Lời Nhắn Cuối Cùng

hồi xưa học toán khổ sở thế nào và sau khi đã

hồi xưa học toán khổ sở thế nào và sau khi đã

hồi xưa học toán khổ sở thế nào và sau khi đã học đến kiệt quệ hết học kỳI, giáo sư nói sẽ lồng bài kiểm tra của anh ấy vào khung treo trong văn phòng làm bài học cho các sinh viên tương lai. Không phải để cho họ thấy nên học tập thế nào, mà để ít nhất cũng thấy hóa ra mình chưa tệ đến thế.” Giáo sư im lặng. Tôi tiếp tục nói, lấp đầy bầu không khí lặng câm trong giảng đường. “Có thể năm nào giáo sư cũng chọn một sinh viên làm vậy, đặc biệt khi anh ấy là sinh viên những năm đầu, và thực sự lúc ấy có lẽ là sinh viên học dốt nhất? Nhưng những gì giáo sư làm đã có tác dụng. Anh ấy tin tưởng vào giáo sư. Thay vì khiến anh ấy bực tức, chuyện ấy lại khiến anh ấy muốn học tập chăm chỉ hơn. Để chứng tỏ khả năng của mình với giáo sư.” Ông vẫn không nói gì. Bailey cầm tay tôi kéo lại, nhắc tôi hãy để ông ấy đi. “Bác ấy không biết đâu,” nó nói. “Đi thôi.” Nó bình tĩnh đến đáng sợ, thà nó cứ nổi đóa lên tôi lại thấy đỡ hơn. Nhưng không ai níu lại nữa mà giáo sư Cookman vẫn đứng nguyên đó. “Đúng là tôi đã đóng khung,” ông nói. “Cái gì?” Bailey nói. “Bài kiểm tra của cậu ấy. Tôi đã treo vào khung.” Ông quay lại, tiến về phía chúng tôi. “Là năm giảng dạy thứ hai của tôi, lúc ấy tôi cũng không nhiều tuổi hơn sinh viên là mấy. Tôi chỉ muốn chứng tỏ quyền lực của mình. Cuối cùng, vợ tôi bắt tôi phải gỡ bài kiểm tra xuống cất đi. Bà ấy nói mang bài kiểm tra học kỳ tệ hại ra làm hỏng thanh danh sinh viên thì ác quá. Nhưng lúc đầu tôi không nghĩ thế. Đúng là bà ấy khôn ngoan hơn tôi. Bài kiểm tra đóng khung treo trên tường một thời gian dài, khiến bao nhiêu sinh viên sợ chết khiếp, và đúng mục đích của tôi là như thế.” “Không ai muốn học dốt đến mức ấy?” tôi nói. “Kể cả khi tôi cho sinh viên biết sau đó cậu ấy đã tiến bộ thế nào,” ông nói.

Rồi ông chìa tay muốn xem lại điện thoại của Bailey. Bailey đưa điện thoại cho ông. Hai chúng tôi cùng chăm chú quan sát ông cố nhớ lại mọi việc cho rõ nét. “Bố cháu làm gì?” ông hỏi. Ông hỏi trực tiếp Bailey. Tôi tưởng nó sẽ trình bày ngắn gọn chuyện xảy ra ở The Shop và Avett Thompson - rồi nói hiện giờ chúng tôi chưa biết hết toàn bộ sự việc thế nào. Chúng tôi không biết anh liên quan tới vụ lừa đảo ra sao, cũng không biết vì sao nó khiến anh phải bỏ chúng tôi lại chật vật tìm cách ghép nối toàn cảnh. Bằng những mảnh ghép tưởng như vô thực này. Nhưng thay vào đó, nó chỉ lắc đầu và nói điều tệ hại nhất trong những gì Owen làm. “Bố cháu nói dối cháu,” Bailey nói. Giáo sư gật đầu như thể chỉ cần vậy là đủ. Giáo sư Cookman. Tên Tobias. Biệt danh Cook. Nhà toán học đoạt giải thưởng. Người bạn mới của chúng tôi. “Theo tôi,” ông nói.

Có Sinh ViênGiỏiHơn Các Sinh ViênKhác Giáo sư Cookman dẫn chúng tôi trở lại văn phòng. Ông pha một bình cà phê, còn cô nghiên cứu sinh Cheryl ngồi sau bàn làm việc của ông giờ đã hoạt bát hơn hẳn lúc trước. Cô bật vài máy tính, trong khi một nghiên cứu sinh khác có tên Scott bắt đầu tìm kiếm trong tủ hồ sơ - cả hai nhanh nhẹn hết mức có thể. Trong khi Cheryl tải ảnh Owen về laptop của giáo sư, Scott rút ra một tập hồ sơ khổng lồ, đóng tủ hồ sơ đánh rầm trước khi quay lại bàn làm việc. “Các bài kiểm tra có trong tủ hồ sơ cũ nhất là năm 2001. Đây là các bài kiểm tra trong năm học 2001-2002.” “Thế thì cậu đưa tôi làm gì?” ông nói. “Tôi làm gì với đống bài này?” Scott tê liệt vì sợ hãi khi Cheryl đặt laptop lên mặt bàn của giáo sư. “Sang phòng lưu trữ tìm đi,” ông nói. “Rồi gọi phòng đào tạo, lấy cho tôi danh sách sinh viên năm 1995, Lấy ca năm 1994 và 1996 nữa cho chắc.” Scott và Cheryl cùng ra khỏi phòng mang theo nhiệm vụ được giao. Cook quay lại với laptop, ảnh Owen phủ kín màn hình. “Thế bố cháu gặp phải vấn đề gì?” ông nói. “Nếu cháu không ngại bác hỏi.” “Bố cháu làm việc ở công ty The Shop,” Bailey nói. “The Shop?” ông nói. “Vụ Avett Thompson?” “Chính xác,” tôi nói. “Anh ấy phụ trách việc viết code.” Giáo sư tỏ vẻ bối rối. “Viết code? Tôi rất ngạc nhiên đấy. Nếu bố cháu đúng là người mà tôi đã dạy thì cậu ấy thích lý thuyết toán hơn. Cậu ấy muốn ở lại làm việc trong trường. Cậu ấy muốn làm nghiên cứu. Lập trình không phải ngành mở rộng từ định hướng ấy, thật sự đấy.” Có thể đó là lý do vì sao anh ấy quyết định chọn công việc đó, tôi những muốn nói. Là cách ẩn mình trong công việc tương tự ngành nghề anh yêu thích mà vẫn đủ khác biệt để không bị ai tìm kiếm.

“Cậu ấy đã chính thức bị tình nghi chưa?” ông nói. “Chưa,” tôi nói. “Chưa chính thức.” Ông đưa tay về phía Bailey. “Bác tin dù thế nào đi chăng nữa, cháu vẫn muốn tìm cha.” Bailey gật đầu. Cook quay sang nhìn tôi. “Thế chuyện đổi tên thì liên quan gì?” “Tôi đang cố tìm hiểu,” tôi nói. “Có lẽ anh ấy đã gặp rắc rối trước khi làm việc cho The Shop. Chúng tôi chưa biết. Chúng tôi chỉ vừa mới nhận ra những điểm bất hợp lý giữa những gì anh ấy nói với chúng tôi và...” “Và sự thật?” “Đúng vậy,” tôi nói. Rồi tôi quay sang nhìn Bailey để xem con bé phản ứng thế nào. Nó nhìn lại tôi như muốn nói, không sao. Không phải không sao trước những gì đang diễn ra - mà là việc tôi đang cố tìm hiểu cho rõ ngọn ngành mọi chuyện là bình thường. Giáo sư Cookman không rời mắt khỏi màn hình máy tính và thoạt đầu không nói năng gì. “Không ai nhớ hết sinh viên, nhưng cậu ấy thì tôi nhớ,” ông nói. “Nhưng tôi nhớ cậu ấy để tóc dài. Và to lớn hơn. Giờ nhìn khác hẳn.” “Nhưng không hoàn toàn khác?” tôi nói. “Không,” ông nói. “Không hoàn toàn khác.” Tôi ngẫm nghĩ - cố hình dung Owen trên đường đời trong vẻ ngoài như giáo sư Cookman vừa mô tả. Tôi cố hình dung Owen trên đường đời với tư cách một người khác. Tôi đưa mắt nhìn Bailey và thấy nét mặt của những suy nghĩ tương đồng. Tôi thấy rõ trên nét nhíu mày. Thấy rõ nó cũng đang hệt như mình. Giáo sư Cookman đóng màn hình laptop rồi nhướn mình về phía chúng tôi ngồi trước mặt. “Nghe này, tôi sẽ không giả vờ tìm cách hình dung cảm giác về chuyện này thế nào. Nhưng tôi muốn nói thế này, dù có ích hay không, rằng suốt những năm tháng dạy học của mình, tôi đã tìm được điều giúp tôi bình tĩnh hơn cả trong những hoàn cảnh hệt thế này. Nó vốn là học thuyết của Einstein, và cũng vì thế mà nói bằng tiếng Đức nghe hay hơn nhiều.”

“Bác sẽ phải dùng tiếng Anh thôi,” Bailey nói. “Einstein từng nói thế này, Xét về mặt thực tế thì các học thuyết toán học không đích xác;còn xét về khía cạnh đích xácthìchúng lại không thựctế.” Bailey nghiêng đầu. “Vẫn đang chờ bản dịch tiếng Anh, thưa giáo sư,” nó nói. “Về cơ bản có nghĩa là chúng ta chẳng biết gì về bất cứ thứ gì,” ông nói. Bailey cười thành tiếng - tuy nhỏ thôi nhưng thực lòng - đây là lần đầu tiên nó cười suốt mấy ngày qua, lần đầu tiên nó cười thành tiếng từ khi tất cả chuyện này bắt đầu. Tôi mừng đến nỗi suýt nhảy qua bàn ôm giáo sư Cookman. Trước khi tôi kịp làm thế, Scott và Cheryl đã trở lại. “Đây là lịch giảng dạy của học kỳ mùa xuân năm 1995. Năm 1994, giáo sư dạy hai lớp sinh viên năm cuối. Còn năm 1996 thì giáo sư chỉ dạy nghiên cứu sinh thôi. Giáo sư chỉ dạy sinh viên năm nhất vào mùa xuân 1995. Vì thế, đây chắc chắn là lớp mà sinh viên này tham dự.” Cheryl đưa lịch giảng dạy cho giáo sư với vẻ hân hoan của người chiến thắng. “Có bảy mươi ba sinh viên trong lớp,” cô nói. “Ngày đầu có tám mươi ba, nhưng rồi mười người bỏ. Chuyện bình thường thôi. Em đoán thầy không cần tên mười người bỏ học?” “Không,” giáo sư nói. “Em biết ngay mà, nên đã chủ động gạch tên họ ra khỏi danh sách hộ thầy,” cô nói, như thể vừa phát hiện ra thứ gì đó nhỏ hơn cả nguyên tử. Và trong mắt tôi thì quả là như thế. Trong lúc giáo sư Cookman kiểm tra danh sách, Cheryl quay sang nhìn chúng tôi. “Không ai có tên Owen. Cả Michaels cũng không.” “Không ngạc nhiên chút nào,” ông nói. Cook không rời mắt nhìn danh sách mà chỉ lắc đầu. “Rất tiếc nhưng tôi không nhớ được tên cậu ấy,” ông nói. “Chắc cô nghĩ tôi đã lồng bài kiểm tra của cậu ấy vào khung treo trên tường bao lâu như vậy thì tôi phải nhớ đúng không.” “Cũng lâu lắm rồi,” tôi nói. “Nhưng tôi nhớ ra thì đã rất được việc cho cô. Rất tiếc, những cái tên

trong danh sách này không gợi nhắc gì cho tôi cả.” Giáo sư Cookman chìa danh sách cho tôi. Tôi mừng rỡ đón ngay, trước khi ông kịp đổi ý. “Bảy mươi ba tên vẫn dễ gấp bội so với cả tỷ tên. Thế này là đã dễ dàng hơn hẳn so với lúc không biết phải bắt đầu từ đâu rồi.” “Với điều kiện tên cậu ấy có trong danh sách,” giáo sư Cookman nói. “Đúng, với điều kiện ấy.” Tôi nhìn xuống tờ danh sách được in ra, họ tên của bảy mươi ba người nhìn ngược lại tôi - năm mươi là nam. Bailey cũng ngó qua vai tôi nhìn ké. Chúng tôi phải tìm cách nào đó kiểm tra thật nhanh những cái tên này. Dù thế, tôi vẫn thấy hy vọng hơn trước bởi đã có gì đó để bắt đầu. Chúng tôi đã có một danh sách những cái tên lọc ra, Owen là một trong số họ. Tôi tin chắc như thế. “Giáo sư không biết chúng tôi cảm kích đến mức nào đâu,” tôi nói. “Xin cảm ơn.” “Rất vui lòng,” ông nói. “Hy vọng sẽ có ích.” Chúng tôi đứng dậy chuẩn bị ra về. Cookman cũng đứng dậy theo. Ông có vẻ không thực sự muốn tiếp tục việc của mình. Giờ khi đã bỏ công sức vào việc này, ông lại muốn tìm hiểu thêm. Hình như ông muốn biết trước đây Owen là ai và chuyện gì đã xảy ra dẫn tới hiện trạng này - cho dù hiện trạng đó là gì. Đang tiến về phía cửa ra vào thì Cookman gọi chúng tôi lại. “Còn điều này tôi muốn nói... Tôi không biết chuyện gì xảy ra, nhưng có thể nói thế này, hồi trước cậu ấy là người tốt. Thông minh nữa. Không phải chuyện gì tôi cũng nhớ rõ, nhưng tôi có nhớ vài sinh viên những năm đầu dạy học. Có lẽ vì chúng ta luôn cố gắng hơn khi mới bắt đầu. Nhưng đúng là tôi nhớ. Tôi thực sự nhớ cậu ấy là một sinh viên tốt.” Tôi quay lại nhìn ông, mừng vì có người nhắc đến Owen đúng như những gì tôi hiểu về anh. Giáo sư mỉm cười nhún vai. “Điểm giữa kỳ dở ẹc như thế không hoàn toàn vì lỗi của cậu ấy. Chỉ vì cậu ấy để tâm quá nhiều tới một nữ sinh trong lớp. Mà không chỉ riêng cậu ấy. Cô ấy nổi bật trong lớp học hầu hết là con trai.”

Tim tôi như ngừng đập. Bailey cũng quay lại nhìn Cookman. Tôi như cảm nhận được con bé. Nó gần như ngừng thở. Một trong vài điều ít ỏi Owen nói đi nói lại với chúng tôi về Olivia, một trong vài điều ít ỏi Bailey biết được về mẹ nó là việc Owen đã yêu Olivia từ hồi đại học. Anh nói khi họ học năm cuối - rằng cô ấy ở ngay phòng bên cạnh. Chẳng lẽ cũng là nói dối? Phải bẻ cong cả chi tiết nhỏ bé nhất để không ai lần ra nổi cuộc đời thực trước đây? “Cô ấy có phải... là người yêu của bố cháu?” Bailey nói. “Bác không biết. Bác chỉ nhớ vì bố cháu nhất quyết giải thích cô ấy là lý do vì sao mình học hành dở ẹc. Vì bố cháu đang yêu. Bố cháu giải thích mọi chuyện trong một lá thư rõ dài. Bác nói nếu bố cháu không học tử tế hơn, bác sẽ dán lá thư ngay cạnh bài kiểm tra kia của bố cháu.” “Thế là hạ nhục đấy,” Bailey nói. “Nhưng hóa ra lại rất có hiệu quả,” giáo sư nói. Tôi lại nhìn danh sách trong tay, lướt qua các tên nữ. Mười ba cả thảy. Tôi rà tìm tên Olivia nhưng không thấy đâu. Nhưng tất nhiên rồi, có thể cái tên tôi cần tìm không phải là Olivia. “Tôi biết hỏi thế này thì khó quá, nhưng giáo sư có nhớ tên nữ sinh viên ấy không?” tôi nói. “Tôi chỉ nhớ cô ấy học giỏi hơn chồng cô thôi,” ông nói. “Chẳng phải ai cũng học giỏi hơn sao?” tôi nói. Giáo sư Cookman gật đầu. “Đúng, cả điều ấy cũng đúng,” ông nói.

MườiBốnThángTrước “Sao rồi? Giờ đã là phụ nữ có chồng, em thấy sao?” Owen hỏi. “Thế làm đàn ông có vợ thì anh thấy sao?” tôi nói. Chúng tôi đang ngồi bên chiếc bàn nơi đã diễn ra bữa tiệc cưới nhỏ của mình tại nhà hàng yên tĩnh mang tên Frances ở Castro. Ngày hôm ấy mở đầu bằng việc hai chúng tôi làm lễ thành hôn ở tòa thị chính. Tôi mặc váy trắng ngắn, Owen đeo cà vạt, chân đi đôi Converse mới. Lúc kết thúc chỉ có hai chúng tôi bên nhau khi cuối cùng cũng đã nửa đêm - số khách ít ỏi đã về hết. Chúng tôi tháo giày đi chân đất và uống nốt sâm banh. Ngoài Carl và Patty là bạn của Owen thì Jules cũng có mặt. Cả Bailey nữa. Tất nhiên là Bailey rồi. Trong cảm giác hào phóng hiếm khi dành cho tôi, nó có mặt ở tòa thị chính đúng giờ rồi ngồi lại nhà hàng đến tận sau khi chúng tôi đã cắt bánh. Nó thậm chí còn cười với tôi trước khi về để đến ngủ ở nhà Rory bạn nó. Tôi hy vọng điều đó có nghĩa nó thấy vui trong ngày cưới của tôi. Nhưng tôi biết rất có thể nó vui là vì Owen cho nó uống sâm banh. Dù thế nào đi chăng nữa, tôi vẫn tận hưởng hương vị chiến thắng. “Làm đàn ông có vợ tuyệt lắm,” Owen nói. “Dù anh không biết tối nay làm sao về được nhà.” Tôi cười lớn. “Chuyện ấy thì nhỏ mà.” “Không,” anh nói. “Không có gì ghê gớm lắm.” Anh với chai sâm banh rót đầy ly mình trước khi rót đầy ly của tôi. Rồi anh đẩy lùi ghế ngồi ké ghế tôi. Tôi tựa vào anh, hít một hơi đầy lồng ngực. “Chúng ta đã tiến một bước dài kể từ sau buổi hẹn hò thứ hai, khi em cứ khăng khăng không chịu để anh lái xe đưa đi ăn,” anh nói. “Em không nghĩ thế đâu nhé,” tôi nói. “Từ hồi ấy em đã phát cuồng vì anh rồi.” “Thế thì em thể hiện điều ấy kiểu gì vậy. Sau tối hôm ấy, anh không chắc rồi có còn được gặp em không.” “Gớm nữa, hôm ấy anh hỏi nhiều phát khiếp.”

“Thì có khối điều anh phải tìm hiểu về em mà.” “Tất cả trong một buổi tối à?” Anh nhún vai. “Anh thấy phải tìm hiểu về tất cả các anh chàng suýt￾thành...” anh nói. “Anh nghĩ chỉ có làm vậy mới giúp anh không nhập hội với họ.” Tôi vòng tay ra sau chạm vào ngực anh - đầu tiên dùng mu bàn tay, rồi lật ngược tay lại. “Rồi anh thành ra điều ngược lại,” tôi nói. “Đây chắc chắn là điều tuyệt vời duy nhất anh từng được nghe trên đời,” anh nói. “Lại là sự thực nữa,” tôi nói. Và đúng là sự thực. Owen hoàn toàn đối lập. Ngay ngày đầu tiên gặp gỡ tại xưởng làm việc của tôi, tôi đã cảm thấy anh khác hẳn. Giờ thì không chỉ là cảm giác nữa. Anh đã chứng tỏ mình hoàn toàn khác. Không chỉ vì ở bên anh tôi thấy thoải mái (và sự thực đúng thế) hay vì tôi thấy tình yêu cho anh sâu sắc hơn với bất cứ ai. Không chỉ vì chúng tôi hiểu nhau theo cách riêng không ai hiểu - như với một người duy nhất hoặc nhiều khi ta không thể tìm được ai như thế trên đời - cảm giác tận tường chỉ một ánh mắt là đủ biết người kia muốn nói gì: Đã đến lúc ra về sau bữa tiệc; đã đến lúc lại gần vớiem; đã đến lúc đểem một mình. Không chỉ là tất cả những điều ấy gộp lại mà còn một điều gì lớn lao hơn hẳn thế nữa. Làm sao ta giải thích được khi ta tìm thấy ở ai đó điều ta đã tìm kiếm suốt đời? Ta có gọi đó là số phận không? Gọi là số phận nghe an phận biếng lười quá. Nó giống như tìm thấy lối về nhà - nơi nhà chính là điều ta thầm lặng ước ao, chỉ có trong hình dung của ta - nhưng trước đây chưa từng một lần được đặt chân tới. Nhà. Khi ta không biết rồi có bao giờ mình sẽ có hay chăng. Owen với tôi là thế. Anh là người như thế. Owen cầm tay tôi đưa lên môi anh giữ nguyên ở đó. “Thế... em có định trả lời câu anh hỏi em thấy thế nào không?” anh nói. “Khi chúng ta đã kết hôn ấy?” Tôi nhún vai. “Em chưa biết,” tôi nói. “Quá sớm để nói được gì.” Anh cười lớn. “Thôi vậy, không sao,” anh nói.

Tôi nhấp một ngụm sâm banh. Tôi nhấp một ngụm rồi cũng cười theo anh. Tôi không thể nhịn được. Tôi thấy hạnh phúc. Tôi thấy... thực hạnh phúc. “Hóa ra em vẫn có chút thời gian trước khi đưa ra quyết định,” anh nói. “Kiểu như còn cả phần đời còn lại của bọn mình ấy hả?” tôi nói. “Anh hy vọng là còn nhiều hơn thế,” anh nói.

NếuBạnKếtHôn Với Vua CủaBuổiProm... Bảy mươi ba cái tên, năm mươi trong số đó là nam. Có khả năng một trong số đó là Owen. Chúng tôi rảo bước tới thư viện chính, theo như Cheryl thì rất có thể là nơi lưu giữ kỷ yếu. Nếu mượn được kỷ yếu những năm Owen học ở Đại học Texas thì chúng tôi sẽ nắm được ngay trong tay chìa khóa giải mã danh sách họ tên này một cách nhanh nhất. Kỷ yếu không chỉ liệt kê tên họ sinh viên mà còn có cả ảnh chụp nữa. Nhiều khả năng sẽ có ảnh chụp Owen thời trẻ, nếu anh còn có thành tích gì khác ngoài việc trượt môn toán. Chúng tôi bước vào thư viện Perry-Castañeda khổng lồ - sáu tầng toàn sách, bản đồ, thẻ cùng các phòng máy tính. Chúng tôi thẳng tiến về phía bàn làm việc của thủ thư. Cô cho chúng tôi biết muốn tiếp cận các cuốn kỷ yếu đã cũ như thế thì phải đề nghị với phòng lưu trữ, nhưng có thể xem bản điện tử trên máy tính thư viện. Chúng tôi lên phòng máy tính tầng hai lúc ấy hầu như trống trơn và chọn hai máy ở góc phòng. Tôi tìm kỷ yếu năm đầu và năm thứ hai của Owen trên máy tính, trong khi Bailey mở kỷ yêu năm thứ ba và năm cuối. Rồi cả hai cùng lúc tìm từng sinh viên trong danh sách lớp của Cookman, lần lượt theo thứ tự bảng chữ cái. Ứng viên đầu tiên: John Abbot đến từ Baltimore, Maryland. Tôi tìm được một bức ảnh mờ tịt của anh ta trong câu lạc bộ trượt tuyết. Người trong ảnh không giống Owen là mấy - kính dày cộp, cả một bộ râu - nhưng không thể loại trừ tuyệt đối chỉ dựa trên một tấm ảnh. Chỉ tìm tên trên Google thôi mà chúng tôi tìm được khá nhiều kết quả đầy tiềm năng. Nhưng khi kiểm tra chéo thêm với từ khóa trượt tuyết, tôi phát hiện ra John Abbot (Baltimore, Maryland, tốt nghiệp Đại học Texas) hiện đang cùng vợ con sống ở Aspen. Vài nam sinh viên tiếp theo trong danh sách được loại bỏ khá dễ dàng: một chỉ cao mét rưỡi, tóc xoăn đỏ; một người khác cao mét chín và hiện là diễn viên ba lê chuyên nghiệp sống ở Paris; một người sống ở Honolulu,

Hawaii và hiện đang tranh cử làm thượng nghị sĩ bang. Chúng tôi đang lần tới vần E thì điện thoại tôi rung. Màn hình hiện chữ NHÀ. Tôi thoáng tưởng tượng là Owen đang gọi. Owen đã về nhà và gọi điện để báo tin anh đã giải quyết ổn thỏa mọi chuyện và chúng tôi phải về ngay. Để anh giải thích những chi tiết khó hiểu. Anh từng ở đâu, từng là ai trước khi gặp tôi. Vì sao anh không nói tôi biết những điều ấy. Nhưng đầu dây kia không phải Owen. Mà là Jules. Jules đang thực hiện điều tôi nhờ cô ấy qua tin nhắn mà tôi gửi cô lúc ngồi ở quầy bar khách sạn, tôi đã nhờ cô đến nhà tôi tìm con lợn tiết kiệm. “Tớ đang ở trong phòng của Bailey,” cô nói khi tôi trả lời. “Có ai ở ngoài không?” tôi nói. “Tớ nghĩ là không. Không thấy ai lạ mặt ở bãi đậu xe, cũng không thấy ai ngoài cầu tàu.” “Cậu kéo rèm lại được không?” “Kéo rồi,” cô nói. Tôi quay sang nhìn Bailey, hy vọng nó đang quá chăm chú với các cuốn kỷ yếu mà không để ý đến mình. Nhưng nó đang nhìn tôi, chờ đợi xem cú điện thoại là về vấn đề gì. Có thể nó đang hy vọng hão huyền rằng đây là cú điện thoại đưa nó trở lại với cha mình. “Và cậu nói đúng,” Jules nói. “Đúng là bên sườn có in chữ Lady Paul.” Cô ấy không nói là gì, đương nhiên rồi. Cô ấy không nhắc đến con lợn tiết kiệm, không nói đang ở nhà tôi để lấy con lợn tiết kiệm của Bailey - mặc dù có nói ra thành lời thì cũng vô hại. Tôi đã không tưởng tượng linh tinh. Dòng ghi chú nhỏ xíu nằm ở cuối trang cuối cùng trong di chúc của Owen đề tên người giám hộ là L. Paul. Cũng là tên in bên sườn con lợn tiết kiệm màu xanh da trời trong phòng Bailey - LADY PAUL, mực đen, ngay dưới nơ cài cổ. Cũng là con lợn tiết kiệm xanh da trời Owen mang theo khi chúng tôi sơ tán, con lợn mà anh cầm theo lúc tôi tìm thấy anh ngồi ở quầy bar khách sạn lúc nửa đêm. Tôi cứ đinh ninh lúc ấy anh đang đa cảm. Nhưng tôi đã nhầm. Anh mang con lợn tiết kiệm theo mình bởi đó là thứ mà anh nhất định phải bảo đảm an toàn cho nó. “Nhưng có chút vấn đề,” Jules nói. “Tớ không mở nó ra được.”

“Cậu nói vậy là sao? Không mở được là sao?” tôi nói. “Cứ lấy búa mà nện là xong.” “Không, cậu không hiểu, bên trong có một cái két an toàn,” cô ấy nói. “Làm bằng sắt. Tớ sẽ phải tìm ai đó biết phá két. Cậu có biết ai không?” “Ngay giờ thì nghĩ không ra,” tôi nói. “Không sao, để tớ lo,” Jules nói. “Nhưng cậu đã xem cập nhật tin tức chưa? Họ đã truy tố Jordan Maverick rồi.” Jordan là giám đốc điều hành của The Shop, là người thứ hai đứng sau Avett và là người đồng cấp với Owen, phụ trách mảng kinh doanh. Anh ta mới ly hôn và thỉnh thoảng có ghé chơi nhà chúng tôi. Tôi từng mời Jules đến ăn tối với hy vọng hai người sẽ trở nên tâm đầu ý hợp. Nhưng không. Cô ấy nói anh ta chán ngắt. Tôi thì nghĩ còn khối thứ tệ hơn việc chán ngắt - hoặc có thể chỉ vì tôi không thấy anh ta như thế. “Nói cậu nghe này,” Jules nói. “Không giới thiệu gì nữa đâu nhé.” “Hiểu rồi,” tôi nói. Vào dịp khác thì chỉ cần cô ấy nói thế là đủ để tôi hỏi về anh chàng đồng nghiệp Max rồi đùa cợt rằng có lẽ anh ta là lý do vì sao cô ấy không để mắt đến các vụ giới thiệu. Nhưng lúc này, nó chỉ nhắc nhở tôi nhớ rằng Max là tay trong. Là người có khả năng giúp chúng tôi trong việc Owen. “Max có nghe được thêm gì khác ngoài Jordan không?” tôi hỏi. “Có nghe tin gì về Owen không?” Bailey nghiêng đầu về phía tôi. “Không hẳn,” Jules nói. “Nhưng nguồn tin của anh ấy ở FBI nói

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 43

Đang tải bình luận...