Năng Lượng

phần lớn nhân loại hành xử như thể nó “sẽ không thỏa mãn cho đến khi

phần lớn nhân loại hành xử như thể nó “sẽ không thỏa mãn cho đến khi

phần lớn nhân loại hành xử như thể nó “sẽ không thỏa mãn cho đến khi Trái đất bị bao phủ hoàn toàn và đến một độ sâu đáng kể bằng một khối người quằn quại, giống như xác chết phủ đầy giòi.”[7] Với sự chọn lọc do thừa dân số, Brown tuyên bố, để ngăn chặn những gì ông gọi là “sự suy thoái lâu dài của nòi giống con người,” cần hạn chế “nuôi lớn những người có khuyết tật nguy hiểm một cách rõ rệt đối với xã hội và cả những gì thuộc về bản chất di truyền.” Ví dụ, ông tiếp tục:

Chúng ta có thể triệt sản hoặc bằng những cách khác ngăn cản sự giao phối của những kẻ có đầu óc yếu đuối. Chúng ta có thể tiến xa hơn và cố gắng một cách có hệ thống để cắt tỉa chúng khỏi xã hội, bằng cách ngăn cản họ sinh sản, những người có các vấn đề di truyền nghiêm trọng gây khuyết tật về thể chất, chẳng hạn như điếc bẩm sinh, câm, mù hoặc cụt chân tay… Thật không may, kiến thức về di truyền của con người là quá ít ỏi ở thời điểm hiên tại để cho phép anh ta trở thành một người cắt tỉa thực sự thành công.[8] Brown kết luận, việc “cắt tỉa” giống nòi có thể được thực hiện theo hai cách: không khuyến khích những người không “phù hợp” sinh đẻ, và khuyến khích những cá nhân đã vượt qua bài kiểm tra thể chất và tinh thần và có tổ tiên khỏe mạnh sinh con đẻ cái. Có những phương pháp triệt để hơn trong việc cắt tỉa những điều không mong muốn, Brown ám chỉ, chỉ một thập niên sau việc diệt chủng người Do Thái của Đức Quốc xã, nhưng ông ngờ rằng những phương pháp đó “có lẽ không thể chấp nhận được đối với nhiều người trong chúng ta ngày nay.”[9] Nếu lời mời gọi thanh lọc chủng tộc và khuyết tật này tương đồng với sự ngụy khoa học của Đức Quốc xã thì nó có dụng ý rõ ràng: có một liên kết trực tiếp giữa phong trào ưu sinh học chính thống đã truyền cảm hứng cho Adolf Hitler và các tổ chức ưu sinh học sau chiến tranh tán thành những cơn ác mộng của Malthus về một sự “bùng nổ dân số.” Việc lần theo liên kết đó một cách chi tiết nằm ngoài phạm vi của cuốn sách này nhưng một số học giả đã làm như vậy, bao gồm Robert Zubrin trong nghiên cứu năm 2013 của ông Merchants of Despair: Radical Environmentalists, Criminal PseudoScientists, and the Fatal Cult of Antihumanism (Thương nhân của sự tuyệt vọng: Các nhà môi trường cấp tiến, giới ngụy khoa học, và sự sùng bái chí mạng của chủ nghĩa phi nhân loại), Pierre Desrochers và Christine Hoffbauer trong một bài báo dài năm 2009 với tiêu đề The Postwar Intellectual Roots of the Population Bomb” (Gốc rễ học thuật thời hậu chiến của quả bom dân số).[10] Thomas Malthus, nhà kinh tế học nguyên sinh người Anh thế kỷ 18, nổi danh với việc cắt tỉa dân số, đã từng có đề xuất khét tiếng:

Thay vì khuyến nghị sự sạch sẽ cho người nghèo, chúng ta nên khuyến khích những thói quen ngược lại. Trong thị trấn của chúng ta, chúng ta nên làm cho đường phố hẹp hơn, nhồi nhét người vào nhà, và cầu xin bệnh dịch quay trở lại. Trong nước, chúng ta nên xây dựng các ngôi làng gần các hồ nước tù đọng, và đặc biệt khuyến khích các khu dân cư trong các địa hình đầm lầy và bẩn thỉu. Nhưng trên hết, chúng ta nên thoái thác các phương thuốc đặc trị cho các bệnh hiểm nghèo, và cho những người tốt bụng, nhưng lầm tưởng, những người đã nghĩ rằng họ đang làm việc tốt cho nhân loại bằng cách lập các kế hoạch cho sự tuyệt chủng của các chứng rối loạn di truyền.[11] Một sự khinh bỉ xấc xược dành cho nhân loại thấm đẫm trong các nghiên cứu của con người cao cao tại thượng này. Công trình được tìm đọc phổ biến rộng rãi nhất cho luận giải của nhân vật thuộc phái Malthus, là tác phẩm của nhà côn trùng học Paul R. Ehrlich, The Population Bomb (Quả bom dân số), do Câu lạc bộ Sierra đặt viết vào năm 1967, mở đầu với việc gia đình Ehrlich bị sốc văn hóa rồi trở nên hoảng loạn trong “một đêm nóng bức hôi thối ở Delhi một vài năm trước đây”: Vợ và con gái tôi và tôi trở về khách sạn bằng một chiếc taxi cổ. Băng ghế tung tăng lũ bọ chét… Nhiệt độ cũng trên 38 độ, và không khí là một màn sương khói bụi. Đường phố dường như sống cùng người dân. Mọi người ăn, tắm rửa, ngủ, rong chơi, tranh luận và la hét. Mọi người thọc tay qua cửa sổ taxi và ăn xin. Mọi người đại tiện và tiểu tiện… Khi chúng tôi di chuyển chậm chạp qua đám đông, còi xe réo oang oang, bụi bặm, tiếng ồn, nhiệt độ nóng điên đảo, và lửa bếp ăn đã làm cho cảnh tượng trông như một địa ngục trần gian. Chúng tôi liệu có đến được khách sạn hay không? Cả ba chúng tôi, thẳng thắn là đều sợ hãi. Dường như chuyện gì cũng có thể xảy ra - nhưng tất nhiên, chẳng xảy ra gì cả. Ấn Độ cổ kính sẽ chê cười phản ứng của chúng tôi. Chúng tôi chỉ là một số khách du lịch thừa điều kiện đốt tiền trong mắt họ, không quen thuộc với các cảnh quan và nhịp đập của Ấn Độ. Có lẽ vậy, nhưng kể từ đêm đó, tôi đã biết cảm giác của quá tải dân số.[12] Dường như chuyện gì cũng có thể xảy ra - nhưng tất nhiên, chẳng xảy ra gì cả. Cuộc sống đường phố Delhi đem lại cảm nghĩ gì cho những người bản địa - “đường phố sống cùng người dân” - rõ ràng không khiến Ehrlich bận tâm. Trong Quả bom dân số, thảo luận về “tấn bi kịch cuối

cùng” - “những quốc gia bị bỏ lại phía sau trong cuộc chơi thực phẩm và dân số mà không có hi vọng rằng viện trợ thực phẩm [từ Mỹ] sẽ hỗ trợ cho họ đến khi có thể tự cung tự cấp đầy đủ” - khuyến nghị rằng Ấn Độ “không nên nhận thêm lương thực.” Ehrlich khuyên nên bỏ đói Ấn Độ, kết quả mà chí ít thì ông cũng tin rằng không thể tránh khỏi.[13]

Tác phẩm “Quả bom dân số” kết hợp hình ảnh loài người sống nhung nhúc với sức tàn phá của một đám mây nấm hạt nhân đặc trưng. Bác sĩ kiêm nhà địa lý người Brazil Josue de Castro khi viết từ một thập niên trước đó về tình trạng đông dân và thiếu đói của Nam Mỹ đã bày tỏ sự không hài lòng với sự bàng quan nguy hiểm chết người như vậy. Ông lên án thái độ kiểu cao cao tại thượng của Ehrlich trong tác phẩm kinh điển The Geography of Hunger (Địa lý về cái đói). “Học thuyết Malthus mới của một nền kinh tế phi nhân tính,” de Castro viết, “thuyết giảng rằng những người yếu đuối và bệnh tật nên để cho chết, điều đó sẽ giúp người thiếu ăn chết nhanh hơn, và thậm chí còn cực đoan đến mức cho rằng tài nguyên y tế và vệ sinh không nên được cung cấp cho những người dân khốn khổ hơn - những chính sách như vậy chỉ đơn thuần là tấm gương phản chiếu ý nghĩ hằn học và sự tự cao tự đại của những người sống tốt, kinh hoàng trước sự hiện diện của những mảnh đời khổ sở.”[14] Viễn cảnh đường phố làm cho những người như Ehrlich kinh sợ từ đầu những năm 1960 vẫn có thể được trải nghiệm lại ở Delhi ngày nay. Sự khác biệt là ngày nay, ở phía bên kia của Cách mạng Xanh, Ấn Độ, Trung Quốc và các nước khác mà Ehrlich đã đặt dấu chấm hết nay đang sản xuất thặng dư lương thực bất chấp gánh nặng dân số đông hơn nhiều, vậy nhưng tình trạng mất an ninh lương thực tiếp tục là một vấn đề dai dẳng. Như hầu hết các lời tiên tri sai lầm, câu trả lời của Ehrlich cho những dự đoán của ông về thảm họa là dời ngày tận thế của thế giới thêm một vài thập niên nữa. Hiện ông đã dời mốc này tới năm 2050. Tận thế vẫn không gần kề, nhưng Ehrlich, tám mươi sáu tuổi vào năm 2018, vẫn chắc chắn rằng nó đang đến. Những người ủng hộ thế giới nhỏ, không tăng trưởng dân số, sử dụng năng lượng sạch của phong trào môi trường xuất hiện trong những năm 1960 và 1970 đã biết kết hợp một cách có dụng ý hoặc vô tình hệ tư tưởng phản nhân văn tân Malthus trong các lập luận của mình. Hệ tư tưởng đó hỗ trợ, thậm chí là vạch rõ lập trường trái ngược về năng lượng hạt nhân. David Brower, chủ tịch có ảnh hưởng của Câu lạc bộ Sierra California, đã nói thẳng về sự thù địch với việc mở rộng sản xuất năng lượng. “Nhiều nhà máy điện sẽ tạo ra nhiều ngành công nghiệp hơn,” ông trách móc trong một cuộc họp hội đồng Câu lạc bộ Sierra vào năm 1966; “thêm nhà máy cũng sẽ mời gọi tỉ lệ tập trung dân cư lớn hơn. Nếu dân số bang tăng gấp đôi trong 20 năm tới được khuyến khích bằng cách cung cấp năng lượng

cho họ thì danh lam thắng cảnh tự nhiên của bang sẽ bị triệt tiêu.”[15] Trong một cuộc chạy đua giữa con người và cảnh quan, Brower đã rõ ràng về lập trường của bản thân. Vị chủ tịch này không gộp bản thân mình vào hàng ngũ những người được nêu. Chỉ riêng sự khuyến khích của chính phủ vẫn chưa đủ để đưa ngành kỹ thuật hạ tầng chuyển hướng sang năng lượng hạt nhân trong những năm sau khi bắt đầu chương trình Nguyên tử vì Hòa bình của Tổng thống Eisenhower. Nhà máy điện hạt nhân Shippingport đi vào phục vụ sản xuất vào năm 1957. Nhiều cuộc biểu tình phản đối các lò phản ứng tương tự nổ ra ở những nơi khác. Năm 1958, Ủy ban Năng lượng Nguyên tử đã hỗ trợ sự phát triển của không dưới 11 loại lò phản ứng khác nhau, trong đó lò phản ứng nước áp lực (PWR) và lò phản ứng nước sôi (BWR) là các thiết kế vượt trội nhất.[16] Nhưng ngành kỹ thuật hạ tầng vẫn kiên quyết đứng ngoài do các lò phản ứng hạt nhân vẫn có giá thành quá cao để cạnh tranh với nhà máy nhiệt điện đốt than. General Electric (GE) buộc phải tạo ra đột phá. Công ty đã phát triển một lò phản ứng nước sôi song song với lò phản ứng nước áp lực của Westinghouse. Một lò phản ứng nước sôi hoạt động ở nhiệt độ và áp suất bình thường, đơn giản hóa thiết kế của nó và làm cho nó ít tốn kém hơn nhiều. Cuối năm 1963, GE đã ký hợp đồng giá cố định với công ty Jersey Central Power and Light để cung cấp một hợp đồng trọn gói sản lượng 515 megawatt tại Oyster Creek, New Jersey, hơn 130 km phía nam Thành phố New York trên bờ biển New Jersey. Đây là hợp đồng đầu tiên trong số 12 hợp đồng trọn gói mà GE và Westinghouse sẽ bán trong ba năm tới và họ sẽ mất gần một tỉ đô-la. “Chỉ những kẻ có niềm tin cực đoan về tiến bộ công nghệ trong tương lai,” nhà xã hội học James M. Jasper viết, “mới có thể cho phép điều này [thua lỗ] xảy ra.”[17] Sự kiêu căng đó xuất phát một phần từ thiếu kinh nghiệm. Cả hai công ty đã thuê CEO mới vào năm 1963, một người từng là nhân viên bán bóng đèn, người kia là nhà phân tích tài chính. Cả hai công ty đã là đối thủ cạnh tranh kể từ thời Thomas Edison và George Westinghouse. Cả hai CEO đều muốn thể hiện khả năng lãnh đạo của mình. Từ năm 1963 trở đi, họ đưa ra các lò phản ứng bán câu khách, hi vọng chi phí giảm rồi sẽ có lãi, từ đó ra đời một hiệu ứng trong thị trường mà Philip Sporn đặt tên là “hiệu ứng ăn theo.” Sporn nói với Quốc hội vào năm 1967

rằng “hiệu ứng ăn theo” là kết quả từ việc nhiều công ty kỹ thuật hạ tầng đã đổ xô giành phần đặt hàng nhà máy điện hạt nhân, thường trên cơ sở chỉ phân tích mơ hồ và vì mong muốn được bắt đầu kinh doanh năng lượng hạt nhân.”[18] Giám đốc điều hành của các doanh nghiệp này thường quyết định đầu tư vào năng lượng hạt nhân sau khi đàm đạo với các giám đốc khác trên sân golf, Ủy ban Năng lượng Nguyên tử đã không tập trung vào an toàn cho lò phản ứng trong những năm phát triển thiết kế những năm 1950. Các công ty kỹ thuật hạ tầng cũng bỏ qua điều đó trong những năm 1960. Từ năm 1965 đến năm 1970, các công ty này của Mỹ đã đặt hàng cho 100 lò phản ứng. Đoàn tàu ăn theo cứ thế lăn bánh. Những người ủng hộ điện hạt nhân đã phản ứng với thuyết Malthus mới trong những năm 1950 và 1960 với lập luận rằng năng lượng nguyên tử có thể giải quyết bài toán khó khi tăng trưởng dân số vượt xa tài nguyên thiên nhiên. Người phát ngôn nổi bật nhất cho quan điểm vận động này là Alvin Weinberg, một nhà vật lý hạt nhân làm việc trong Dự án Manhattan và lãnh đạo Viện thí nghiệm Quốc gia Oak Ridge ở Tennessee suốt 25 năm sau chiến tranh. Weinberg là người có tâm tưởng muốn làm đấng cứu thế, đã nói và chứng minh rộng rãi xuyên suốt sự nghiệp lâu dài của mình. Tầm nhìn lớn về năng lượng hạt nhân của ông cũng mở cửa cho những lời chỉ trích rằng ông và các kỹ thuật viên đồng nghiệp, theo lời của Weinberg, “đã đánh giá quá cao lợi ích và đánh giá thấp những rủi ro của các phát minh mới của họ.” Weinberg tranh luận ngược lại rằng các nhà phê bình công nghệ mới là kẻ mắc lỗi ngược mà chính họ đang cáo buộc các nhà công nghệ như ông: đánh giá thấp kết quả gián tiếp, các lợi ích rộng hơn của con người mà xã hội gặt hái được từ các công nghệ mới. Các nhà phê bình thích tưởng tượng rằng có rất ít lợi ích quy mô lớn từ năng lượng hạt nhân; rằng lợi ích chính của nó là cổ tức cao hơn cho các đại gia hạ tầng kỹ thuật và lợi nhuận cho các nhà sản xuất lò phản ứng. Thực tế, Weinberg nhấn mạnh, là khác xa.[19] Weinberg đã đưa ra tuyên bố đó vào năm 1970 khi thách thức đang được quan tâm mổ xẻ trên khắp nước Mỹ là nỗi sợ hãi của tín đồ thuyết Malthus mới về dân số quá mức với tài nguyên cạn kiệt. Ông trình bày lập luận của mình cho lợi ích phi thị trường trong bối cảnh đó. Khi làm như vậy, ông đã tin tưởng tuyệt đối rằng thách thức dân số là có thật. Ước tính

trung bình của Liên Hợp Quốc cho tăng trưởng dân số thế giới vào năm 2030, ông lưu ý, là mười tỉ (con số mà năm 2017 Liên Hợp Quốc đã sửa lại, phải tới năm 2100 mới đạt đến).[20] Năm 1970, nay đã tin vào thuyết Malthus, Weinberg vẽ ra bối cảnh dân số thế giới sẽ cán mốc 18 tỉ vào năm 2050.[21] Không có chuyên gia có thẩm quyền nào dám đưa ra mức tăng dân số như vậy ngày nay - tăng gấp gần 2,5 lần con số thực tế năm 2017 là 7,5 tỉ người. Nguyên nhân của sai lệch này là vì quá trình chuyển đổi nhân khẩu học từ tỉ lệ sinh cao sang tỉ lệ sinh thấp hơn theo sau sự thịnh vượng ngày càng tăng trên toàn thế giới ngày nay. Liên Hợp Quốc dự báo mười tỉ người vào năm 2100 nhưng cũng dự báo tốc độ tăng trưởng sẽ giảm xuống 0% sau đó và tăng trưởng dân số thế giới sẽ chấm dứt.[22] Nhưng bất kể dân số thế giới là bao nhiêu, Weinberg lập luận vào năm 1970 rằng năng lượng hạt nhân có thể giúp ngăn ngừa thảm họa dân số. Nó có thể làm như vậy không chỉ nhờ sản xuất điện giá rẻ, sạch. Nó có thể làm như vậy bằng cách khử muối trong nước biển và tách nước để tạo ra hydro làm nhiên liệu cho vận chuyển và công nghiệp. “Nếu chúng ta có hydro,” ông viết, “chúng ta có thể giảm kim loại trong quặng; chúng ta có thể hydro hóa than [để tạo ra nhiên liệu lỏng]; chúng ta có thể sản xuất amoniac cho nông nghiệp.”[23] Giai đoạn đầu tiên trong quy trình Weinberg đã hình dung về chống lại thảm họa dân số bằng năng lượng hạt nhân sẽ sử dụng những gì mà vị giám đốc Oak Ridge gọi là “lò đốt hạt nhân xúc tác,” hay ngày nay còn gọi là lò phản ứng hạt nhân tái sinh. Nó sẽ phân hạch uranium hoặc thorium để lấy năng lượng trong khi sinh ra plutonium, uranium 233 hoặc tritium. Những nhiên liệu đó sau đó sẽ tạo ra năng lượng thông qua phản ứng phân hạch hoặc nhiệt hạch, đương nhiên với điều kiện là thứ công nghệ phức tạp đó cuối cùng đã được làm chủ. Những viễn cảnh lạc quan này phụ thuộc vào chi phí sản xuất năng lượng, Weinberg hiểu rõ điều đó. Ông ước tính rằng chi phí sẽ cạnh tranh được với các nguồn năng lượng khác, nhưng đó là ước tính của giai đoạn đầu kỷ nguyên năng lượng hạt nhân. Ông chưa gặp phải sự phản đối của các nhà hoạt động môi trường đã bắt đầu chĩa mũi dùi vào công nghiệp hạt nhân. Ông chưa có cơ hội để quan sát hiệu ứng suy thoái một chiều từ việc thắt chặt các quy định của chính phủ do lo ngại cả tai nạn hạt nhân thực tế và và giả định bị cường điệu hóa. Nó sẽ tác động làm tăng chi phí vốn mà không nhất thiết đem lại cải thiện cho sự an toàn. Tổng thống Jimmy

Carter chưa chính thức cấm cửa xử lý dầu mỏ, như ông sẽ làm vào năm 1977, chuyển hướng chính sách hạt nhân khỏi việc phát triển lò phản ứng hạt nhân. Từ những chia sẻ trực tiếp của Tổng thống Carter, quan điểm dè chừng về năng lượng hạt nhân của ông bắt nguồn từ kinh nghiệm cá nhân. Năm 1952, vị tổng thống tương lai này là một trung úy hải quân Mỹ với kinh nghiệm điều khiển tàu ngầm, đóng quân tại General Electric ở Schenectady, New York, được đào tạo về kỹ thuật hạt nhân dưới thời Hyman Rickover. Tháng 12 năm đó một lò phản ứng 30 megawatt làm chậm bằng nước nặng và làm mát bằng nước nhẹ của Canada ở Chalk River, Ontario, đã gặp phải phản ứng vượt hạn, bùng phát công suất đến 100 megawatt rồi phát nổ và tan chảy một phần. Đó là tai nạn lò phản ứng đầu tiên trên thế giới, hậu quả của một lỗ hổng thiết kế cơ bản cũng sẽ phá hủy một lò phản ứng Chernobyl của Liên Xô ba thập niên sau đó. Do Carter từng có quyền hạn làm việc với các lò phản ứng hạt nhân, hồi đó vẫn được phân loại là bí mật quân sự, ông và 22 nhân viên hải quân được chỉ định đặc biệt khác đã đến Ontario đầu năm 1953 để giúp tháo dỡ lò phản ứng bị hủy hoại. Bởi vì nó là chất phóng xạ, thời gian phơi nhiễm tối đa xung quanh cấu trúc bị hư hại được tính toán là chỉ trong 90 giây. Sự tiếp xúc đó được dựa trên xác định liều lượng phóng xạ tối đa hàng năm cho một công nhân thời đó: 15 rem.(43) Hơn 1.000 đàn ông và hai phụ nữ, hầu hết trong số họ là nhân viên lò phản ứng, đã tham gia dọn dẹp khu vực thảm họa.[24] Người Canada đã xây dựng một lò phản ứng mô hình trong sân tennis của phòng thí nghiệm để các đội dọn dẹp có thể huấn luyện. “Một đội gồm ba người chúng tôi luyện tập nhiều lần trong lò mô hình,” Tổng thống Carter viết, “để chắc chắn rằng chúng tôi dùng đúng công cụ và biết chính xác làm thế nào để sử dụng chúng. Cuối cùng, được trang bị quần áo bảo vệ trắng, chúng tôi xuống lò phản ứng và làm việc điên cuồng theo phân bổ thời gian định trước.” Đến giây thứ 89, họ trèo ra và lao ra ngoài, và một đội khác thay thế họ. “Mỗi khi người của chúng tôi tháo xong một bu lông hay khớp nối từ lõi,” Carter viết, “những mảnh tương đương sẽ được tháo bỏ trên mô hình.” Trong nhiều tháng sau, vị tổng thống tương lai nhớ lại, ông và người của mình được yêu cầu gửi mẫu nước tiểu và phân để theo dõi mức độ phơi nhiễm phóng xạ. “Không có hậu quả rõ ràng nào từ lần tiếp xúc

này,” Carter kết luận, “chỉ có những trò đùa tiếu lâm giữa chúng tôi về cái chết hay bị vô sinh.”[25] Nếu biết về kết quả lâu dài của việc phơi nhiễm bức xạ ở Chalk River, Carter hẳn sẽ cảm thấy thân thiện hơn với năng lượng hạt nhân. Một nghiên cứu kéo dài 30 năm, được xuất bản năm 1982, cho thấy nhân viên phòng thí nghiệm tiếp xúc trong thời gian dọn dẹp lò phản ứng “sống thêm trung bình một năm hoặc lâu hơn dự kiến so với với tuổi thọ dân số chung của Ontario.” Không có ai chết vi bệnh bạch cầu, một căn bệnh kinh điển của việc tiếp xúc với bức xạ nghiêm trọng. Số người chết vì ung thư thấp hơn trong dân số nói chung. Người ta rỉ tai rằng kết quả nghiên cứu đã chỉ ra tỉ lệ tử vong giảm sau khi phơi nhiễm bức xạ là do hiệu ứng người lao động khỏe mạnh. Hiệu ứng đó, một hình thức lựa chọn thiên vị, là kết quả từ việc người lao động khỏe mạnh hơn dân số nói chung - đủ sức khỏe để làm việc nói chung. Tuy nhiên trong nghiên cứu ở Chalk River, tỉ lệ tử vong do ung thư phổi (có thể do hút thuốc lá) và do bệnh về tim mạch là cao hơn trong những người bị phơi nhiễm so với dân cư Ontario nói chung. Nếu áp dụng hiệu ứng công nhân khỏe mạnh, thì hiện tượng giảm tỉ lệ tử vong của công nhân phơi nhiễm bức xạ lại càng đáng chú ý hơn.[26] Nỗi sợ hãi bức xạ và sự hiểu lầm về tác động của nó là những sự tác động mạnh mẽ tới tâm lý chống hạt nhân. Các nhà hoạt động môi trường khuyến khích tâm lý này trong nhiều năm qua với tuyên bố rằng chỉ một tai nạn rò rỉ hạt nhân sẽ phá hủy một khu vực bằng “kích thước của bang Pennsylvania” (Ralph Nader) hoặc rằng “gần một triệu” người đã thiệt mạng vì bụi phóng xạ Chernobyl (Helen Caldicott, bác sĩ người Úc).[27] Ngả theo những tuyên bố của giới cực đoan, Mỹ trong những năm 1950 đã áp dụng một mô hình an toàn phóng xạ đầy sai sót, khiến cho sự an toàn bức xạ chuẩn chỉnh dường như là điều không tưởng. Làm thế nào mà tiêu chuẩn đó được thông qua là một câu chuyện đáng xấu hổ bắt nguồn từ sự ngớ ngẩn của giới khoa học nếu không muốn nói là hành vi sai trái, và cũng từ những ý định tốt đẹp dần trở nên sai lầm. Trong

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 100

Đang tải bình luận...