị người khác dắt mũi kéo đi”, không phải như vậy! Khổng lão phu tử tuyệt đối không xỏ mũi người khác dắt đi. Thích-ca Mâu-ni Phật cũng tuyệt đối không làm khó người khác. Những gì các ngài nói là đạo tự nhiên, dùng thuật ngữ nhà Phật để nói thì chính là đức năng vốn đầy đủ trong tự tánh, chân tâm, bổn tánh của bạn. Đó là trật tự vốn sẵn có, là thiên nhiên, là tự nhiên, tuyệt đối không phải do con người tạo ra. Chúng ta phải hiểu đạo lý này, sau đó mới thật sự chịu thuận theo giáo huấn của thánh hiền. Sở dĩ các ngài được xưng là đại thánh đại hiền, nguyên nhân ở đâu? Các ngài không hề dạy chúng ta vĩnh viễn nghe theo lời dạy của các ngài, không phải vậy. Nghe theo lời dạy của các ngài là giai đoạn sơ học, khi bạn học đến một trình độ nhất định, cảnh giới của bạn được nâng cao rồi “thì giống như các ngài vậy!” Cho nên
88 đức Phật nói: “Tất cả chúng sanh đều sẽ làm Phật”, mọi người đều bình đẳng. Trong kinh Viên Giác và kinh Hoa Nghiêm nói càng thấu triệt hơn, kinh nói: “Tất cả chúng sanh vốn dĩ thành Phật”, so với sẽ thành Phật càng gần gũi hơn! Cho nên Phật pháp là bình đẳng, nhà Nho nói cũng là bình đẳng, Đạo gia nói cũng là bình đẳng. Các bậc đại thánh, đại hiền trong và ngoài nước xưa nay để lại những lời giáo huấn đều là thanh tịnh, bình đẳng. Đạo lý này chúng ta phải tỉ mỉ mà thể hội, phải thâm nhập thì mới có thể đạt được lợi ích chân thật. Hai câu tiếp theo, “ngoài là nghĩ giúp người lúc họ khó khăn”. Bên ngoài phải thường nghĩ đang có rất nhiều chúng sanh khổ nạn. Đặc biệt là trong thời đại này, phải thường nghĩ đến những người khổ nạn, chúng ta phải giúp đỡ họ như thế nào. Về phương diện sinh hoạt, nhất định phải biết tiết kiệm. Nếu ta tiết kiệm một đồng thì ta có thể giúp người khác thêm một đồng. Trong sinh hoạt một ngày ta có thể tiết kiệm được hai đồng, vậy thì ta có thể giúp người khác hai đồng. Phải có tâm như vậy, phải có nguyện như vậy. Khi gặp người có khó khăn, có việc cấp thiết thì nên toàn tâm toàn lực giúp đỡ họ. “Trong là nghĩ ngăn ngừa tà niệm của chính mình”. Đối với bản thân, đối với bên trong, “nhàn” là phòng ngừa, nhất định phải biết đề phòng tà tri tà kiến. Đặc biệt là trong thời đại này, thời đại này mọi người đều tôn sùng tự do dân chủ mở cửa. Đây là trào lưu của thế giới, không có gì đáng trách. Trước đây, nói đến điều này, khoảng mười năm trước, tôi đến Singapore giảng kinh. Lúc đó tôi chưa ở lâu dài ở Singapore, mỗi năm đi một lần, đến đó giảng một tháng. Pháp sư Diễn Bồi là bạn cũ của tôi, một hôm thầy mời tôi ăn cơm, thầy hỏi tôi: “Pháp sư Tịnh Không à, thầy tán thành quân chủ hay là tán thành dân chủ?” Tôi nói tôi tán thành quân chủ. Ông nói: Thầy lạc hậu rồi. Tôi nói: “Tôi không hề lạc hậu”, ông hỏi tôi vì sao? Tôi nói: “Thời đại quân chủ là Hoàng đế, thầy nói họ có tư tâm
89 cũng được, chúng ta không bàn luận về điều này, họ có tư tâm cũng được. Họ hy vọng con cháu đời đời của họ đều làm Hoàng đế, truyền từ đời này qua đời khác, do đó họ giáo dục đối với người kế thừa rất nghiêm khắc, đây là việc tốt. Nếu người kế thừa của họ làm những việc sai trái thì nhân dân sẽ khởi nghĩa phản kháng, chính quyền của họ sẽ bị lật đổ”. Cho nên, chúng ta thấy trong lịch sử, đế vương khai quốc là dùng hết tâm huyết của mình để bồi dưỡng người kế thừa. Họ mời nhân tài ưu tú nhất của quốc gia, mời những người có học vấn, có đức hạnh đến để dạy dỗ Thái tử, hy vọng tương lai Thái tử trở thành bậc thánh vương, hiền vương. Họ có trách nhiệm, họ muốn ngai vàng được truyền lâu dài. Chính trị dân chủ không có trách nhiệm, họ tại vị, khi được bầu cử, ba bốn năm sau hết nhiệm kỳ là xong, họ không nghĩ sâu xa như vậy. Cho nên, đế vương thời xưa thường nghĩ đến lỗi lầm của mình, làm sao để sửa sai đổi mới, làm sao để lắng nghe kiến nghị của các quan đại thần, họ rất dễ thương! Tôi đọc những cuốn sách này xong thì rất tôn kính họ, cho nên cả đời tôi đều tán thành quân chủ chuyên chế, tôi không tán thành dân chủ. Cách mạng Trung Quốc, tôi rất khâm phục tiên sinh Tôn Trung Sơn, tư tưởng của ông là tập hợp tinh hoa của phương Đông và phương Tây. Tuy ông lật đổ chế độ chuyên chế, nhưng ông chủ trương một đảng chuyên chính, đây chính là kết hợp tinh hoa của văn hóa phương Đông và phương Tây. Ông biết sở trường của quân chủ, cũng biết khuyết điểm của quân chủ; ông hiểu ưu điểm của dân chủ phương Tây, cũng biết khuyết điểm của dân chủ. Cho nên nghĩ ra một đảng chuyên chính, đây là kiến giải vô cùng cao minh. Bởi vì thời xưa, Hoàng đế là người một nhà, chính quyền nằm trong một gia tộc, đây là khuyết điểm của chế độ quân chủ. Còn một đảng chuyên chính, đảng này không phải là một gia tộc, mà tập hợp tinh hoa của toàn quốc, tập hợp những người có đạo đức, có học vấn lại
90 thành một chính đảng để quản lý quốc gia này. Trong đảng có dân chủ, chuyên chế thì sẽ có trách nhiệm. Một điều quan trọng nhất trong trách nhiệm, chính là phải đề xướng chánh tri chánh kiến, ngăn ngừa tà tri tà kiến. Nhất định phải đề xướng giáo dục luân lý đạo đức thì mới có thể phòng ngừa tà tri tà kiến. Nếu không có chánh tri chánh kiến thì chắc chắn không thể phòng ngừa được tà tri tà kiến. Ngày nay rất nhiều nơi trên toàn thế giới, tà tri tà kiến đã tràn ngập khắp xã hội. Điều này rất đáng sợ, đây là nguyên nhân khiến xã hội động loạn, là nguồn gốc của tai họa. Ba năm gần đây tôi ở Singapore, tôi rất khâm phục chính phủ Singapore, họ là một chính phủ có trách nhiệm đối với nhân dân. Lần đầu tiên tôi đến Singapore giảng kinh, bị giám sát rất nghiêm ngặt. Kinh sách mà chúng tôi giảng phải báo cáo với họ, giảng nội dung gì cũng phải báo cáo. Thông qua thẩm tra, họ cho phép rồi thì chúng tôi mới có thể bắt đầu giảng. Nghe nói khi chúng tôi giảng kinh, mỗi một bài giảng chính phủ đều phái nhân viên mặc thường phục đến nghe, giám sát. Nếu nói về những điều tà tri tà kiến, phá hoại đoàn kết xã hội, phá hoại đoàn kết chủng tộc, gây điều thị phi thì lập tức bị cấm chỉ, đây là việc tốt! Hiện nay, thông thường nói đến dân chủ, [mọi người nói] không được tự do ngôn luận, không được tự do xuất bản. Chư vị nên biết, tự do ngôn luận, tự do xuất bản nhất định sẽ tạo thành xã hội động loạn, đó chính là không có ai ngăn ngừa tà tri tà kiến. Dân tộc chúng ta có thể kéo dài đến hôm nay vẫn chưa bị diệt vong, tôi cảm thấy đây là nhờ đế vương các đời bảo vệ chánh tri chánh kiến cho nhân dân, công đức này rất lớn! Phổ biến phòng ngừa tà tri tà kiến trong xã hội, hiện nay người có thể nhìn ra điều này càng ngày càng ít. Cho nên, tôi phân tích cho pháp sư Diễn Bồi nghe, thầy ấy nghe xong, cuối cùng cũng phải gật đầu. Ở đây đưa ra sáu cương lĩnh tư duy, đây là tư duy chánh tri chánh kiến. Bên dưới, tiên sinh Liễu Phàm nói tiếp:
91 Mỗi ngày cần phải biết được lỗi lầm của mình, để mỗi ngày sửa đổi. Một ngày không biết lỗi của mình, an nhiên nghĩ ngày hôm đó mình không có lỗi. Một ngày không có lỗi để sửa thì ngày hôm đó không có tiến bộ. Những lời này đối với chúng ta mà nói là quan trọng hơn bất cứ thứ gì! Trong nhà Phật thường nói “khai ngộ”. Có người hỏi tôi thế nào gọi là khai ngộ? Tôi nói với họ, bạn biết được lỗi lầm của mình là bạn khai ngộ rồi. Bạn có thể sửa đổi được lỗi lầm của mình thì đó gọi là chân tu hành. “Vụ yếu” là nhất định phải, nhất thiết phải. Mỗi ngày đều phải kiểm điểm, phản tỉnh, tìm ra lỗi lầm của mình. Việc quan trọng nhất của các đồng tu học Phật là hai thời công phu sáng tối. Thời khóa sáng tối không phải niệm cho Phật, Bồ-tát nghe, không chú trọng hình thức. Dụng ý của thời khóa sáng là nhắc nhở bản thân, hy vọng hôm nay ta xử sự đối nhân, tiếp vật không quên lời giáo huấn của Phật, dụng ý của thời khóa sáng là ở chỗ này. Thời khóa tối là phản tỉnh, kiểm điểm xem mình cả ngày hôm nay đối người, đối sự, đối vật, có điều nào đã làm đúng, chính xác, có điều nào đã làm sai, thời khóa tối là phản tỉnh. Nếu làm đúng thì ngày mai tiếp tục duy trì, còn làm sai thì ngày mai nhất định phải sửa đổi. Làm công khóa sáng tối như vậy sẽ có công đức, tuyệt đối không phải gõ mõ tụng kinh, niệm Phật cho Phật, Bồ-tát nghe. Sáng niệm một lần, tối niệm một lần, nhưng hoàn toàn không liên quan đến tư tưởng, ngôn hành của mình. Thời khóa sáng tối như vậy không những không có công đức mà còn tạo tội nghiệp! Tạo tội nghiệp gì? Phật, Bồ-tát không ở trước mặt, nhiều nhất là bạn tạc một bức tượng hay vẽ một bức tranh, bạn nhẫn tâm đối trước tôn tượng này, bức tranh này sáng sớm gạt một lần, tối đến lại gạt thêm lần nữa. Tâm của bạn quá tàn nhẫn, tội lỗi này rất lớn. Ngày nay người học Phật rất nhiều, nhưng người thật sự hiểu được đạo lý trong Phật pháp thì không nhiều. Rất hy vọng chư vị đồng học hiểu được tinh thần và ý nghĩa của thời khóa sáng tối, chính là ở đây nói: “Ngày ngày biết
92 lỗi, ngày ngày sửa đổi”. Một ngày không biết lỗi của mình, bạn an nhiên cho rằng mình không có lỗi, tự cho mình là đúng, đây là bệnh nặng. Một ngày không thấy lỗi để sửa thì bạn không cách gì tiến bộ được. Không tiến bộ, nói cách khác bạn nhất định sẽ thoái lui. Người thông minh tài trí trong thiên hạ rất nhiều. Mấy câu ở phía sau, tiên sinh Liễu Phàm rất cảm thán! Không phải không có nhân tài thông minh tuấn tú, có! Họ sở dĩ không thể vun bồi đạo đức, sự nghiệp không thể hiển hách, chính là do sống qua loa tạm bợ, để uống phí cả một đời. Đây là muốn cảnh tỉnh chúng ta, vì sao những người này không thể tăng trưởng đạo đức mỗi ngày? Vì sao đức nghiệp không thể rộng lớn mỗi ngày? Đều do hai chữ “nhân tuần” làm hại. “Nhân tuần” nghĩa là gì? Nói như ngày nay nghĩa là qua loa miễn cưỡng, được ngày nào hay ngày ấy, không siêng năng nỗ lực. Về phương diện đức học, công việc không siêng năng nỗ lực thực hành. Sau cùng: Thuyết lập mạng mà thiền sư Vân Cốc truyền dạy là một đạo lý tinh túy nhất, thâm thúy nhất, chân thực nhất, chính xác nhất. Con nhất định phải nghiền ngẫm cho thật kỹ rồi tận tâm tận lực mà làm, đừng để thời gian quý báu luống uổng trôi qua. Đây là kết luận cuối cùng của phần này, đặc biệt nhấn mạnh học thuyết lập mệnh mà thiền sư Vân Cốc dạy ông. Học thuyết này cực kỳ tinh thuần, tinh túy nhất. “Chí thúy”, “thúy” là thâm, thâm sâu tột cùng. “Chí chân, chí chánh”, “chân” là tuyệt đối không có hư vọng, “chánh” là tuyệt đối không có chút tà ngụy nào. Ông suốt đời tinh tấn tu học, thay đổi vận mệnh. Số mệnh không có công danh nhưng ông được công danh, số mệnh không có con nhưng ông được con
93 trai, số mạng chỉ sống đến 53 tuổi nhưng ông sống đến 74 tuổi, sống nhiều hơn 21 năm. Điều này đủ để chứng minh lời giáo huấn của thiền sư Vân Cốc là chính xác không hề sai. Những bài văn này của tiên sinh Liễu Phàm, vốn là để giáo huấn con cháu đời sau của mình. Con cháu của ông cũng không tệ, biết được đây là những lý luận phương pháp quý báu, họ không tự tư, mà đã đem ra công bố với đại chúng. Hy vọng xã hội đại chúng đều có thể hiểu rõ học thuyết lập mệnh, đều có thể thay đổi vận mệnh của mình. Như vậy khu vực này, quốc gia này của chúng ta, thậm chí mở rộng ra toàn thế giới, mọi người đều có thể y theo lời giáo huấn này mà tu học thì xã hội sẽ an định, thế giới được hòa bình, nhân dân trên toàn thế giới được hạnh phúc. Đây là tâm lượng, đức hạnh của các bậc cổ thánh tiên hiền, đức hạnh của các ngài. Chương này chỉ giới thiệu đến đây. Tiếp theo chúng ta xem phần thứ hai. Phần thứ hai là “phương pháp sửa đổi lỗi lầm”, phần thứ ba là “phương pháp tích thiện”, hai chương này là trọng điểm, là trọng tâm. Nếu dùng phương pháp trong kinh Phật để nói, thì chương thứ nhất là phẩm tựa, là lời tựa, chương thứ hai và thứ ba là chánh tông, phần sau cùng gọi là lưu thông. Chúng ta dùng ba phần để xem bốn thiên văn chương này, vậy thì cơ bản sẽ hiểu rõ tông chỉ của bài văn này. Hiễu rõ ràng tường tận học thuyết lập mệnh, vậy bắt đầu hạ thủ từ đâu? Nhất định phải bắt đầu hạ thủ từ việc sửa lỗi. Con người không phải sinh ra đã là thánh nhân, sao có thể không có lỗi lầm cho được? Khổng tử nói: “Đừng sợ sửa lỗi lầm”, ý là nói có sai lầm thì đừng sợ sửa đổi. Phải có dũng khí sửa sai, phải có quyết tâm, phải có nghị lực để sửa lỗi. Cho nên, ông đem những phương pháp và đạo lý sửa lỗi dạy bảo con trai mình, lỗi lầm dù rất nhỏ cũng phải sửa. Phía trước nói người thông thường chúng ta sống qua loa, tạm bợ, nghĩa là sơ suất những lỗi nhỏ, không xem trọng những ác niệm nhỏ. Do đó, lỗi nhỏ nuôi
94 dưỡng thành lỗi lớn, ác niệm nhỏ dần dần dưỡng thành ác niệm lớn, như vậy hậu quả sẽ không tưởng tượng được. Bây giờ chúng ta xem chánh văn, đoạn thứ nhất nói về “nguyên nhân của việc sửa lỗi”. Tránh họa cầu phước là thường tình của con người, nhưng lành dữ họa phước nhất định có dự báo, đây là điều chúng ta không thể không biết. Mở đầu bài văn, tiên sinh Liễu Phàm trích dẫn ghi chép của người xưa: Các quan đại phu thời Xuân Thu khi thấy lời nói hành động của một người, liền đoán biết được họa phước của họ, thường rất ứng nghiệm. Có thể xem thấy những việc này trong sách Tả Truyện, Quốc Ngữ. Thời đại Xuân Thu, Khổng tử sanh vào thời đại này, lúc đó vẫn là thời nhà Chu. Cuối thời nhà Chu, vương thất suy vi. Rất nhiều chư hầu đối với thiên tử nhà Chu đa phần đều là bằng mặt mà không bằng lòng, mỗi người đều có ý đồ mở rộng thế lực của mình, cho nên Xuân Thu là một xã hội động loạn. Khổng tử sanh trong thời kỳ này, cũng là cảm khái muôn phần! Các vị đại phu thời đó, đại phu là trợ thủ của quốc vương, chư hầu. Đại khái trong tổ chức chính trị hiện nay, các nhân vật như Bộ trưởng, Thủ tướng đều thuộc tầng lớp đại phu này. Họ gặp rất nhiều người. Họ có học thức, kinh nghiệm phong phú, nhìn thấy cử chỉ của người này, nghe lời nói của người này “liền đoán biết được họa phước của họ”, “ức” là suy đoán, nghĩ đến lành dữ họa phước sau này của họ, đều có thể đoán được rất linh nghiệm. Những vấn đề này đều ghi chép trong Tả Truyện, Quốc Ngữ. Tả Truyện và Quốc Ngữ đều là trước thuật của Tả Khưu Minh. “Chư Ký” giống như “Công Dương Truyện” và “Cốc Lương Truyện”, chúng ta đều có thể thấy rất nhiều ghi chép rất rõ ràng. Đây chính là nói rõ, lành dữ họa phước sẽ có dự báo. Đoạn văn nói tiếp:
95 Đa số điềm báo của cát hung đều khởi lên từ tâm rồi biểu hiện ra lời nói và việc làm. Trong tâm con người tồn tại ý niệm thiện ác, những hạnh nghiệp thiện ác mà bạn tạo ra, không che giấu được người. Quý vị có thể che giấu lừa gạt được người ngu si, nhưng không giấu được người có đạo đức, có học vấn. Ta không che giấu được những người này, quả thật họ vừa nhìn thì đã thấu rõ ruột gan chúng ta. Thế gian hiện nay vẫn còn người như vậy, trong đời tôi gặp được vài người, ba vị thầy của tôi đều rất hiếm có. Thầy Phương Đông Mỹ, đại sư Chương Gia, cư sĩ Lý Bỉnh Nam, họ đều có năng lực này. Tiếp xúc đại chúng, đôi lúc cũng nói đến người nào đó bạc mệnh, không có phước báo, không có thọ mạng. Người nào đó tâm địa thuần hậu, tích lũy công đức, tương lai chắc chắn có phước báo, họ cũng có thể thấy một cách rất rõ ràng sáng tỏ. Đối với những người phước mỏng đều sanh tâm thương xót, dạy họ sửa lỗi tu thiện, sáng tạo vận mệnh. Lúc tôi còn trẻ, thuộc hạng người không có phước báo, đoản mệnh, tôi thuộc hạng người này. Nhưng tôi chịu học tập, chịu nghe lời thầy, cho nên thầy rất thương tôi, dạy tôi thay đổi vận mệnh, tự cầu đa phước, cho nên những điều dự báo này đều rất rõ ràng. “Khởi lên từ tâm rồi biểu hiện ra lời nói và việc làm”, khởi tâm động niệm ở trong lòng tự nhiên biểu hiện ra bên ngoài, chính là ngôn ngữ và cử chỉ, làm sao để nhận ra? Ở đây đưa ra một nguyên tắc: Những người nhân hậu rộng lượng thường được phước. Những người hẹp hòi khắt khe thường gặp tai họa. Đây là hai nguyên tắc quan sát người, Bạn nhìn thấy người này tâm địa lương thiện, nhân hậu, đối đãi người trung hậu, lúc nào cũng lo nghĩ cho người khác thì người này tương lai có phước. Nếu ngược lại, người này tâm lượng nhỏ hẹp, khởi tâm động niệm đều vì lợi ích cho riêng mình, làm những việc tổn người lợi mình. Đối với mình không có lợi ích thì họ tuyệt đối không làm, rất hà khắc với
96 người khác. Người như vậy không có phước báo, mặc dù trước mắt họ có phước báo, trước mắt có phước báo, đó là phước trong mạng của họ, phước trong mạng không hề nhỏ. Vì họ có tâm bất thiện, hành vi bất thiện cho nên phước của họ đã bị tổn giảm, bị tổn giảm nhưng vẫn còn dư phước. Do đây có thể biết, nếu họ giữ tâm tốt, làm việc tốt thì phước báo của họ suốt đời hưởng không hết, dư phước của họ nhất định con cháu đều hưởng được. Đây là chân tướng sự thật. Mắt phàm tục không nhận rõ nên nói họa phước không nhất định, không thể dự đoán trước được. Người thế tục không có học vấn này, không có thường thức này, giống như bị thứ gì đó che mất tầm nhìn vậy, hiện nay chúng ta gọi là bệnh đục thủy tinh thể. Mắt bị màng trắng gây chướng ngại tầm nhìn, khiến bạn không nhìn thấy gì. Nói họa phước không có nhất định, hơn nữa còn không cách gì dự đoán trước, đây là cách nhìn nhận của người thế tục. Người thật sự có học vấn, có đức hạnh, họ không nhìn nhận như vậy, họ thấy rất rõ ràng sáng tỏ. Tiếp theo nói: Tâm chí thành hợp với lòng trời. Khi thấy người tâm hạnh thiện lương thì biết trước phước của họ sắp đến. Khi thấy người tâm hạnh bất thiện thì biết trước họ sắp gặp họa. Đây là nói rõ họa phước có thể biết trước, có thể dự đoán khá chuẩn xác. Chúng ta có năng lực này hay không? Đáp án là khẳng định. Ở đây, câu đầu tiên ông đã nói:“Tâm chí thành hợp với lòng trời”. Chúng ta muốn có năng lực này thì chỉ cần làm tốt bảy chữ này là được. Nếu chúng ta khởi tâm động niệm là chân thành thì hợp với phép tắc tự nhiên. “Thiên” chính là phép tắc tự nhiên, không thêm một tơ hào ý nghĩ nào vào trong đó. Tơ hào ý nghĩ này, chúng ta thường nói là vọng tưởng, phân biệt, tuyệt đối không thêm một chút vọng tưởng, phân biệt nào vào trong đó thì chúng ta cũng có
97 năng lực này. Tâm địa chân thành, thanh tịnh, bình đẳng thì năng lực này liền hiện tiền. Một người phước báo sắp hiện tiền, bạn thấy họ: “Tâm hạnh thiện lương thì liền đoán trước được”. Bạn có thể nhận ra được tâm họ thiện, lời nói thiện, hành vi thiện, nhân hậu với người khác thì chúng ta có thể đoán được phước báo của họ sắp đến rồi. Nếu tư tưởng ngôn hành của họ bất thiện thì chúng ta biết họ ngày càng gần với tai họa rồi. Nhỏ là quan sát một người, lớn thì quan sát xã hội này, quan sát một gia đình, quan sát một đoàn thể, cho đến quan sát quốc gia, thế giới, mọi thứ đều chính xác. Trong này có đạo lý, có học vấn, tuyệt đối không phải vọng ngữ. Bản thân chúng ta phải biết, trong đời mình, đặc biệt là lành dữ họa phước trong tương lai, phải phản tỉnh từ chỗ này. Phản tỉnh từ khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác của chúng ta. Nếu thuần thiện thì ta có thể khẳng định là tiêu tai phước đến. Nếu tâm mình bất thiện, lời nói bất thiện, nói lời ngon ngọt lừa gạt chúng sanh, hành vi bất thiện thì bản thân phải cảnh giác, họa hoạn và tai họa nhất định là ngày càng gần kề. Từ cá nhân đến gia đình, đến xã hội, đến quốc gia, đến thế giới đều như vậy cả. Bên dưới là nói về “nền tảng sửa lỗi”. Nay muốn được phước lành, tránh xa tai họa. Đây chính là cầu lành tránh dữ. Đừng vội bàn đến việc hành thiện, mà hãy sửa đổi lỗi lầm trước. Hai câu này vô cùng quan trọng! Cho nên thứ tự sắp xếp của hai phần “phương pháp sửa lỗi” và “phương pháp tích thiện” là từ đây mà ra. Trước khi chúng ta nói đến hành thiện tích đức, thì đầu tiên phải nói đến việc sửa lỗi, vì sao vậy? Nếu không sửa lỗi, hoặc sửa đổi không triệt để, sửa đổi không rốt ráo. Tuy tu thiện, nhưng trong thiện lại xen lẫn điều ác, thiện cũng không thuần, cho nên công đức
98 của thiện không thể hiển lộ. Do đó, sửa lỗi là điều kiện tiên quyết của việc tích thiện. Tốt rồi, hôm nay chúng ta giảng đến chỗ này. TẬP 7 Chư vị đồng học, xin chào mọi người! Mời xem Liễu Phàm Tứ Huấn, phần thứ hai: “Phương pháp sửa lỗi”, chúng ta bắt đầu xem từ đoạn thứ hai. Nhưng muốn sửa lỗi, thứ nhất là phải phát tâm hổ thẹn. Hãy nghĩ các vị thánh hiền thời xưa đều là đại trượng phu như ta, nhưng các ngài có thể làm bậc thầy của muôn đời, còn ta vì sao cả đời chỉ như gạch vụn vô dụng, mê đắm trần tình, lén lút làm những việc bất nghĩa, còn cho rằng không ai biết, ngạo mạn không chút hổ thẹn, ngày càng trầm luân vào đường cầm thú mà không hề hay biết. Trên thế gian không có việc gì đáng nhục nhã hổ thẹn bằng việc này. Mạnh Tử nói: “Việc quan trọng nhất của một người là biết hổ thẹn. Biết hổ thẹn sửa lỗi thì sẽ trở thành thánh hiền, còn không biết hổ thẹn sửa lỗi thì chẳng khác gì cầm thú”. Đây là chỗ then chốt của việc sửa lỗi. Nói đến sửa đổi lỗi lầm, tiên sinh Liễu Phàm đưa ra ba điểm. Thứ nhất chính là tâm hổ thẹn, gọi là biết hổ thẹn là gần với dũng vậy, dũng là mạnh dạn sửa lỗi làm mới. Cho nên, ở đây câu đầu tiên ông nói: “Nhưng muốn sửa lỗi”, phương pháp sửa lỗi, thứ nhất là “phải phát tâm hổ thẹn”. Người biết hổ thẹn thì họ tuyệt đối không khởi lên một vọng tâm, không động một ác niệm. Phải thường nghĩ đến các bậc đại thánh đại hiền thời xưa, chúng ta đều là người như vậy. Trong kinh điển đức Phật thường nói với chúng ta, chúng ta và
99 chư Phật Như Lai vốn đều là phàm phu như nhau, nhưng vì sao các ngài có thể thành Phật, thành Bồ-tát, thành thánh, thành hiền, còn ta tại sao lại không thể chứ? Lấy tiêu chuẩn này để quan sát, thì tâm hổ thẹn của chúng ta liền sanh khởi. Bởi vậy các ngài đích thực làm bậc thầy của muôn đời. Khổng Phu tử truyền đến nay đã hơn 2.500 năm, đức Phật Thích-ca Mâu-ni truyền đến nay cũng gần 3.000 năm. Vì sao ở thế gian này [giáo huấn của các ngài có thể] không phân quốc gia, không phân chủng tộc, thậm chí không phân biệt tôn giáo. Lưu truyền đến ngày nay, trên thế gian vẫn còn rất nhiều người tôn kính các ngài, tiếp thu giáo huấn của các ngài, học tập theo các ngài? Đây gọi là đại trượng phu. Các ngài có thể làm được, vì sao ta lại không làm được? Nếu con người thường có tư duy này thì nhất định có thể nỗ lực vươn lên. Tiếp theo nói, đây là nói khuyết điểm của chính chúng ta: “Còn ta vì sao cả đời chỉ như gạch vụn vô dụng”, “ngõa liệt” là giống như gạch ngói vụn vậy, không đáng một xu! Bệnh của chúng ta là “mê đắm trần tình”, “đam” là vui sướng thái quá, “nhiễm” là ô nhiễm. Người thế gian đắm nhiễm trong thất tình ngũ dục, không biết dục vọng đó không phải là thật. Trong này có vui, không sai, thánh nhân cũng không phản đối, nhưng cái giá bạn phải trả quá lớn. Hay nói cách khác, cái được không bủ nổi cái mất. Cái giá quá lớn này, nếu không phải đức Phật nói với chúng ta rất tường tận trong kinh điển thì chúng ta có nghĩ thế nào cũng nghĩ không ra, cái giá chúng ta phải trả quá lớn, cái giá này chính là lục đạo sanh tử luân hồi. Nếu thật sự hiểu rõ ràng sáng tỏ rồi thì mới biết rất đáng sợ. Thế xuất thế gian không có gì đáng sợ hơn điều này. Từ đó thấy được, các bậc thánh hiền ở thế gian này cũng không lìa khỏi thất tình ngũ dục, nhưng họ rất xem nhẹ tình cảm và dục vọng. Hành vi của họ hợp lễ, hợp pháp, “lễ” là nhất định phải có tiết độ. Nói cách khác, hành vi không được quá đáng, cũng không được bất cập. Bất cập là không hợp lễ, quá đáng cũng không hợp lễ. Cho nên nói “lễ” là nói đến
100 “tiết”, tiết là tiết độ. Trong giáo dục của cổ thánh tiên hiền, trong gia đình kết hôn sanh con, vợ chồng kính trọng nhau như khách. Họ đều có chừng mực, tuyệt đối không phóng túng, đắm nhiễm dục vọng, tuyệt đối không như vậy, không giống như xã hội hiện nay! cho nên gia đình họ hòa thuận, gia đình có trật tự. Đặt câu này ở trước có dụng ý rất sâu sắc, nói ra gốc bệnh của phàm phu chúng ta. Vì sao phàm phu không thể thành thánh, gốc bệnh là ở đây. Bây giờ chúng ta nói đến chỗ thô thiển nhất, con người thích hưởng thụ thất tình ngũ dục, nhưng con người càng quý trọng sinh mạng của mình hơn. Đến lúc phải xả bỏ, đại khái họ cũng có thể xả bỏ thất tình ngũ dục, nhưng không muốn xả bỏ thân mạng của mình; không những thế, còn hy vọng mình được trường thọ, đây đều là thường tình của con người. Nếu bạn muốn bản thân được trường thọ, vậy thì trong các phương diện cuộc sống bạn phải biết cách tiết chế. Lời người xưa nói không sai: “Bệnh từ miệng vào, họa từ miệng ra”. Bạn muốn tránh xa tai họa, thì ngôn ngữ nhất định phải cẩn trọng, thái độ nhất định phải cẩn thận. Nếu bạn muốn thân thể mạnh khỏe, thì bạn nhất định phải cẩn thận trong việc ăn uống sinh hoạt. Ngày nay rất nhiều người hy vọng mạnh khỏe trường thọ, nhưng họ không hiểu đạo lý này. Cho nên từ tuổi trung niên trở về sau, thân thể đã bị suy nhược, không hiểu đạo dưỡng sinh! Tôi tiếp xúc Phật pháp, lúc đó tôi 26 tuổi. Tôi tiếp xúc nửa năm, hiểu được lợi ích của việc ăn chay, có lợi cho sức khỏe thân thể, tôi liền quyết định ăn chay trường. Tôi học Phật nửa năm là ăn chay trường, từ 26 tuổi đến nay là tròn 50 năm rồi. Lúc đó, một số cấp trên, đồng học, bạn bè của tôi đều nói tôi mê muội, khuyên tôi không nên làm như vậy. Tuổi tác còn trẻ, có thể học Phật, nhưng Phật giáo có rất nhiều việc không thể làm! Tôi nói với họ, tôi biết Phật giáo quá trễ, thời xưa rất nhiều người mười mấy tuổi đã biết, đã tiếp xúc, tôi đến 26 tuổi mới được nghe, quá trễ rồi! Nhưng đến khi
101 lớn tuổi, lúc 56 tuổi, những người bạn này nhìn thấy tôi, thái độ trước đây hoàn toàn thay đổi, họ thấy tôi đều nói: “Con đường thầy đi là đúng”. Bây giờ, hai mươi mấy năm sau gặp lại tôi, ai cũng đều ngưỡng mộ tôi! Trước tiên ngưỡng mộ điều gì? Ngưỡng mộ tướng mạo của tôi thay đổi, thể chất của tôi thay đổi. Năm nay tôi 75 tuổi nhưng chưa từng sanh bệnh, thân thể tôi rất mạnh khỏe. Năm ngoái chính phủ Úc cho tôi lưu trú vĩnh viễn, theo quy định thì phải đi kiểm tra sức khỏe. Sau khi kiểm tra xong bác sĩ nói với tôi: “Pháp sư, thầy đến kiểm tra là thừa”. Tôi nói: “Thừa cũng phải kiểm tra”, đây là gì? Đây là đạt được lợi ích đầu tiên trong việc tu học Phật pháp. Mọi người đều có thể thấy được rõ ràng. Thể lực của tôi hiện nay, có lẽ vẫn có thể thi với người ba, bốn mươi tuổi. Ông hỏi tôi: “Rốt cuộc thầy ăn gì vậy? Dùng loại dinh dưỡng nào?” Tôi nói: “Tất cả các thứ dinh dưỡng tôi đều không đụng đến”, vì sao vậy? Vì những thứ đó đều có tác dụng phụ, sống càng đơn giản càng tốt, chỉ có rau xanh và đậu hũ. Tôi uống nước trắng, không uống những đồ uống khác. Trong đồ uống, nói thật ra thì người bây giờ gọi là vệ sinh, trong những đồ uống đó không hề vệ sinh, trong đó có rất nhiều loại hóa chất. Đến trà lá, trừ những trường hợp xã giao, người ta chuẩn bị sẵn nước trà, vì tôn trọng người ta nên chúng tôi cũng uống trà. Bản thân tôi không uống trà, chỉ uống nước trắng. Ăn rất ít, tuyệt đối không ăn vặt. Mỗi ngày thời gian tôi đọc sách rất nhiều, buổi tối đều đọc đến khoảng 12 giờ mới đi ngủ, buổi sáng khoảng hơn 6 giờ thức dậy. Không có công việc gì thì sau khi ăn cơm trưa xong nghỉ ngơi một lát, có việc thì có thể không cần nghỉ. Tinh thần sung mãn, công việc bình thường. Quý vị có thể nói ăn chay không có dinh dưỡng hay sao? Tôi có thể làm chứng minh cho quý vị. Bạn xem có rất nhiều người xuất gia, sức khỏe đều rất tốt, cũng rất mập mạp, họ không hề ăn thịt!
102 Nhân tố mạnh khỏe thật sự là tâm địa thanh tịnh, không có vọng tưởng, không có tạp niệm. Tiếp theo là ăn uống ngủ nghỉ như pháp, có quy củ, có tiết chế, tuyệt đối không tiêm nhiễm ngũ dục lục trần, như vậy tâm của bạn mới thanh tịnh. Nhất định phải buông bỏ danh văn lợi dưỡng, buông bỏ tham sân si mạn, tâm địa thanh tịnh là nguyên nhân chính để được mạnh khỏe. Tất cả tùy duyên mà không phan duyên, đây là ngoại duyên để được mạnh khỏe. Có nguyên nhân chính và có ngoại duyên thì quả báo mạnh khỏe tự nhiên hiện tiền. “Mê đắm trần tình”, “trần” chính là ngũ dục lục trần. Ngũ dục là: tài, sắc, danh, thực, thùy; lục trần là: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, những thứ này nhất định phải có tiết chế. Nếu không có tiết chế, mặc sức phóng túng thì hậu quả không thể tưởng tượng được, bạn nhất định sẽ phá hoại cơ thể mình. “Lén lút làm những việc bất nghĩa”, bất nghĩa là những việc không nên làm, bất luận là đối người, đối sự hay đối vật nhất định phải nghĩ, ta có nên làm hay không? Nói chuyện, phải nghĩ lời này ta có nên nói không? Người thật sự chú ý đến tu dưỡng, họ hiểu được nên rất cẩn thận. “Lén lút làm những việc bất nghĩa, còn cho rằng không ai biết”, tưởng rằng người khác không biết, vậy là sai rồi. Người xưa nói: “Nếu muốn người không biết, trừ khi bản thân đừng làm”, dù che giấu kỹ đến đâu, cuối cùng cũng có ngày bại lộ, làm gì có chuyện người khác không biết cho được? “Ngạo mạn không chút hổ thẹn”, “ngạo” là ngạo mạn, “vô quý” là không có tâm hổ thẹn. “Tàm” chính là lương tâm bị cắn rứt, “quý” là ngăn chặn dư luận. Người bên ngoài phê bình bạn, nhưng bạn không quan tâm. “Vô quý” tức là không quan tâm để ý, ngày nay chúng ta gọi là mặt dày. Hành vi như vậy, “ngày càng trầm luân vào đường cầm thú mà không hề hay biết”. Câu nói này, chúng ta phải tỉ mỉ mà quan sát, “cầm thú” là ba đường ác, ý nói là bạn nhất định sẽ trôi lăn trong ba đường ác, nhưng bản thân bạn vẫn
103 không cảm nhận được. Trong kinh đức Phật thường nói: “Thân người khó được, Phật pháp khó nghe”. Chúng ta mất thân người rồi, đời sau lại được thân người, trường hợp này rất ít, đa phần đều không thể được lại thân người. Điều kiện được thân người là gì? Không chỉ là Phật pháp, các bậc cổ thánh tiên hiền đều nói với chúng ta. Như trong kinh Phật nói về ngũ giới thập thiện, nhà Nho nói về luân thường đạo đức, ngũ luân thập nghĩa. Bạn có thể làm đầy đủ không thiếu sót thì đời sau nhất định được thân người. Đời này chúng ta có thể được thân người là do trong đời quá khứ chúng ta tu ngũ giới thập thiện cũng không tệ, cho nên đời này được quả báo như vậy. Nhưng đời này chúng ta không tiếp tục tu hành nữa thì sao? Như vậy phải hỏi lại chính mình. “Trên thế gian không có việc gì đáng nhục nhã hổ thẹn bằng việc này”, Câu này nghĩa là nói, các bậc thánh hiền đó vốn giống như ta, ngày nay các ngài làm thánh, làm hiền, làm Bồ-tát, làm Phật, sanh lên cõi trời, còn chúng ta ngày nay tư tưởng, kiến giải, ngôn hành đều bất thiện, tiền đồ của chúng ta là tương lai làm ngạ quỷ, địa ngục, súc sanh, quả báo thật khác biệt quá lớn. Chúng ta thấy các ngài, quả thật là đáng xấu hổ! Có người hỏi tôi, thưa pháp sư, vì sao thầy học Phật? Tôi trả lời rất đơn giản, học Phật nghĩa là học thánh nhân, học làm một người hiểu biết, chỉ có hiểu biết mới có thể nâng cao cảnh giới của chính mình. Hiện tại sống cuộc sống như chư Phật, Bồ-tát, tương lai nhập vào cảnh giới của chư Phật, Bồ-tát. Chúng ta học Phật, mục đích thật sự là ở đây. Thân thể này hiện nay vẫn còn, vẫn chưa rời bỏ nó, chúng ta phải coi thân thể này như một công cụ, làm một số việc tốt cho xã hội, cho chúng sanh. Người hiện nay nói, vì nhân dân phục vụ, vì quốc gia phục vụ, vì chúng sanh phục vụ. Thân thể này là một công cụ. Trong Liễu Phàm Tứ Huấn nói, chính là sửa lỗi tu thiện, tích lũy công đức, làm mô phạm cho đại chúng. Làm mô phạm không thể không có công cụ, đây chính là
104 một công cụ tốt, mà không chút liên quan gì đến chính mình, chúng ta phải hiểu đạo lý này. “Mạnh Tử nói: Việc quan trọng nhất của một người là biết hổ thẹn. Biết hổ thẹn sửa lỗi thì sẽ trở thành thánh hiền, còn không biết hổ thẹn sửa lỗi thì chẳng khác gì cầm thú. Đây là chỗ then chốt của việc sửa lỗi”. Nhà Nho nói: “Biết hổ thẹn là gần với dũng”. Nếu bạn có thể làm được thì có thể thành thánh, thành hiền. Nếu bạn không làm được, không biết hổ thẹn thì bạn đọa lạc vào đường cầm thú, ngạ quỷ, địa ngục. Biết hổ thẹn là bí quyết quan trọng để sửa lỗi, chúng ta không thể không chú ý. Có một năm tôi giảng kinh tại Houston nước Mỹ, gặp một vị đồng tu, ông làm giáo sư của trường học bên đó. Khi chúng tôi ăn cơm, ông nói với tôi về vấn đề này. Xã hội ngày nay động loạn bất an, phải bắt đầu từ đâu để giúp đại chúng quay đầu? Ông nghĩ đến một vấn đề, chính là nhắc đến hai chữ “biết sỉ” này. Ông nói sở dĩ người bây giờ dám tạo nghiệp ác, gây ra động loạn bất an cho xã hội. Truy cứu nguyên nhân căn bản của nó, chính là không biết hổ thẹn, cho nên hiện nay cần phải đề xướng biết hổ thẹn. Tôi nghe xong, đồng ý với cách nói của ông. Lúc đó ông nghĩ ra một cách, ông nói: “Chúng ta tổ chức một học xã biết hổ thẹn”. Tôi nói: “Rất tốt, ông cứ soạn chương trình, tôi sẽ hưởng ứng”. Sau đó tôi rời Mỹ, vấn đề này đại khái cũng dần bị lãng quên. Cho nên bất kỳ một việc tốt nào, nhất định phải có người nhiệt tâm đứng ra thúc đẩy. Có thể tìm kiếm trong xã hội những người còn có khái niệm về truyền thống luân lý đạo đức, những người nghe đến còn có thể sanh tâm hoan hỷ. Tập hợp những người này lại, thành lập một đoàn thể, bản thân chúng ta siêng năng nỗ lực tu học, ra sức thúc đẩy hoằng dương, đây là một việc rất tốt. Vị giáo sư này họ Thái, cư sĩ Thái. Chúng ta xem tiếp điều thứ hai. Thứ hai là phải phát tâm kính sợ. Biết sợ hãi, biết sợ mới có thể sanh tâm thành kính.
105 Trời đất ở trên soi thấu, khó lừa dối được quỷ thần. Dù người đời không thấy tội lỗi của chúng ta nhưng thiên địa quỷ thần lại thấy tường tận rõ ràng. Tội nặng sẽ rước lấy mọi tai họa, tội nhẹ thì bị tổn giảm phước phần hiện có, ta làm sao không lo sợ cho được? “Úy” là sợ, sợ hãi, trong này cũng bao hàm ý nghĩa cung kính. “Úy” thường dùng kèm với “kính”, là “kính sợ”. Thời xưa con em đối với cha mẹ tôn trưởng, học trò đối với thầy đều có tâm kính sợ, vừa yêu kính vừa sợ hãi. Nếu không có tâm sợ hãi, lại không biết hổ thẹn, chư vị thử nghĩ xem, họ còn việc xấu gì mà không dám làm? Trong xã hội hiện nay, người biết hổ thẹn rất ít, người biết yêu kính, sợ hãi cũng rất ít, nguyên nhân là gì? Nguyên nhân là do không được dạy dỗ tốt. Con người không phải thánh hiền, không phải Phật, Bồ-tát tái lai, vì thế giáo dục quan trọng hơn bất cứ thứ gì. Hiểu được đạo lý này, hiểu được phương pháp này, đích thực chỉ có các bậc cổ thánh tiên hiền. Trong Lễ Ký, Học Ký chúng ta đọc có câu: “Kiến quốc quân dân, giáo học vi tiên”. Lại xem trong lịch sử, từ xưa đến nay khi thành lập một chính quyền, hình thành một triều đại, không quá 5 năm thì quốc gia nhất định sẽ chế định lễ nhạc, như vậy công tác giáo hóa nhân dân đã hoàn thành rồi. Cho nên, thời gian loạn lạc thay đổi triều đại rất ngắn, họ phải nhanh chóng khôi phục lại trật tự. Chỉ có thời đại này của chúng ta, người thời đại này rất đáng thương, rất khổ! Sau khi Mãn Thanh diệt vong cho đến nay đều không chế định lễ nhạc. Lễ nhạc chưa hề được ban bố, lịch sử trong tương lai gọi thời đại này là “thời loạn”, đây là một thời kỳ có thời gian động loạn dài nhất trong lịch sử. Con người không biết làm thế nào để sinh sống, để qua lại với nhau. Trước đây tôi ở Đài Loan, có người hỏi tôi, thông thường ở Đài Loan khi cha mẹ qua đời, trong tang lễ con cái có mặc hiếu phục, có người mặc đồ tang bằng vải gai, có người mặc đồ Tây màu đen. Các
106 vị đồng tu thấy vậy đến hỏi tôi, họ nói: “Điều này có hợp lễ hay không?” Tôi nói: Từ khi Trung Hoa Dân Quốc thành lập đến nay chưa có ban bố lễ nhạc, họ mặc đồ tang bằng vải gai là dùng lễ thời nhà Thanh, còn họ mặc y phục màu đen là dùng lễ của người nước ngoài. Tôi gật đầu, đều có thể dùng, vì quốc gia không có lễ, nên người ta dùng phương thức nào cũng được. Không có lễ mà, không giống như thời xưa. Trước đây, thời đại đế vương rất coi trọng lễ nhạc, y phục không được mặc tùy tiện. Bạn có thân phận như thế nào thì mặc y phục như thế đó, sĩ, nông, công, thương đều có phân biệt. Mọi người vừa nhìn thấy liền biết bạn làm ngành nghề gì, trong xã hội bạn thuộc địa vị nào. Địa vị thấp hơn bạn, thì nhất định phải tôn trọng bạn, thuận tiện cho việc hành lễ. Bây giờ không còn nữa, bây giờ quý vị xem ở Đài Loan, tổng thống và nhân dân đều mặc đồ Tây, ở cùng một chỗ không thể phân biệt. Không có lễ, thiên hạ đại loạn, trật tự xã hội không còn nữa, điều này trước đây tuyệt đối không thể được. Nhưng chúng ta sanh vào thời đại này, chúng ta hướng đến xã hội thời xưa, nhưng chúng ta cũng không thể lơ là hiện thực của thời đại ngày nay. Tuy mọi người không nói, nhưng trong lòng chúng ta phải hiểu. Có trời đất quỷ thần không? Nhất định có. Vậy ở đâu? Mắt chúng ta không nhìn thấy, tai không nghe thấy, thân thể không tiếp xúc được. Không thể nói chúng ta không tiếp xúc thì họ không tồn tại, thứ không tiếp xúc được quá nhiều, không thể nói họ không tồn tại. Huống gì những cảm ứng của quỷ thần, không những trong lịch sử ghi chép rất nhiều, mà hiện tại trên tin tức, báo chí, tạp chí chúng ta cũng thường thấy những báo cáo này, những báo cáo này đương nhiên đều là sự thật. Nhưng vẫn có rất nhiều người không tin tưởng, điều này cũng khó trách, nếu không đích thân chứng kiến thì người khác nói gì cũng đều không tin. Đến lúc nào đó bạn có phước phần, có nhân duyên thấy được quỷ thần, như vậy bạn mới tin.
107 Năm hai mươi mấy tuổi, khi tôi mới học Phật, lão cư sĩ Chu Kính Trụ, ông là một vị trưởng bối rất thương yêu và quan tâm tôi. Ông có rất nhiều chuyện, đều là chính mình trải qua, thường kể cho tôi nghe, chúng tôi cũng rất thích nghe kể chuyện. Bởi vì những chuyện này đều là ông đích thân trải qua, cho nên chuyện đó là thật không phải giả, không phải ông dựng chuyện để gạt chúng tôi. Chúng tôi hỏi ông nhân duyên học Phật. Bởi vì ông học tài chính, thời kỳ kháng chiến ông làm Cục trưởng thuế vụ ở Tứ Xuyên, quản lý thuế. Sau khi kháng chiến thắng lợi, ông là người Triết Giang, ông làm trưởng phòng tài chính tỉnh Triết Giang. Trước kháng chiến, ông từng làm Tổng giám đốc ngân hàng tại Tô Châu. Tôi thỉnh giáo ông nhân duyên học Phật, ông nói với tôi, nhân duyên học Phật là vào thời kỳ kháng chiến. Ông ở tại Trùng Khánh, một hôm cùng mấy người bạn đánh mạt chược, đây là chuyện bình thường, thường thì hơn 2 giờ khuya mới giải tán, ai về nhà người nấy. Lúc đó, tuy địa vị ông rất cao nhưng vẫn không có phương tiện giao thông, ông là đi bộ về nhà. Không như bây giờ đều có xe hơi, lúc đó đều đi bộ, hơn nữa đèn trên đường rất tối. Điều này người thời nay rất khó thể hội được, phải tầm tuổi như tôi thì khi nói đến điều này bạn mới có thể cảm nhận được. Trên đường đi rất xa mới có một bóng đèn, mà ánh sáng bóng đèn chừng bằng ánh sáng của 40 cây nến, treo rất cao, khoảng cách rất xa, thật sự là rất tối. Trở về lúc đêm khuya, ông trở về cũng phải đi bộ rất xa, đại khái phải đi bộ bốn đến năm mươi phút mới về đến nhà. Khi đi trên đường, ông thấy phía trước có người, lúc đó người ấy cũng đi cùng đường, ở phía trước ông, ông cũng không chú ý đến. Đi khoảng gần nửa tiếng đột nhiên ông nghĩ, nhìn thấy ở phía trước là một người phụ nữ. Tự hỏi: “Tại sao người phụ nữ này lại đi một mình trong đêm muộn đến như vậy nhỉ?” Ông bảo, vừa nghĩ đến đây thì dựng cả tóc gáy. Nhìn kỹ người đi ở trước, cô ta có thân trên không có thân dưới, ông vô cùng sợ hãi, vừa giật mình thì người ở trước liền biến mất, không
108 còn nữa. Ông cùng đi với người này suốt nửa tiếng đồng hồ, tuyệt đối không phải hoa mắt, ông thấy ma thật. Ông bảo, bắt đầu từ hôm đó ông mới thật sự tin Phật. Sau khi học Phật, ông rất cảm kích con ma đó, ông nói nếu không đích thân chứng kiến thì cả đời ông mãi mãi không thể tin tưởng. Cha vợ ông là Chương Thái Viêm, rất có địa vị trong giới học thuật. Cha vợ ông là Phật tử kiền thành, cũng có rất nhiều chuyện thường kể cho ông nghe. Sau khi ông nghe xong thì bán tín bán nghi, đến khi chính mình gặp phải chuyện này thì ông mới tin, điều này là có thật. Chuyện của ông rất nhiều, nếu kể ra thì phải mất vài tiếng đồng hồ, rất thú vị, tuyệt đối không phải giả. Bản thân tôi đời này tuy chưa từng thấy ma quỷ, nhưng tôi đã từng gặp hồ ly tinh như trong tiểu thuyết Liêu Trai. Lúc đó tôi khoảng 15, 16 tuổi, tôi quả thật đã gặp hồ ly tinh. Cho nên tôi tin đó là thật, không phải giả. Tôi gặp con hồ ly tinh này, nó đã biến thành hình người, nhưng là người nam không phải người nữ. Rất nhiều người đã từng gặp, ở Hằng Sơn, Hồ Nam. Sau khi kháng chiến thành công tôi trở về quê nhà, ở quê nhà có một người thân gặp chuyện rất kỳ lạ. Quê chúng tôi là sản xuất gạo, gạo thu gom được đều chuyển đến bán ở Vu Hồ, Nam Kinh. Người bà con này của tôi có một thuyền gạo, gạo được đóng vào bao xong xuôi, sau đó đưa lên thuyền. Khi xếp lên thuyền thì nhìn thấy một con chồn từ ván cầu chạy lên thuyền, mọi người trên thuyền liền đi tìm, tìm mãi nhưng tìm không thấy. Không tìm thấy, mọi người cho rằng người nhìn thấy ấy bị hoa mắt nên thôi. Khi chở thuyền gạo này đến Nam Kinh, sau khi đến Nam Kinh, lúc đưa hàng xuống, đột nhiên trong bao không còn một hạt gạo nào, cả một thuyền gạo không thấy nữa. Mọi người mới biết, đều do con chồn đó gây ra, họ thấy con chồn đó là thật không phải giả, tất cả gạo trong thuyền không còn nữa. Cho nên ở lại Nam Kinh mấy ngày rồi quay về, khi về đến nhà thì thấy
109 gạo của ông ấy vẫn còn nguyên ở trong kho. Không biết đã đắc tội gì với con chồn này mà nó lại trêu đùa ông như vậy. Không có tổn thất gì, nhưng nó đã chuyển cả thuyền gạo trở về nhà, đây hoàn toàn là sự thật. Cho nên, thế gian rộng lớn đủ chuyện kỳ lạ, không thể nói mình không tận mắt thấy thì không tin, những việc chúng ta tận mắt chứng kiến quá ít. Những chuyện này ở Hồng Kông cũng rất nhiều, ở Đại Lục lại càng nhiều, ở nước ngoài cũng rất nhiều. Tôi gặp rất nhiều người, vì giảng kinh có nhiều thính chúng, họ thường kể lại những chuyện họ đích thân gặp phải cho tôi nghe. Cho nên, khó lừa gạt trời đất quỷ thần, chúng ta lừa người thì dễ, nhưng gạt trời đất quỷ thần thì rất khó. Dù người đời không thấy tội lỗi của chúng ta. Chúng ta che giấu lỗi lầm rất kín đáo, vô cùng vi tế, người khác không cảm nhận được. Nhưng thiên địa quỷ thần lại thấy rõ ràng tường tận. “Giám” là tấm gương, giống như tấm gương soi rất sáng tỏ, chiếu thấy hết. Tội nặng sẽ rước lấy mọi tai họa. Nếu bạn tạo ác nghiệp nặng thì nhất định gặp phải những tai họa không ngờ được. Tội nhẹ thì bị tổn giảm phước phần hiện có. Nhẹ thì phước báo hiện nay bị tổn giảm. Nếu bạn hiểu được đạo lý này, nếu bạn thấu triệt được chân tướng sự thật này thì làm sao không sợ hãi cho được? Xem tiếp kinh văn bên dưới: Không chỉ như vậy. Không những chỉ có vậy.
110 Dù ở trong phòng tối, nhưng hành vi của ta đều bị thần minh dùng mắt nhìn, dùng tay chỉ. Dù cố che giấu thật kín đáo, cố che đậy thật khéo léo, nhưng ý muốn và mong cầu trong lòng sớm đã lộ ra ngoài rồi, cuối cùng cũng khó dối lòng mình. Một khi bị người phát hiện thì chẳng đáng một xu. Làm sao có thể không cung kính dè dặt cho được? Ở phần trước nói trời đất quỷ thần nhìn thấy chúng ta rất rõ ràng, đoạn này nói với chúng ta về hoàn cảnh cư trú hiện tại, gọi là: “Mười con mắt nhìn, mười ngón tay chỉ”, đặc biệt là xã hội đô thị hiện nay, dân số đông đúc, nhất cử nhất động của chúng ta đều có rất nhiều người nhìn thấy, dù chúng ta che đậy kỹ đến mấy. “Cố che đậy thật khéo léo”, “văn” là che đậy, quý vị che giấu khéo léo đến mấy thì “ý muốn và mong cầu trong lòng sớm đã lộ ra ngoài rồi, cuối cùng cũng khó dối lòng mình”. Ở trước đã nói với quý vị, người có học vấn, có đạo đức, họ vừa nhìn là biết ngay. Bị người khác nhìn thấu, vậy thì không đáng một xu. Nghĩ đến những điều này, làm sao không sợ hãi cho được? “Lẫm lẫm” là dáng vẻ lo sợ, sợ hãi. Đây nghĩa là con người khởi tâm động niệm, lời nói việc làm phải dựa vào lương tâm, thiện lương, phải biết sợ chế tài của dư luận. Chúng ta làm việc thiện, không muốn để mọi người biết. Chúng ta làm việc ác, hy vọng mọi người đều biết. Người khác chỉ trích thì việc ác của chúng ta được báo hết, đây là việc tốt. Họ chỉ ra mà mình thật sự có sai lầm, thì ta phải tiếp thu, phải hối cải. Họ chỉ ra nhưng ta không có lỗi lầm này, ta cũng rất hoan hỷ, ta bị oan uổng, bị oan uổng là phương pháp tiêu tai tiêu nghiệp chướng thù thắng nhất. Cho nên, bất luận bị người chỉ trích đúng hay không, chúng ta đều phải giữ tâm cảm ơn. Cổ nhân nói rất hay: “Có lỗi thì sửa, không có cố gắng hơn”. Người khác phê bình chúng ta, đặc biệt là phê bình ác ý. Nếu có thì phải lập tức sửa đổi làm mới, còn không
111 có thì ta càng phải cố gắng hơn, tuyệt đối không phạm lỗi đó, thành tựu đức hạnh của chính mình. Cho nên, người thật sự biết tu dưỡng, người thật sự biết đoạn ác tu thiện, tích lũy công đức, quả thật không giống người thông thường. Trong mỗi niệm của họ đều nghĩ đến điểm tốt của người khác, tuyệt đối không để điều bất thiện của người khác ở trong lòng, đó là việc không đáng nhất. Vì sao vậy? Vì tâm của chúng ta là thuần thiện, để việc xấu của người khác ở trong tâm mình, khiến thiện tâm của mình bị phá hoại mất, quý vị nói như vậy oan uổng biết bao? Chúng ta thấy trong xã hội, người ngu si như thế không ít. Người ta khen ngợi chúng ta, nịnh bợ chúng ta, chúng ta cũng phải bình tĩnh mà suy xét. Họ nịnh bợ mình, khen ngợi mình, mình thật sự có đức hạnh này không? Mình đã thật sự làm việc tốt này chưa? Dù có thật thì chúng ta cũng phải khiêm tốn, chúng ta càng phải nỗ lực hơn. Nếu lời tán thán của họ vượt quá sự thật thì chúng ta phải sanh tâm hổ thẹn, nhất định phải xin lỗi họ: “Tôi không có nhiều ưu điểm như vậy đâu, bạn nói quá lời rồi, bản thân tôi cần phải nỗ lực khuyến khích chính mình, hy vọng không phụ lòng khen ngợi của bạn”. Tu dưỡng bản thân như vậy mới có thể thành tựu được đức hạnh của mình. Về phương diện quả báo, mới có thể tránh được tai họa, thiện phước mới có thể hiện tiền, đây là đạo lý nhất định. Chúng ta phải hiểu, phải siêng năng nỗ lực tu học. Phải có tâm hổ thẹn, phải chăm chỉ nỗ lực. Tốt rồi, hôm nay chúng ta giảng đến đây. TẬP 8 Chư vị đồng học, xin chào mọi người! Phần trước chúng ta nói về “nền tảng của việc sửa lỗi”, nói đến phải có tâm hổ thẹn, tiếp theo là phải có tâm sợ hãi. Chúng ta khởi tâm động niệm, lời nói việc
112 làm, không những lo sợ sự giám sát của thiên địa quỷ thần, mà đồng thời cũng phải sợ sự chỉ trích của dư luận trong xã hội đại chúng. Hôm nay, chúng ta xem tiếp đoạn văn bên dưới: Không những như vậy, chỉ cần hơi thở vẫn chưa dứt, dù tội ác nặng đến đâu thì vẫn có thể sám hối. Đây là lý luận y cứ để sửa lỗi làm mới, con người chỉ cần còn một hơi thở, cho dù trong đời tạo tội ác lớn đến đâu cũng đều có thể sửa đổi. Trước đây có người cả đời tạo ác, đến khi lâm chung mới tỉnh ngộ, ăn năn, khởi lên một niệm thiện liền được an lành qua đời. Đây là đưa ra chứng cứ để nói rõ với chúng ta, trường hợp như vậy xưa nay trong và ngoài nước có rất nhiều, chỉ cần chúng ta quan sát tường tận thì sẽ thấy ra được. Vì sao cả đời tạo tội ác cực lớn, thật sự sám hối thì nghiệp chướng này liền có thể tiêu trừ, đạo lý ở đâu vậy? Thực tế mà nói, đạo lý này quá sâu sắc, không phải điều mà phàm phu có thể lý giải được. Chẳng những phàm phu không thể lý giải, mà trong kinh đức Phật nói, bậc thánh Nhị thừa, Quyền giáo Bồ-tát đều không cách nào lý giải được. Vì sao vậy? Điều này liên quan đến khởi nguồn của vũ trụ hư không pháp giới, khởi nguồn của sanh mạng, khởi nguồn của chúng sanh, liên quan đến những đạo lý lớn này. Trong kinh Lăng Nghiêm đức Phật nói rất thấu triệt, rất rõ ràng, cho nên người xưa tán thán kinh Lăng Nghiêm, nói rằng Lăng Nghiêm khai trí tuệ, Pháp Hoa thành Phật. Tôi tin rất nhiều đồng tu đều đã nghe qua hai câu này. Trong kinh Lăng Nghiêm nói rất rõ ràng, đức Phật nói với chúng ta hư không pháp giới, cõi nước và chúng sanh vốn là một thể. Do đó tội ác cực lớn, chỉ cần quay đầu, gọi là “quay đầu là bờ”, đạo lý này bên dưới có nói đến. Vì một niệm dũng mãnh khẩn thiết.
113 Những chữ “dũng mãnh khẩn thiết” vô cùng quan trọng. Cũng đủ để gột sạch tội ác trong suốt trăm năm. Phía sau đưa ra một ví dụ nói với chúng ta: Ví như hang tối ngàn năm. Hiện nay chúng ta đi du lịch sẽ gặp rất nhiều sơn động, động thạch nhũ, đó chính là “hang tối ngàn năm”. Vừa thắp lên một ngọn đèn thì bóng tối ngàn năm liền tan biến. Chúng ta đốt một ngọn đèn đi vào, thì bóng tối ngàn năm liền bị phá trừ. Cho nên tội lỗi bất luận là lâu hay mới, chỉ cần sửa được là quý. Sai lầm giống như bóng tối vậy, chỉ cần một ngọn đèn là có thể phá tan bóng tối. Ngọn đèn này ví như trí tuệ, ví như sự tỉnh giác, thật sự đã giác ngộ, lời nói và việc làm trong quá khứ là sai trái. Một niệm giác, một niệm trí tuệ chân thật hiện tiền thì tội lỗi liền được tiêu trừ. Nhưng một niệm giác, một niệm trí tuệ này vô cùng khó được, vô cùng đáng quý. Vì sao vậy? Vì thời gian chúng ta mê trong tình cảm và dục vọng quá lâu rồi, vô lượng kiếp đến nay mê trong tình cảm và dục vọng. Sinh mạng là vĩnh hằng, sinh mạng không phải tạm thời mà là vĩnh hằng. Thân mạng của chúng ta rất ngắn ngủi, nhưng tinh thần của chúng ta trường tồn. Trong nhà Phật nói, chúng ta có pháp thân huệ mạng, đó là vĩnh hằng. Cho nên, vô lượng kiếp đến nay sanh tử luân hồi, mê mất bản tánh. Do đó mù quáng vô tri chấp trước thân này là ta, tham đắm hưởng thụ ngũ dục lục trần, tạo ra vô lượng vô biên tội nghiệp. Điều này đã tạo thành những việc không như ý trong hiện đời, tạo thành rất nhiều đau khổ
114 trong đời này. Chúng ta muốn cầu lành tránh dữ, trước tiên phải biết sửa đổi lỗi lầm. Ở đây tiên sinh Liễu Phàm đã đem kinh nghiệm sửa lỗi của mình nói tường tận cho chúng ta, đặc biệt nhắc nhở chúng ta, chỉ cần hơi thở vẫn còn, chỉ cần chịu thay đổi thì dù lỗi lầm lớn đến đâu cũng có thể tiêu trừ. Tiếp theo ông nói: Nhưng thế gian vô thường, thân xác thịt này dễ mất, một khi hơi thở không còn thì muốn sửa cũng không kịp nữa. “Trần thế” là thế gian, không những thân mạng này của chúng ta là vô thường, mà quốc độ cũng vô thường. Trong kinh Bát Đại Nhân Giác, vừa mở đầu đức Phật nói với chúng ta:“Thế gian vô thường, cõi nước mong manh”. Hai câu này là lời cảnh cáo chân thật, thế gian vô thường, biến hóa trong từng sát-na, thân thể này của chúng ta rất dễ mất. Thân người khó được mà dễ mất, một hơi thở không vào nữa thì thân mạng trong đời này đã kết thúc rồi, lúc này bạn có muốn sửa lỗi cũng hết cách, “muốn hối cải cũng không còn kịp nữa”. Trên dương gian phải chịu tiếng xấu trăm ngàn năm, dù có con hiếu cháu hiền cũng không thể rửa sạch. Đây là nói theo thế tục, quý vị tạo quá nhiều tội ác, tiếng xấu lưu truyền đến đời sau, người đời sau nghe đến tên của quý vị đều sanh tâm chán ghét. Như trong lịch sử, người thông thường như chúng ta, từ nhỏ đọc sách đều biết Tần Cối thời nhà Tống. Cả đời làm nhiều việc ác, tên tuổi bị nguyền rủa suốt muôn đời. Con cháu ông dù hiếu thuận đến đâu cũng không cách gì giúp ông rửa sạch tội danh này, đây là một ví dụ. Dưới cõi âm thì bị trầm luân trăm ngàn kiếp trong địa ngục, dù thánh hiền, Phật Bồ-tát cũng không thể cứu giúp. Sao không lo sợ cho được?
115 Làm sao có thể không sợ hãi cho được? Tên tuổi bị nguyền rủa ở thế gian là một việc không vinh dự gì. Người hiện nay thường nói: “Vinh dự là sinh mạng thứ hai của con người”, mọi người rất coi trọng vinh dự. Thật ra nó vẫn đứng thứ hai, nghiêm trọng nhất là quả báo ở đời sau, tạo ác nghiệp quá nhiều, gọi là tội thập ác ngũ nghịch, trong kinh điển đức Phật luôn nhắc nhở chúng ta, tội nghiệp này là đọa địa ngục A-tỳ. Nói đến địa ngục là điều vô cùng đáng sợ. Trong kinh Địa Tạng Bồ-tát Bổn Nguyện, đức Phật nói rất rõ ràng. Tạo tội nghiệp cực nặng, chiêu cảm khổ báo ở địa ngục, địa ngục từ đâu đến? Trước đây, khi tôi mới học Phật, cư sĩ Chu Kính Trụ kể cho tôi nghe một câu chuyện, câu chuyện này là thật. Cha vợ của ông là Chương Thái Viêm, lúc đó sống ở Bắc Kinh. Có một khoảng thời gian ông được Đông Nhạc Đại Đế mời làm phán quan, đây là nói đến quỷ thần, thật sự có quỷ thần! Đông Nhạc Đại Đế ở Thái Sơn, tỉnh Sơn Đông, khu vực ông quản lý có năm, sáu tỉnh, phạm vi quản lý rất lớn. Sanh tử, lành dữ họa phước của người trong khu vực này đều do ông quản lý. Địa vị của phán quan rất cao, tương đương với bí thư trưởng, Đông Nhạc Đại Đế mời Chương Thái Viêm đảm nhiệm công việc này. Chương Thái Viêm nói, buổi tối có tiểu quỷ đến, khiêng kiệu đến, lúc đó không có xe, khiêng đến rồi mời ông lên kiệu đi làm. Sáng sớm hôm sau khi trời vừa sáng thì ông tan ca, tiểu quỷ lại đưa ông về nhà, ngày đêm ông đều không nghỉ ngơi. Ban ngày làm việc, đi làm trên nhân gian chúng ta, ban đêm làm việc trong cõi quỷ. Ông cũng thường đem những gì chứng kiến hay nghe được ở cõi quỷ thuật lại cho một số bạn bè nghe. Có một lần ông kể, ông hỏi Đông Nhạc Đại Đế, vua Diêm-la còn cao hơn Đông Nhạc Đại Đế một bậc. Ông nói trong địa ngục có một loại hình phạt gọi là ôm cột đồng cháy. Ôm cột đồng cháy nghĩa là đốt cột đồng cháy đỏ lên rồi bắt tội nhân ôm lấy cột đồng đó. Chương Thái Viêm nói, hình phạt này quá tàn khốc, hy vọng Đông Nhạc Đại Đế có thể phát tâm đại từ
116 bi, phế bỏ hình phạt này. Đông Nhạc Đại Đế nghe lời này gật đầu nhưng không giải thích gì, ông nói ngươi cứ đến đó tham quan trước, ngươi đến hình trường xem thử đi. Đông Nhạc Đại Đế bèn phái hai tiểu quỷ dẫn ông đi tham quan hiện trường, ông đi đến đó. Khi đến nơi, tiểu quỷ nói với ông: “Ngài xem đi, đây chính là hiện trường”. Ông không nhìn thấy gì cả, bỗng nhiên ông hiểu ra, thì ra hình phạt trong địa ngục không phải do vua Diêm-la tạo ra. Không phải do ông thiết lập, cho nên ông không thể phế bỏ. Hình phạt này từ đâu mà có? Là do ác nghiệp của bạn biến hiện ra, giống như người gặp ác mộng vậy, tự làm tự chịu, không phải người khác làm ra rồi bắt bạn phải chịu. Ông bỗng nhiên đại ngộ, về sau không nhắc đến nữa. Ông mới hiểu được đạo lý nói trong kinh điển là chân thật. Tất cả mọi cảnh giới, cảnh giới vui hay cảnh giới đau khổ, tất cả đều từ tâm mình biến hiện ra. Đây chính là những gì đức Phật nói trong kinh Hoa Nghiêm, hết thảy pháp, bao gồm thiên đường và địa ngục là “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Tâm là tâm của chính mình, thức chính là nghiệp thiện ác do chính mình tạo ra, cho nên tâm ta thiện, hành vi của ta thiện thì hiện ra cảnh giới tự nhiên là chí thiện mỹ mãn. Tâm của bạn ác, ý niệm ác, hành vi ác hiện ra cảnh giới tự nhiên là tai nạn. Cho nên, thiên đường là do tâm mình biến hiện ra, địa ngục cũng do tâm mình biến hiện ra, hoàn cảnh sinh hoạt hiện tại của chúng ta vẫn là tâm mình biến hóa ra. Nhưng có người nói, tâm tôi làm sao có thể biến hiện ra cảnh giới này được? Đây đích thực là vấn đề then chốt. Tâm là gì? Tâm ở đâu? Tâm có dáng vẻ như thế nào? Đây là vấn đề lớn trong Phật giáo. Nếu giải quyết được vấn đề này, hay nói cách khác, mọi vấn đề của bạn đều đã được giải quyết, đây gọi là giải quyết từ trên căn bản. Vấn đề này được nói trong kinh Lăng Nghiêm, cho nên nói Lăng Nghiêm khai trí tuệ, không sai! Mở đầu kinh Lăng Nghiêm, đức Phật Thích-ca Mâu-ni và Tôn giả A-nan đã thảo luận về chân
117 tâm và vọng tâm. Tâm ở đâu, tâm như thế nào, tâm có tác dụng gì, phần kinh văn này rất dài, kinh có mười chương thảo luận về những điều này. Cho nên Thiền tông nói: “Nếu người biết được tâm thì đại địa không tấc đất”. Ý câu này nghĩa là một người thật sự hiểu rõ ràng, sáng tỏ về tâm thì hết thảy pháp thế xuất thế gian bạn đều thông đạt vô ngại, đây là thật. Bởi vậy, tất cả do tâm tạo, tất cả pháp do thức biến hóa, do vậy chúng ta không thể không sợ hãi. Cảnh giới địa ngục hiện tiền, tuy Phật Bồ-tát đại từ đại bi, nhưng có thể giúp bạn được không? Nếu như ta chấp mê không ngộ thì dù Bồ-tát Địa Tạng từ bi đến đâu cũng không giúp gì được. Đích thực Phật, Bồ-tát thường ở trong địa ngục, giúp những chúng sanh khổ nạn này, tận tình giáo hóa họ. Người thọ giáo nhất định phải giác ngộ, nhất định phải có thể tin tưởng, có thể hiểu rõ, có thể hành trì, thì họ mới có cơ hội thoát khỏi khổ báo của địa ngục, sau đó từng bậc từng bậc không ngừng nâng cao lên trên. Cho nên, ân đức của Phật là lớn nhất, hơn cả ân cha mẹ. Ân đức cha mẹ đối với chúng ta là một đời một kiếp, nhưng ân đức của chư Phật Bồ-tát đối với chúng ta là đời đời kiếp kiếp, vĩnh viễn không từ bỏ. Chúng ta tạo tội ác nghiêm trọng đến mấy thì các ngài cũng không từ bỏ chúng ta, điều này quả thật rất vĩ đại, là điều chúng ta cần học tập theo các ngài. Xem tiếp đoạn văn bên dưới: Thứ ba là phải phát tâm dũng mãnh. Dũng mãnh tinh tấn, sửa lỗi làm mới. Nói đến sửa lỗi lầm, tiên sinh Liễu Phàm đưa ra ba loại tâm, chúng ta cần phải ghi nhớ ba loại tâm này. Thứ nhất là tâm biết hổ thẹn, con người không thể không biết hổ thẹn. Thứ hai là tâm tôn kính sợ hãi. Thứ ba là tâm dũng mãnh. Nếu bạn có thể đầy đủ ba loại tâm này thì sửa lỗi không khó. Ông nói:
118 Người đời không thể sửa lỗi, phần nhiều là do chần chừ do dự. “Nhân tuần” nghĩa là qua loa, đại khái, bất luận làm việc gì đều không siêng năng, như vậy thì lỗi lầm của bạn rất khó sửa. “Thoái súc” tức là thoái chuyển, đây chính là [nguyên nhân] vì sao con người không thể sửa lỗi, biết bao nhiêu người muốn sửa lỗi mà không sửa đổi được, chính là do bốn chữ “lơ là thoái chuyển” này làm chướng ngại. Ta nhất định phải phấn chấn mạnh mẽ vươn lên, không được chần chừ, không được chờ đợi. Đây chính là dáng vẻ của tâm dũng mãnh. Thế nào gọi là “dũng mãnh?” Phải phấn chấn lên, tuyệt đối không hoài nghi, lập tức sửa đổi. Không được nói lỗi lầm này đợi ngày mai, đợi sang năm [sửa cũng được]! Như vậy thì bạn vĩnh viễn không sửa đổi được. Phải sửa ngay lập tức, sửa ngay tức thì. Lỗi nhỏ xem như gai đâm vào thịt, phải nhanh chóng nhổ ra. Lỗi lớn xem như rắn độc cắn ngón tay, phải lập tức chặt bỏ không chút do dự. Mạnh mẽ dứt khoát như quẻ Phong Lôi thì sẽ thành công. Lỗi nhỏ giống như gai đâm vào thịt chúng ta vậy, lập tức phải nhổ nó ra, điều này chúng ta có kinh nghiệm. Lỗi lớn giống như rắn độc cắn vào ngón tay chúng ta vậy, lúc này phải lập tức chặt đứt ngón tay. Nếu không chặt đứt thì độc tố sẽ chạy vào tim, ắt người đó sẽ chết. Lúc này tuyệt đối không được do dự, phải quyết đoán kịp thời, “không chút do dự”. Đây là: “Mạnh mẽ dứt khoát như quẻ Phong Lôi thì sẽ thành công”. “Phong Lôi” là quẻ trong Kinh Dịch. Lấy hiện tượng của nó, là gió thổi sấm dậy. Hiện tượng của mùa xuân là vạn vật sinh trưởng, cho nên nó có lợi ích, gọi là “phong lôi
119 ích”. Ở đây là hình dung tướng trạng của sự quyết đoán kịp thời, dũng mãnh sửa lỗi. Nếu có đủ ba thứ tâm này thì lỗi lầm đều sửa đổi được. Giống như băng mùa xuân gặp ánh mặt trời, lo gì không tan chảy? Sửa lỗi lầm cần phải đầy đủ ba tâm này, sau đó bạn mới có thể sửa lỗi. Hai câu ở dưới là ví dụ, ví như băng mùa xuân, băng tuyết mùa xuân gặp ánh mặt trời, mặt trời xuất hiện thì băng lập tức tan chảy. Ví băng như ác nghiệp, ví mặt trời như sự dũng mãnh, dũng mãnh sửa lỗi thì tội của bạn tự nhiên được tiêu trừ. Tuy nhiên lỗi lầm của con người có thể sửa từ trên sự tướng, có thể sửa từ trên đạo lý, cũng có thể sửa từ trên tâm niệm. Do phương pháp khác nhau nên hiệu quả cũng khác nhau. Đây là nói ba loại hiệu quả khác nhau, có người sửa từ trên sự, có người sửa từ trên lý, có người sửa từ trong tâm. Nhưng chư vị nên biết, đều phải đầy đủ ba tâm đã nói ở trước, không có ba tâm này, bất luận bạn từ phương diện nào cũng không có cách gì hạ thủ được, đều không đạt được lợi ích. Bên dưới là phân biệt cho chúng ta thấy, trước tiên là nói thay đổi từ trên sự. Ví dụ trước đây phạm lỗi sát sanh, nay giữ giới không sát sanh; hoặc trước đây hay nóng giận, nay cố ngăn giữ không cho nóng giận. Đây chính là sửa từ trên sự tướng. Sửa như vậy là chỉ miễn cưỡng kiềm chế từ bên ngoài nên vô cùng khó khăn, hơn nữa gốc bệnh của nó vẫn còn, nên tội này hết tội kia liền sanh. Đây không phải là phương pháp rốt ráo để trừ tận gốc lỗi lầm. Đầu tiên là nói thay đổi từ trên sự, sửa đổi từ sự rất khó, đây là việc làm cưỡng ép, một mực ngăn chặn hành vi đó. Điều này đích thực có giới hạn, nó có một điểm bão hòa, sửa đổi không triệt để. Ở
120 đây đưa ra một trường hợp, ví dụ ngày xưa sát sanh, bây giờ bạn phát tâm trì giới. Bạn thọ giới, thọ năm giới: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, bạn phát tâm trì giới. Năm giới này là để đoạn trừ năm loại tập khí. Tập khí quá sâu nặng mà muốn đoạn trừ thì rất khó khăn. Hiện nay bạn không sát sanh nữa, nhưng bạn có thể duy trì việc không sát sanh này được bao lâu? Trước đây hay nổi giận, thích mắng người, bây giờ trừ bỏ, không nổi giận nữa. Đưa ra những ví dụ này đều là sửa đổi từ trên sự, đây là một loại việc làm cưỡng ép, rất khó khăn. Gốc bệnh vẫn còn, vì sao vậy? Tham, sân, si, mạn là gốc của bệnh, không cách nào đoạn trừ được những thứ này, cho nên cảnh giới hiện tiền thì nó lại khởi hiện hành. Có một số người thiện căn sâu dày, vẫn có thể chế phục được. Người thiện căn mỏng thường thì khi gặp phải nghịch cảnh lớn, họ không thể nào khống chế được. Nghịch cảnh nhỏ thì được, họ có thể khống chế, nhưng nghịch cảnh lớn thì không thể. Bên dưới nói: “Tội này hết tội kia liền sanh, đây không phải là phương pháp rốt ráo để trừ tận gốc lỗi lầm”. “Khuếch nhiên chi đạo” nghĩa là trừ tận gốc, không có cách nào để trừ bỏ triệt để, đây là sửa từ trên sự. Cho nên, chúng ta biết rất nhiều người học Phật đều có thiện tâm, đều muốn sửa lỗi, mọi người phát tâm thọ giới, sau khi thọ giới lại không làm được, tôi gặp không ít người nói: “Thưa pháp sư, con đã thọ giới, bây giờ không làm được, vừa phạm giới, vừa phá giới, vậy phải làm sao?” Điều này rất khó! Tiếp theo Liễu Phàm dạy chúng ta sửa từ trên lý, lý luận, công phu này cao hơn sửa từ trên sự một bậc. Người biết sửa lỗi. Thiện là biết, người biết sửa lỗi. Trước khi ngăn ngừa mình phạm một lỗi nào đó thì phải hiểu rõ đạo lý [tại sao ta không nên làm].
121 Ví dụ chúng ta muốn không sát sanh, không sát sanh trên mặt sự tướng ta vẫn chưa đoạn, vẫn chưa trừ bỏ, trước tiên phải hiểu rõ vì sao không sát sanh, phải hiểu rõ ràng đạo lý này. Ví dụ phạm lỗi sát sanh. Chúng ta có tội sát sanh. Hãy thường nghĩ rằng. Tư là phải thường nghĩ. Ông trời có đức hiếu sinh, muôn loài đều yêu tiếc sanh mạng, nay giết chúng để nuôi dưỡng thân mình, lòng ta có thể an ổn được sao? Trước đây không ai dạy chúng ta, nên chúng ta lơ là việc này, xưa nay chưa bao giờ nghĩ đến việc này. Đến khi chúng ta tiếp thu giáo huấn của thánh hiền, chúng ta nghe được những lời dạy này thường phải để ở trong lòng, đúng là “trời có đức hiếu sinh”. Tất cả các loài động vật, làm gì có đạo lý không quý tiếc sinh mạng của mình cho được? Ngay đến muỗi, côn trùng, kiến đều tham sống sợ chết. Nếu chúng ta muốn giết chúng để nuôi dưỡng mình, thì tâm của chúng ta có thể an được sao? Nếu ngược lại, người khác giết chúng ta để nuôi sống họ, thì chúng ta có cam tâm tình nguyện hay không? Phải thường nghĩ đến đạo lý này. Hơn nữa loài vật bị giết. Bạn hãy thường nghĩ đến tình trạng khi động vật bị giết. Khi bị cắt cổ, nhổ lông, rồi lại bị bỏ vào nồi nấu nướng chiên xào. Đỉnh hoạch là bỏ vào trong nồi nấu. Mọi nỗi thống khổ, đau đớn thấu đến tận xương tủy.
122 Chúng ta thử đặt mình vào vị trí của chúng để suy nghĩ xem, ví dụ động vật này là ta, ta bị người giết, sau đó bị họ đem đi nấu nướng, bị người ăn thịt. Ta ăn chúng để nuôi thân, nhưng dù có bày ra trăm món ngon vật lạ, thì qua khỏi cửa miệng cũng chẳng còn gì nữa. Cho nên, chúng ta phải thường nghĩ đến điều này. Năm tôi 26 tuổi đọc được cuốn sách này, sau khi đọc xong tôi vô cùng cảm động. Cho nên từ khi bắt đầu tiếp xúc, khoảng 6 tháng sau tôi liền ăn chay. Tôi thường nghĩ đến việc: “Không nhẫn tâm ăn thịt chúng sanh”, nghĩ đến tình trạng này quá đáng sợ. Lại nghĩ đến quả báo của nó, đúng là lạnh người. Trước đây, khi cha tôi còn sống, ông là một quân nhân, thời kỳ kháng chiến trong nhà tôi có rất nhiều súng. Lúc đó tôi nhớ rất rõ, trong nhà tôi súng ngắn, súng dài có khoảng 8 khẩu. Ông rất thích săn bắn, lúc nhỏ chúng tôi thường theo cha đi săn, ngày nào cũng săn được thú rừng đem về ăn. Nhưng sau khi kháng chiến thắng lợi, tình trạng lúc cha tôi chết hoàn toàn giống như trong kinh Địa Tạng nói. Ông phát bệnh điên cuồng, thấy núi ông liền chạy lên núi, giống như dã thú vậy, dáng vẻ rất giống dã thú; nhìn thấy nước ông liền nhảy xuống nước. Trong kinh điển, đức Phật nói về quả báo của sát sanh, tôi tận mắt chứng kiến. Nghĩ đến tình trạng của cha tôi từ lúc bị bệnh cho đến lúc chết, tôi vô cùng khiếp sợ! Chính tôi cũng từng đi săn bắn ba năm, cũng giết chết không ít sinh mạng. Cho nên khi đọc những sách này, nghĩ đến những tình hình đó, tôi không dám tái phạm nữa. Từ năm 26 tuổi, tôi bắt đầu ăn chay trường, phóng sanh để chuộc tội, tội sát sanh trong quá khứ quá nặng. Nên sau khi học Phật tôi chỉ làm ba việc, tôi học theo đại sư Ấn Quang; đó là ấn tống kinh điển, phóng sanh để tiêu trừ tội nghiệp sát sanh của tôi, bố thí thuốc men, thấy nhiều người bị bệnh rất thống khổ, người nghèo khổ không có tiền mua thuốc, mỗi tháng tôi quyên góp một ít tiền
123 mua tặng thuốc men. Tôi chỉ làm ba việc này, rất đơn giản, rất đơn thuần. Ở chỗ này dùng lời văn rất hay.“Chúng ta ăn chúng để nuôi thân”, đây là nói thói quen hằng ngày của chúng ta. “Bày ra trăm món ngon vật lạ”, nghĩa là thức ăn rất phong phú, bạn có nghĩ đến “qua khỏi cửa miệng thì sẽ chẳng còn gì nữa” hay không? Chúng ta tham đắm vị ngon, vì ai mà tham đắm vậy? Chúng ta sát sanh ăn thịt là vì ai? Vì cái lưỡi có thể phân biệt mùi vị, nhưng cái lưỡi chẳng qua chỉ dài ba tấc mà thôi, nuốt vào trong cổ thì đâu còn biết mùi vị gì nữa. Vì thỏa mãn cái lưỡi ba tấc này mà tạo ra vô lượng vô biên tội nghiệp, thật là không đáng! Chúng ta đã nghiêm túc suy nghĩ đến đạo lý, sự thật này hay chưa? Nếu nói ăn chay không có dinh dưỡng, ăn chay không có sức khỏe, tôi có thể làm chứng cho mọi người. Tôi ăn chay đến nay đã là 50 năm rồi, nhưng trong đời chưa từng bị bệnh, quả thực là mạnh khỏe sống lâu. Thể lực của tôi không yếu, có thể duy trì được tình trạng mạnh khỏe lâu dài là do nguyên nhân gì? Là nhờ ăn chay. Nói thật tôi không rành lắm về phương pháp dưỡng sinh, không hề chú ý đến, quả thật là không hiểu. Trên cơ thể chỉ có một điều đáng tiếc, chính là răng không đẹp, tôi không bị rụng răng, răng đều rất tốt, chỉ là răng chưa đủ tiêu chuẩn thôi. Vì sao vậy? Vì không biết cách bảo vệ răng. Năm trước, có một vị đồng tu dẫn tôi đi gặp một nha sĩ, họ lấy cao răng cho tôi. Bác sĩ lấy cao răng nói với tôi: “Thưa pháp sư, răng của thầy rất tốt, giữ gìn được rất tốt”, đây là lợi ích của việc thầy ăn chay. “Hơn 70 tuổi, nhưng răng của người khác đều không bằng thầy”. Ông dạy tôi cách bảo vệ răng, sau mỗi lần ăn xong, nhất định phải súc miệng, phải đánh răng, không cần dùng kem đánh răng. Kem đánh răng chỉ cần dùng hai lần sáng và tối, bình thường phải luôn súc miệng, đánh răng. Tôi không biết điều này, trước đây tôi chỉ đánh răng một lần vào buổi sáng, buổi tối cũng không đánh,
124 cho nên không chăm sóc tốt cho răng. Nếu tôi gặp bác sĩ này sớm hơn, lúc trẻ biết cách bảo vệ răng, có lẽ răng của tôi bây giờ chắc giống như người hai, ba mươi tuổi vậy. Vị bác sĩ này nói với tôi, phải cố gắng bảo vệ răng. Tôi như vậy cũng được coi là rất tốt rồi, nhưng chưa đủ tốt, bây giờ tôi đã hiểu. Sau mỗi lần ăn xong, tôi lập tức đi đánh răng, súc miệng, giữa kẽ răng tuyệt đối không được để tồn tại bất cứ thứ gì, như vậy rất dễ sinh vi khuẩn. Răng tốt thì hệ thống tiêu hóa của chúng ta sẽ tốt, người sẽ không bị bệnh. Ăn chay rất có lợi cho sức khỏe, đặc biệt là sau tuổi trung niên. Sau tuổi trung niên không biết bảo vệ sức khỏe trong việc ăn uống thì lúc về già sẽ có ảnh hưởng rất lớn đối với sức khỏe. Đây là từ những việc ăn uống, sinh hoạt hằng ngày, thông thường chúng ta gọi là vệ sinh. Người thế gian đều hiểu và chú trọng đến vệ sinh, nhưng còn một điều quan trọng mà mọi người đã lơ là, đó là gì? Là vệ tánh, tánh là tính tình tốt, nó sẽ ảnh hưởng đến sinh lý. Cho nên đạo Hồi, trong việc ăn uống của họ có rất nhiều quy củ, có rất nhiều thứ họ không ăn. Tôi từng nghiên cứu giáo nghĩa của họ, vì sao không ăn? Thì ra là do tính tình của những động vật đó không tốt, phàm là những loại động vật và thực vật tính tình không tốt họ đều không ăn, vì sao vậy? Vì sợ ảnh hưởng đến tính tình của mình. Họ biết cách bảo vệ tính tình, bảo vệ tâm trạng mình thật tốt, hiện nay chúng ta gọi là “tâm trạng”, điều này cao minh hơn người thông thường.Về sau tôi đọc kinh Phật, đức Phật càng cao siêu hơn, ngài nói ba điều. Ngoài chú ý đến vệ sinh, vệ tánh, còn chú trọng đến vệ tâm. Bảo vệ tâm từ bi của mình, bảo vệ tâm lương thiện của mình, cho nên không ăn thịt tất cả chúng sanh, điều này rất có đạo lý. Nhà Phật quả thật là thông tình đạt lý. Người thông thường chúng ta nói, giáo học của Phật giáo hợp tình, hợp lý, hợp pháp. Phật giáo không phải là một khi đã hình thành thì không thay đổi, mà rất linh hoạt. Chúng ta phải hiểu những đạo lý này.
125 Trong thức ăn chay, Phật pháp đặc biệt chọn ra năm loại rau không được ăn, năm loại này gọi là “ngũ huân”. Quý vị thử nghĩ xem, chữ huân này có bộ thảo, huân không phải thịt, thịt gọi là tanh, nhà Phật gọi là thức ăn mặn, những thứ này thì phải trừ bỏ. Các loại thịt thuộc về tanh, huân là chỉ năm loại. Năm loại rau này, hành là một loại, tỏi, kiệu, hẹ và hành tây, năm loại này không được ăn. Vì sao không ăn? Vì năm loại này khi ăn sống sẽ kích thích sinh lý, dễ nổi nóng, là nguyên nhân này, không ăn nó sẽ ngăn ngừa, giúp bạn bớt nóng giận, bớt nổi nóng, vì thế không được ăn. Khi ăn chín, những thứ này có thể sanh ra hooc-môn, dễ dẫn khởi dục tính. Chính là nguyên nhân này, không có gì khác. Nhưng nếu dùng những thứ này để làm hương liệu, phối hợp với món ăn thì có thể được, vì sao? Vì nó không khởi tác dụng. Bởi vậy, nhất định phải hiểu được dụng ý thật sự trong giới luật nhà Phật. Trong giới luật nhà Phật cấm uống rượu, trong ngũ giới là không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Đức Phật nói, rượu vốn không có tội, nhưng khi say rượu sợ quý vị làm ra những việc như giết, trộm, dâm, dối. Cho nên cấm uống rượu là phòng ngừa, rượu vốn không có tội, chúng ta phải hiểu điều này. Nhưng trong lúc nấu thức ăn dùng rượu làm gia vị thì không sao, nếu bạn biết dùng rượu làm gia vị thì sẽ không bị say. Nhà Phật chế định những giới này, rất thông tình đạt lý, đặc biệt là giới cấm rượu, khai duyên rất nhiều. “Khai duyên” nghĩa là khai giới, không phải phạm giới, trong một giai đoạn nào đó có thể uống rượu. Trong Giới Kinh nói, trên 70 tuổi, tình trạng sức khỏe suy yếu, máu huyết tuần hoàn chậm, mỗi bữa cơm có thể uống một ly rượu, vì sao vậy? Giúp máu huyết lưu thông, dùng như thuốc vậy. Trong Đông y, có rất nhiều vị thuốc dùng rượu làm thuốc dẫn, tất cả đều cho phép dùng. Cho nên, không phải nói tất cả đều không được dùng. Bây giờ có rất nhiều người trì giới, đối với những giới nhỏ này thì trì rất nghiêm khắc, nhưng những giới quan trọng lại qua loa.
126 Đây là sai lầm, hoàn toàn sai lầm! Cho nên những vấn đề này, nếu không thể phân biệt tường tận thì con người sẽ chết trong giới điều, như vậy làm việc sẽ không được thông suốt. Có người nói: “Giới điều là giết người”, đó là họ hiểu sai ý nghĩa. “Chết trong giới điều”, thật sự người thông thường hay nói như vậy, nhưng họ không biết giới luật của nhà Phật rất linh hoạt, giới luật có khai, giá, trì, phạm, nhất định phải hiểu tinh thần của nó, phải hiểu vì sao đức Phật chế giới điều này. Giới này nên vận dụng trong cuộc sống hằng ngày như thế nào, tình huống như thế nào thì nên vận dụng như thế đó, rất linh hoạt. Do đó bạn mới biết, giới luật là đại tự do, giới luật là đại tự tại, đoạn ác hành thiện. Hiểu rõ đạo lý này thì chúng ta tự nhiên sẽ chọn cách ăn chay, thích ăn chay. Dưỡng tâm thì phải dưỡng tâm thanh tịnh, phải dưỡng tâm chân thành, phải dưỡng tâm bình đẳng, phải dưỡng tâm từ bi. Bạn biết cách dưỡng tâm, biết cách dưỡng tánh, lại biết cách dưỡng sinh, giữ vệ sinh, thì thân thể đương nhiên khỏe mạnh, vậy thì bạn làm sao sanh bệnh cho được? Ở Singapore có cư sĩ Hứa Triết, năm nay bà 102 tuổi rồi. Bà thường nói, chúng ta phải trường thọ, chúng ta đừng già, chúng ta đừng bệnh. Bà đã 102 tuổi nhưng mỗi ngày bà vẫn chăm sóc cho rất nhiều người bệnh nghèo khổ, mỗi ngày đều bận rộn nhưng không có gì vui bằng; 102 tuổi, ngoài mái tóc bạc và rụng một chiếc răng ra thì tôi không tìm ra được khuyết điểm nào nữa. Bà mạnh khỏe, hoạt bát, giống như người trẻ tuổi vậy. Cho nên ở Singapore mọi người đều biết người thanh niên 102 tuổi này. Điều này đáng để chúng ta học tập, đáng cho chúng ta noi theo. Cơm chay đạm bạc cũng đủ no bụng, vì sao phải giết hại chúng sanh, khiến phước báo của mình bị tổn giảm. Hà tất phải giết hại các loài động vật khác khiến phước báo của mình bị tổn giảm? Đây chắc chắn là suy nghĩ và việc làm sai lầm.
127 Tốt rồi, hôm nay chúng ta giảng đến đây. TẬP 9 Chư vị đồng học, xin chào mọi người! Mời xem tiếp đoạn văn bên dưới: Lại nghĩ, phàm là những loài có khí huyết thì đều có tánh linh, mà đã có tánh linh thì đều cùng một thể với ta. Nay ta chưa thể tu tới mức đạo đức cao thượng, khiến chúng tôn kính ta, gần gũi ta, vậy thì làm sao có thể hằng ngày sát hại chúng, khiến chúng mãi mãi oán hận, căm thù ta? Vừa nghĩ như vậy thì ắt sẽ sanh lòng thương xót những loài vật đó, chẳng thể nuốt trôi qua cổ. Đoạn này nói rất hay! Chúng ta phải thường nghĩ đến, tất cả những động vật có máu huyết, có hơi thở. “Phàm những loài có khí huyết”, đều là nói về động vật, động vật đều có linh tri, đều có tri giác. “Mà đã có tánh linh thì đều cùng một thể với ta”, chúng ta biết vật chất có giới hạn, còn linh tri thì không có giới hạn, không có giới hạn thì mới biết nó là một thể. Cho nên đức Phật nói, hư không pháp giới là hiện tướng của tâm chúng ta, là một thể với tâm chúng ta. Cũng chính là hình dáng mà tâm hiển hiện ra, là hư không pháp giới. Những hình dáng mà vọng tưởng, phân biệt, chấp trước của chúng ta biến hiện ra chính là chúng sanh, cõi nước, bao gồm cả hiện tượng tự nhiên như người hiện nay nói. Phàm phu tâm ý thô thiển, rất khó cảm nhận được hư không pháp giới với mình là một thể. Vì nó vốn là một thể, cho nên hết thảy chúng sanh, giữa người với người đều có cảm ứng. Mức độ nhanh nhạy của cảm ứng tương ưng với tâm thanh tịnh hay ô nhiễm của chúng sanh, có thể nói là
128 một tỷ lệ thuận. Tâm càng thanh tịnh thì mức độ nhanh nhạy của cảm ứng càng mạnh. Cho nên, trong cảnh giới của chư Phật và đại Bồ-tát thì tất cả chúng sanh trong hư không pháp giới đều khởi tác dụng cảm ứng đạo giao với các ngài. Giống như máy thu sóng của các ngài rất nhanh nhạy, dao động sóng cực kỳ vi tế các ngài đều có thể nhận được. Còn năng lực thu sóng của hàng phàm phu chúng ta rất kém. Thực tế năng lực thu của chúng ta vốn dĩ giống như các ngài, hiện nay tại sao lại thua kém nhiều đến như vậy? Máy thu sóng của các ngài được giữ gìn rất hoàn chỉnh, giống như mới vậy. Máy thu sóng của chúng ta không biết bảo quản, bị ô nhiễm, rất nhiều bụi bẩn, vô cùng dơ bẩn, lộn xộn, cho nên năng lực thu sóng kém. Chỉ có sóng mạnh thì chúng ta mới có thể cảm nhận được, sóng vi tế thì hoàn toàn không nhận được. Tương tự giống như ví dụ này, nếu chúng ta thật sự có công phu tu dưỡng. Công phu tu dưỡng chính là rửa sạch cấu uế trong tâm chúng ta, khôi phục được bản năng của chúng ta, vậy thì năng lực tiếp thu của chúng ta không khác gì với chư Phật Như Lai. Hư không pháp giới, quá khứ, vị lai, tất cả mọi hiện tượng cực kỳ vi tế, chúng ta đều rõ ràng sáng tỏ. Công cụ tiếp thu này không cần máy móc, không cần thân xác này. Chư vị phải biết rằng, năng lực tiếp thu không phải thân xác thịt, mà là linh tri. Linh tri có tướng không? Người thông thường chúng ta nói linh tri không có tướng, trong kinh đức Phật cũng nói như thế. Cách nói này là nói với phàm phu, phàm phu có thể lý giải được. Tức là nói theo trình độ của họ, thường thức của họ không phải chư Phật Bồ-tát tự nói. Còn đối với chư Phật Bồ-tát thì linh tri có tướng. Sắc này chính là sắc tướng, sắc tướng này gọi là vô biểu sắc. Hay nói cách khác, mắt, tai, mũi, lưỡi của chúng ta, cho đến ý đều không cách gì cảm nhận được, cho nên gọi là vô sắc. Thật ra vô sắc vẫn có sắc, chúng ta không nhìn thấy sắc này, Phật Bồ-tát có thể thấy được. Lời này rất khó hiểu, chúng ta dùng một ví dụ để nói. Ví dụ con người đều nằm mộng, tôi hỏi bạn trong mộng có sắc tướng
129 hay không? Chúng ta tỉ mỉ nghĩ thử xem, không thể nói không có sắc tướng. Vì sao vậy? Vì sau khi tôi tỉnh mộng, nhớ lại cảnh giới trong mộng này rất rõ ràng. Tôi mộng thấy những người nào, mộng thấy họ đang làm những gì, mộng thấy tình hình sinh hoạt trong cuộc sống, giống như thật vậy, làm sao không có sắc tướng cho được? Đã có sắc tướng, vậy khi bạn nằm mộng, người bên cạnh vì sao không nhìn thấy? Do đó, chúng ta có thể hiểu được vô sắc giới mà Phật nói, vô sắc giới giống như cảnh giới trong mộng, cảnh giới trong định vậy. Bản thân rất rõ ràng tường tận, nhưng người ngoài không cảm nhận được. Người khác ở cùng với chúng ta, bất luận họ thức hay cùng ngủ với chúng ta, họ không có cách nào đi vào trong giấc mộng của ta, họ không thấy được cảnh giới trong mộng của ta, đạo lý chính là như vậy. Nhưng nếu người có công phu, cũng tức là nói người tâm địa thanh tịnh, thanh tịnh đến một mức độ nhất định, bạn nằm mộng, họ ở bên cạnh có thể thấy được. Trong truyện ký hay tiểu thuyết chúng ta xem thấy có, những lời này là thật không phải giả. Mọi người đọc sách, có thể đều đã đọc tiểu thuyết truyền kỳ Hoàng Lương Mộng. Lão đạo sĩ này là một người tu hành, có định công, lúc ông nhắm mắt tĩnh tọa ở chỗ đó, vị tú tài ở bên cạnh đang ngủ say nằm mộng. Sau khi tỉnh mộng, lão đạo sĩ này nói với anh, trong mộng anh đã làm gì ông hoàn toàn biết rõ, làm sao biết được? Ông nhìn thấy. Cảnh giới trong mộng đó là tâm biến hiện ra, ông nhìn thấy. Từ những chỗ này chúng ta có thể thể hội được, sắc có sắc thô, có sắc hiển, rất rõ ràng, có sắc cực kỳ vi tế. Phàm phu chúng ta không cách gì thấy được, không cách gì thể hội được. Như vậy chúng ta mới có thể tin được thiền định thâm sâu của Phật, Bồ-tát. Tâm thanh tịnh của họ, mức độ thuần khiết thanh tịnh đó chúng ta không thể tưởng tượng được. Trong cảnh giới đó của các ngài, ý niệm cực kỳ vi tế, hiện tượng cực kỳ vi tế của tất cả chúng sanh, các ngài vừa nhìn liền sáng tỏ ngay, rất rõ ràng tường tận. Cho nên, biết
130 linh tri và ta là một thể, linh tri đã là một thể, sắc tướng cũng là một thể. “Nay ta chưa thể tu tới mức đạo đức cao thượng”, bản thân chúng ta không thể khiến trình độ đạo đức của mình tu đến cứu cánh viên mãn, vì sao vậy? Vì khi đạo đức thật sự đạt đến trình độ này thì những động vật nhỏ ấy đều tôn kính bạn, đều yêu thương bạn. “Gần gũi ta” chính là yêu thương, tuyệt đối không đến quấy nhiễu ta, chúng ta phải có đức hạnh để cảm hóa chúng. Sau khi đại sư Ấn Quang 70 tuổi, những loài động vật nhỏ trong phòng đều không còn nữa, muỗi, kiến, gián, côn trùng không tìm thấy con nào. Năm 70 tuổi, đạo đức tu dưỡng [của ngài] đạt đến trình độ này, nên những loài động vật này đều rất kính ngưỡng đại sư. Chúng đều đến bảo hộ ngài, vậy làm sao có thể quấy nhiễu ngài cho được? Chúng ta thấy được, chúng ta nghe được rồi thì bản thân cũng phải nỗ lực tu đức. Hiện nay, bản thân chúng ta tu vẫn chưa đủ tốt, vì sao vậy? Vì trong môi trường sống của chúng ta vẫn còn những động vật nhỏ này. Nhưng bản thân cũng có thể nghiệm, cũng có thể chứng minh những gì người xưa nói là sự thật. Vì chính mình đoạn ác tu thiện, tâm địa ngày càng lương thiện hơn, ngày càng thành khẩn hơn, ngày càng thanh tịnh hơn, ngày càng từ bi hơn. Chúng ta làm một cách rất nghiêm túc, rất nỗ lực. Nhìn từ đâu vậy? Nhìn từ các loại động vật nhỏ trong môi trường sống, chúng đến làm phiền chúng ta ít hơn, số lượng ít, số lần ít. Điều này đúng là một niềm an ủi đối với chúng ta, chứng tỏ thiện đức của mình đang tăng trưởng, nhưng vẫn chưa đủ, vì sao vậy? Vì chưa đoạn dứt. Nhưng chúng ta có niềm tin, hai đến ba năm sau đại khái môi trường sống của chúng ta có thể sẽ không còn những động vật nhỏ này nữa. Chúng ta tuyệt đối không được khởi ý niệm đuổi chúng đi, đương nhiên càng không có ý niệm giết hại chúng, chúng ta yêu thương động vật. Mỗi ngày chúng ta tụng kinh niệm Phật, tu tích công đức đều hồi hướng cho chúng, chúng ta xem chúng giống như anh chị em của mình vậy. Chúng ta quan tâm
131 chúng, chúng cũng sẽ quan tâm chúng ta, đều có cảm ứng rất rõ ràng. Chúng ta tôn trọng chúng, chúng cũng tôn trọng chúng ta. Chúng ta kính yêu chúng, chúng cũng kính yêu chúng ta. Không chỉ là động vật, mà ngay đến thực vật như cây cỏ, hoa lá đều có cảm ứng. Chúng ta yêu thương chăm sóc chúng, chúng sinh trưởng rất tốt, hoa nở rất đẹp và thơm, chúng dùng cách hồi báo này để cúng dường chúng ta. Rau và hoa quả chúng ta trồng, khi cần chúng ta có thể hái dùng, đó là gì vậy? Đó là chúng cam tâm tình nguyện cúng dường. Chúng ta đối với chúng thật sự có tâm thương yêu. Hiện nay chúng ta phát hiện, người phương Tây thường nói, thực vật thích âm nhạc, đúng là như vậy. Cho nên, trong vườn rau chúng tôi mở âm nhạc, âm nhạc là để cúng dường cho những thực vật này. Bây giờ chúng tôi chuyển từ mở nhạc sang mở Phật hiệu, mở băng giảng kinh, chúng cũng biết nghe. Trên núi Toowoomba, chúng tôi tự trồng mướp, đại khái trồng cũng không ít, pháp sư Ngộ Khiêm chăm sóc chúng. Có một tối, mướp báo mộng cho sư nói: “Mướp đã to, đã già lắm rồi mà sao thầy còn chưa đến hái”. Đến ngày hôm sau thầy đi tìm, quả nhiên tìm thấy một trái mướp rất lớn, thật sự nó đã quá già rồi. Sau khi hái xuống, chỉ còn cách để lại làm giống. Mướp cũng có thể báo mộng cho Ngộ Khiêm, kêu thầy ấy đi hái bởi nó đã quá già rồi. Thực vật đều có linh tánh, huống hồ động vật? Cho nên, chúng ta nhất định phải hiểu, nhất định phải sống trong thế giới thương yêu, phải sống trong thế giới biết ơn, phải sống trong thế giới hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, vậy thì cuộc sống này tốt đẹp biết bao! Chân - thiện - mỹ - tuệ không phải là khẩu hiệu, chúng ta có thể thực hiện được, chúng ta có thể khế nhập vào cảnh giới này, vui sướng như thế tại sao lại không làm? Vì sao hằng ngày cứ phải sát hại sinh mạng để nuôi dưỡng chính mình? Những động vật này không phải chúng cam tâm tình nguyện để cho bạn ăn. Bạn sát hại
132 chúng, chúng hận bạn, bạn kết oán thù với chúng, mối oán thù này đời đời kiếp kiếp không bao giờ dứt. Trong kinh, đức Phật thường nhắc nhở chúng ta, ăn nó nửa cân thì đời sau phải trả nó tám lạng, người chết làm dê, dê chết làm người, đời đời kiếp kiếp đòi trả lẫn nhau, điều này đáng sợ biết bao! Đây là ngu si đến tột cùng. Cho nên một người tu hành, trên đường bồ đề có rất nhiều chướng ngại. Chướng ngại từ đâu mà có? Đều là từ vô lượng kiếp đến nay, và ngay trong đời này đã kết rất nhiều oán thù, oán hận với những loài hữu tình và vô tình, tạo thành rất nhiều chướng ngại. Ngày nay chúng ta may mắn, đọc được sách thánh hiền, nghe được giáo huấn của thánh hiền. May mắn vẫn còn một chút thiện căn phước đức, sau khi nghe xong, đọc xong, tin sâu không nghi, y giáo phụng hành, thật thà nghiêm túc nỗ lực thực hành, mới chứng minh được lời giáo huấn của người xưa là chân thật bất hư. Đức Phật dạy chúng ta tín - giả - hành - chứng, sau cùng nhất định phải chứng thật, có vậy thì chân tướng sự thật mới được sáng tỏ. Cho nên, chúng ta có thể thường nghĩ đến điều này, đặc biệt là lúc ăn uống, bạn thường nghĩ đến thì sẽ không nhẫn tâm ăn thịt chúng sanh nữa, đây là đạo lý nhất định. Tiếp theo Liễu Phàm tiên sinh lại nói: Ví dụ trước đây hay nổi nóng, thì nên nghĩ rằng: Ai cũng có khuyết điểm, xét về tình thì ta nên thương xót họ mới đúng. Nếu họ vô lý mạo phạm ta là lỗi của họ, liên quan gì đến ta? Cho nên, không có gì đáng để nổi giận hết. Điều này phải thật sự thông suốt tường tận, vì sao bạn hay nổi giận? Đương nhiên khi thấy người khác làm việc sai, đắc tội với mình thì mình mới nổi giận. Vì sao họ làm việc sai? Vì sao đắc tội với ta? Phải thường suy nghĩ vấn đề này, người này hủy báng ta, sỉ nhục ta, tổn hại ta, ta nên suy nghĩ xem vì sao họ có những hành vi này? Vì họ không hiểu ta, hiểu lầm ta, giữa chúng ta không có sự câu thông trao đổi tốt đẹp cho nên mới xảy ra vấn đề như vậy. Điều
133 này không thể trách họ, chính mình cũng có chỗ không phải. Cho dù mình không có lỗi, lỗi đều do họ, vậy có liên quan gì đến ta? Trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Phật nói rất hay, đặc biệt là chúng ta sống trong xã hội hiện nay, thấy rất nhiều người làm việc sai quấy, khiến bản thân chúng ta đôi khi cảm thấy không chịu đựng được. Trong kinh đức Phật dạy chúng ta, vì sao những người này có hành vi như thế? “Người đời trước không thiện, không biết đạo đức, không ai chỉ bảo, không thể trách họ” , đức Phật nói lời này ôn hòa biết bao! Cha mẹ, trưởng bối của những người này không hiểu nhân nghĩa đạo đức, không dạy dỗ họ tốt. Bởi vậy, họ mới phạm lỗi lầm, mới làm những việc trái với kỷ cương pháp luật. Chúng ta nhìn thấy, nghe thấy cần phải tha thứ cho họ, đừng trách cứ họ. Tâm như thế ôn hòa biết bao, tâm lượng này vĩ đại biết bao! Chúng ta cần phải học tập, không được trách cứ họ. Cho dù đã dạy nhưng họ vẫn phạm lỗi, chúng ta cũng phải quay lại tự kiểm điểm. Ta dạy vẫn chưa tốt, ta dạy vẫn chưa viên mãn, ta dạy họ vì sao họ vẫn chưa làm được? Đừng đem hết lỗi lầm đẩy cho người khác, cần phải quay lại nghiêm túc kiểm điểm lại chính mình. Như hiện nay, có rất nhiều bậc làm cha mẹ gặp tôi đều nói: “Pháp sư à, bây giờ con cái không nghe lời!” Rất nhiều thầy cô giáo đến nói với tôi: “Thưa pháp sư, học sinh bây giờ không chịu nghe lời dạy bảo”. Tôi bảo rằng: “Con cái và học trò của các bạn không có lỗi, do bạn chưa dạy tốt mà, làm sao có thể trách chúng được?” Không sai, hoàn cảnh xã hội hiện nay vô cùng xấu ác, tà tri tà kiến dẫn đến tà hạnh tràn ngập khắp thế gian, làm gì có chuyện lớp trẻ không bị ô nhiễm cho được? Đây là nhân tố bên ngoài khiến lớp trẻ hiện nay khó dạy, nhưng nhân tố bên ngoài này chúng ta làm sao dùng tâm chân thành ở bên trong để khắc phục nó. Người xưa nói không sai: “Chân thành đến cực điểm thì vàng đá cũng cảm động”. Chúng ta suy xét tỉ mỉ sẽ thấy, ngay đến những động vật nhỏ như muỗi, gián đều có thể cảm động, cây cỏ hoa lá cũng có thể cảm
134 động, chẳng lẽ con người không thể cảm động hay sao? Không thể cảm động là tâm chân thành của chúng ta chưa đến cực điểm. Nếu chúng ta có thể tự kiểm điểm như vậy thì rất tốt, nhất định có thể nâng cao đức hạnh của mình. Chỉ có nâng cao đạo đức của mình thì mới có thể cảm hóa lớp trẻ thời nay. Chúng ta không có đạo đức thanh cao, mà cứ một mực trách cứ họ, trừng phạt họ, đây không phải là phương pháp. Trong các phương pháp giáo dục, trừng phạt không phải là phương pháp tốt nhất, cách tốt nhất là cảm hóa. Đó là chính mình phải dùng lòng yêu thương chân thành, lòng yêu thương thanh tịnh, bình đẳng để cảm hóa tất cả chúng sanh. Phật Bồ-tát đều có thể cảm hóa súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục, đều có thể dẫn dắt họ quay đầu là bờ, huống gì chúng sanh hữu tình trên thế gian! Chúng ta phải nghĩ, phải trách công phu và đức hạnh của mình chưa đủ, tuyệt đối không được trách người khác không tiếp nhận cảm hóa. Như vậy mới có thể thành tựu chính mình, thành tựu người khác. Trong kinh đức Phật nói: “Chưa độ được mình mà đi độ người là điều không thể”, câu nói này rất hay. Cho nên, nếu bạn muốn hóa độ người khác thì nhất định phải thành tựu đức năng của chính mình. Chỉ có đức năng của chính mình mới có thể cảm hóa người khác, mới có thể hóa độ chúng sanh. Trong kinh điển, đức Phật nói viên mãn như thế, rốt ráo như thế, người đọc tụng kinh điển như chúng ta không được lơ là. Chúng ta không thể thành tựu, đúng như lời tiên sinh Liễu Phàm nói ở đây, “qua loa đại khái”, “tâm ý thô thiển”. Tiến thêm bước nữa ông dạy chúng ta: Lại nghĩ rằng, trong thiên hạ chẳng ai dám tự cho mình là bậc hào kiệt, cũng không có học vấn nào dạy ta oán trách người khác. Sự việc không thành đều là do đức hạnh của ta chưa tu dưỡng tốt, nên không cảm động được người khác. Đây đều là những lời tôi vừa nói. Thiên hạ không có ai tự cho mình là hào kiệt, phàm những ai tự cho mình là đúng, bảo thủ cố
135 chấp, thì người này tuyệt đối không phải anh hùng hào kiệt. Khen họ là anh hùng hào kiệt, đó chỉ là khen ngợi mà thôi, hữu danh vô thực. Anh hùng hào kiệt thật sự, tuyệt đối không tự cho mình là đúng. Chúng ta gọi Phật là đại anh hùng, bạn xem trong chùa, nơi đại điện thờ Phật gọi là Đại Hùng Bảo Điện, chúng ta gọi ngài là đại anh hùng. Phật có tự cho mình là đúng hay không? Không có. Ngài giảng kinh thuyết pháp cho chúng sanh, nhưng ngài nói bản thân ngài không hề nói một lời nào. Không nói một lời nào mà nói suốt 49 năm, đây là nguyên nhân gì vậy? Những gì ngài nói đều không phải của ngài, là của ai vậy? Của cổ Phật nói. Khổng Lão phu tử cả đời dạy học, cũng nói đó đều không phải ý của ngài. Suốt đời ngài chỉ là “thuật lại chứ không sáng tác”, những gì ngài nói đều là giáo huấn của cổ thánh tiên vương. Bạn xem, các ngài đều khiêm tốn như vậy! Tuyệt đối không tự cho mình là đúng, tuyệt đối không thêm ý của mình vào trong đó, đây mới thật sự là anh hùng hào kiệt. “Cũng không có học vấn nào dạy ta oán trách người khác”, “vưu” nghĩa là oán hận. Học vấn của các bậc thánh hiền tuyệt đối không khởi phát tâm tự tư tự lợi của con người, tuyệt đối không khởi phát tâm tham sân si mạn của con người, tuyệt đối không dạy bạn hại người khác để lợi bản thân, học vấn của thánh hiền không có những điều này. Một cái nói từ “con người”, một cái nói từ “học vấn”. Chúng ta quay lại phản tỉnh chính mình, “sự việc không thành đều là do đức hạnh của ta chưa tu dưỡng tốt”. Cho nên, chúng ta phải quay lại phản tỉnh chính mình, đích thực bản thân chúng ta chưa tu dưỡng đạo đức, chúng ta không đủ tâm chân thành, cho nên chúng ta không cảm hóa được. Ta phải quay lại phản tỉnh chính mình. Chúng ta phải nghiêm túc kiểm điểm lại những điều này. Cho nên muốn giúp xã hội, giúp người khác, giúp xã hội an định hòa bình, giúp tất cả chúng sanh hạnh phúc mỹ mãn. Bắt đầu làm từ
136 đâu? Bắt đầu làm từ việc tu dưỡng đức hạnh của chính mình. Bản thân bạn không có đức học thật sự thì làm sao có thể cảm hóa chúng sanh? Bản thân vẫn còn một chút ý niệm tự tư tự lợi, danh văn lợi dưỡng chưa buông bỏ, thì làm sao có thể cảm động chúng sanh? Làm sao có thể hành Bồ-tát đạo? Những lời này, mỗi câu đều là chân thật, lời nói chân thật. Cho nên, chúng ta muốn giúp thế gian này giảm nhẹ tai nạn, hiện nay mọi người đều biết thế gian có không ít người tin tưởng những lời dự ngôn cổ xưa. Tôi nghe rất nhiều đồng tu từ châu Âu trở về nói, người châu Âu đều rất tôn kính, tin tưởng nhà tiên tri Nostradamus ở thế kỷ thứ 16. Họ đều xem nhà tiên tri này như thánh nhân. Ông dự đoán rằng thế kỷ này của chúng ta có tai nạn lớn. Trong kinh Thánh của đạo Kitô gọi là ngày tận thế, trong kinh Cô-ran của đạo