Hồi còn nhỏ, tôi không có ý thức về việc mình thiếu điều gì khi nói đến các mối quan hệ xã hội. Nhưng khi nói chuyện với các nhà khoa học nghiên cứu về sự cô đơn, tôi mới nhớ ra một chuyện nhỏ. Trong suốt thời thơ ấu cho đến những năm đầu tuổi thiếu niên, tôi đã có một mơ ước. Đó là những người bạn của bố mẹ tôi – những người sống rải rác trên khắp đất nước mà chúng tôi chỉ gặp được vài lần trong năm – đều sẽ chuyển đến sống trên con phố nhà chúng tôi, để tôi có thể đến ngồi với họ khi bầu không khí trong nhà trở nên khó chịu, mà có rất nhiều lúc như vậy. Ngày nào tôi cũng mơ về điều đó. Nhưng con phố của chúng tôi chỉ toàn những người xa lạ, đóng cửa im ỉm như nhau, đơn độc như nhau. * Tôi từng nghe nữ diễn viên hài Sarah Silverman nói trong một buổi phỏng vấn trên đài phát thanh về thời điểm chứng trầm cảm lần đầu tiên tấn công cô ấy lúc bước vào tuổi thiếu niên. Khi mẹ và cha dượng hỏi cô có chuyện gì, cô không tìm được lời lẽ nào để giải thích. Nhưng rồi cuối cùng, cô nói rằng mình cảm thấy nhớ nhà, giống như khi ở trại hè vậy. Cô kể lại điều này với người phỏng vấn, Terry Gross dẫn chương trình Fresh Air của đài NPR, với vẻ bối rối. Cô cảm thấy nhớ nhà. Nhưng cô đang ở nhà mà? Kho sách tổng hợp link Google Drive 3000+ ebook & sách nói, 38 chủ đề, 700+ GB https://bit.ly/usbsach
169 | T r an g Tôi nghĩ tôi hiểu chuyện gì đã xảy ra với Sarah. Ngày nay, khi nói về “nhà” , chúng ta chỉ muốn nói đến bốn bức tường và gia đình hai thế hệ (nếu chúng ta may mắn). Nhưng đó chưa bao giờ là ngôi nhà có ý nghĩa đối với cha ông của chúng ta. Đối với họ, nhà có nghĩa là cộng đồng – một mạng lưới dày đặc những người xung quanh chúng ta, một bộ tộc. Nhưng điều đó gần như đã biến mất. Cho đến nay, cảm giác về nhà của chúng ta đã teo tóp lại quá nhiều và quá nhanh, nó không còn đáp ứng được nhu cầu của chúng ta về cảm giác thân thuộc. Vì vậy, chúng ta mới nhớ nhà dù đang ở nhà. * Khi John đang chứng minh hiệu ứng này diễn ra như thế nào ở con người, thì các nhà khoa học khác lại nghiên cứu nó ở những loài động vật. Ví dụ, giáo sư Martha McClintock đã tách những con chuột thí nghiệm ra. Một số được nuôi riêng biệt trong lồng. Những con khác được nuôi theo nhóm. Những con chuột bị cô lập đã xuất hiện số lượng khối u ung thư vú gấp tám mươi lần so với những con chuột sống trong cộng đồng. * Sau nhiều năm thử nghiệm và nghiên cứu, John đã phát hiện ra một bước ngoặt tàn khốc trong câu chuyện này. Khi đưa những người cô đơn vào máy quét não, ông nhận ra rằng Quản trị thời gian, công việc & lưu dữ liệu cá nhân chỉ bằng 1 app miễn phí duy nhất https://bit.ly/trelloaiov23
170 | T r an g họ sẽ phát hiện mối đe dọa tiềm ẩn trong vòng 150 mili giây, trong khi những người có kết nối xã hội phải mất thời gian gấp đôi – 300 mili giây – mới nhận thấy mối đe dọa tương tự. Chuyện gì đã xảy ra? Sự cô đơn kéo dài khiến bạn sống khép kín với xã hội và tỏ ra nghi ngờ hơn với bất kỳ mối quan hệ xã hội nào. Bạn trở nên cực kỳ cảnh giác. Bạn bắt đầu có xu hướng công kích nhiều hơn, dù không ai có ý định tấn công bạn, và bạn sợ người lạ. Bạn bắt đầu sợ hãi chính điều mà bạn cần nhất. John gọi đây là hiệu ứng “quả cầu tuyết” , vì sự mất kết nối sẽ khiến ta dần mất kết nối nhiều hơn. Những người cô đơn nhạy cảm với các mối đe dọa bởi vì họ vô thức biết rằng chẳng có ai tìm đến họ, vì vậy sẽ không ai giúp họ nếu họ bị tổn thương. Theo ông, hiệu ứng quả cầu tuyết này có thể đảo ngược – nhưng để giúp một người trầm cảm hoặc lo âu trầm trọng thoát khỏi tình trạng này, họ cần được yêu thương và được cảm thấy yên tâm nhiều hơn những gì trước đây họ vẫn cần. Nhưng John nhận ra, bi kịch là nhiều người bị trầm cảm và lo âu lại ít được yêu thương hơn, vì họ trở nên khó gần gũi hơn. Thực ra, họ chỉ nhận được những lời phán xét và chỉ trích, điều càng khiến họ ngày càng trốn vào thế giới riêng. Họ lăn quả cầu tuyết đến một nơi lạnh hơn bao giờ hết. Kho sách tổng hợp link Google Drive 3000+ ebook & sách nói, 38 chủ đề, 700+ GB https://bit.ly/usbsach
171 | T r an g * Sau nhiều năm điều tra những người nói rằng họ cảm thấy cô đơn, John đã tự hỏi mình một câu cơ bản đến lạ lùng: Cô đơn là gì? Hóa ra điều này lại khó trả lời một cách bất ngờ. Khi ông hỏi mọi người: “Bạn có cô đơn không?” , thì họ sẽ dễ dàng hiểu ông đang nói gì, nhưng thật khó để xác định. Tôi cho rằng lúc đầu, khi tôi chưa nghĩ nhiều về điều đó, thì nó chỉ có nghĩa là cô đơn về mặt thể xác – vì thiếu sự kết nối với người khác. Tôi hình dung ra một cụ bà quá yếu ớt đến nỗi không thể ra khỏi nhà và không ai đến thăm. Nhưng John đã phát hiện ra rằng điều này không đúng. Trong nghiên cứu của ông, hóa ra cảm giác cô đơn khác với việc ở một mình. Thật đáng ngạc nhiên, cảm giác cô đơn không liên quan gì nhiều đến số lượng người bạn nói chuyện mỗi ngày hay mỗi tuần. Một số người cảm thấy cô đơn nhất trong nghiên cứu của ông thật ra đã nói chuyện với rất nhiều người mỗi ngày. Ông nói: “Có một mối tương quan tương đối thấp giữa các kết nối khách quan và các kết nối được cảm nhận”. Tôi đã rất bối rối khi lần đầu tiên nghe John nói điều này. Nhưng rồi ông bảo tôi rằng hãy tưởng tượng bạn ở một mình trong một thành phố lớn, nơi mà bạn hầu như không biết ai. Hãy đi đến một quảng trường công cộng lớn – chẳng hạn như Times Square, hoặc Vegas Strip, hoặc Place de la République. Bạn sẽ không cô đơn nữa: Quản trị thời gian, công việc & lưu dữ liệu cá nhân chỉ bằng 1 app miễn phí duy nhất https://bit.ly/trelloaiov23
172 | T r an g nơi ấy có rất nhiều người. Nhưng bạn sẽ cảm thấy cô đơn – hẳn là cô đơn sâu sắc. Hoặc hình dung bạn đang nằm trên giường bệnh ở một phòng bệnh đông đúc. Bạn không cô đơn. Xung quanh bạn là những bệnh nhân khác. Bạn có thể nhấn một cái nút, rồi một y tá sẽ đến ngay. Nhưng hầu hết mọi người đều cảm thấy cô đơn trong hoàn cảnh đó. Tại sao lại thế? Khi nghiên cứu vấn đề này, John khám phá ra rằng vẫn còn thiếu một yếu tố nữa để phục hồi sau cô đơn. Để chấm dứt cô đơn, bạn cần những người khác, và cộng thêm thứ gì đó nữa. Ông giải thích cho tôi rằng bạn cũng cần cảm thấy mình đang chia sẻ điều gì đó với người khác hoặc với một nhóm, và điều đó có ý nghĩa cho cả hai người. Hai bạn phải cùng tham gia vào nó – và “nó” có thể là bất cứ thứ gì mà cả hai đều cho là có ý nghĩa và giá trị. Khi đến quảng trường Times Square vào buổi chiều đầu tiên ở New York, bạn không cô đơn, nhưng bạn cảm thấy cô đơn vì ở đó chẳng ai quan tâm đến bạn và bạn cũng không quan tâm đến họ. Bạn không chia sẻ niềm vui hay nỗi đau của mình. Bạn không là gì đối với những người xung quanh và họ không là gì đối với bạn. Và khi nằm trên giường bệnh, bạn không đơn độc, nhưng sự trợ giúp chỉ là một chiều. Y tá ở đó để giúp bạn, nhưng bạn không ở đó Kho sách tổng hợp link Google Drive 3000+ ebook & sách nói, 38 chủ đề, 700+ GB https://bit.ly/usbsach
173 | T r an g để giúp y tá – nếu thử làm vậy, người ta sẽ yêu cầu bạn ngừng ngay. Một mối quan hệ một chiều không thể chữa khỏi sự cô đơn. Chỉ có những mối quan hệ hai chiều (hoặc nhiều hơn) mới có thể làm được điều đó. John nói rằng cô đơn không phải là sự vắng mặt của những người khác, mà đó là cảm giác bạn không thể chia sẻ bất cứ điều gì quan trọng với bất kỳ ai khác. Nếu xung quanh bạn có nhiều người – thậm chí cả vợ hoặc chồng, gia đình hay một công sở bận rộn – nhưng nếu bạn không chia sẻ bất cứ điều gì quan trọng với họ, thì bạn vẫn sẽ cô đơn. John đã tìm ra rằng: Để hết cô đơn, bạn cần có ý thức “hỗ trợ và bảo vệ lẫn nhau, với ít nhất một người khác, và lý tưởng là với nhiều người”. * Tôi đã suy nghĩ rất nhiều về điều này. Trong nhiều tháng sau lần cuối cùng chúng tôi trò chuyện, tôi cứ để ý đến một câu nói sáo rỗng theo kiểu tự động viên mà mọi người luôn nói với nhau và cứ chia sẻ không ngừng trên Facebook: “Không ai có thể giúp mình ngoài chính mình”. Điều đó khiến tôi nhận ra rằng từ thập niên 1930 đến nay, chúng ta không chỉ làm mọi thứ một mình ngày càng nhiều hơn, mà chúng ta còn bắt đầu tin rằng làm mọi việc một mình là trạng thái tự Quản trị thời gian, công việc & lưu dữ liệu cá nhân chỉ bằng 1 app miễn phí duy nhất https://bit.ly/trelloaiov23
174 | T r an g nhiên của con người, và là cách duy nhất để tiến bộ. Chúng ta đã bắt đầu nghĩ: Tôi sẽ tự chăm lo cho mình, và mọi người khác cũng nên tự chăm lo cho bản thân họ với tư cách cá nhân. Không ai có thể giúp bạn ngoài chính bạn. Không ai có thể giúp tôi ngoài chính tôi. Những quan niệm này giờ đây đã ăn sâu vào nền văn hóa của chúng ta đến mức ta thậm chí còn đem chúng ra làm thứ thuốc an thần sáo rỗng để an ủi những người đang thất vọng – cứ như nó có thể vực họ dậy được. Nhưng John đã chứng minh rằng đây là sự phủ nhận lịch sử loài người và phủ nhận bản chất con người. Nó khiến chúng ta hiểu sai những bản năng cơ bản nhất của mình. Và cách tiếp cận cuộc sống này khiến chúng ta cảm thấy tồi tệ. * Trở lại thập niên 1970, khi John lần đầu tiên đặt ra những câu hỏi này, các giáo sư của ông đã tin rằng yếu tố xã hội