phần lời cảm ơn, và một câu quan trọng của nghiên cứu đã bị xóa đi. Câu bị xóa là câu hỏi chất vấn độ chính xác của lý thuyết Muller. [40] Sau khi ngăn chặn một thách thức dựa trên bằng chứng khoa học đối với mô hình “tuyến tính không có ngưỡng” (LNT) về hiệu ứng bức xạ của mình, người đoạt giải Nobel Muller tiếp tục quảng bá và bảo vệ mô hình LNT bất cứ khi nào và bất cứ nơi đâu dấy lên câu hỏi. Ông không cô độc trong những nỗ lực đó. Khi AEC theo đuổi việc thiết lập tiêu chuẩn phóng xạ, đầu tiên cho nhân viên phóng xạ và sau đó là cho công chúng nói chung trước nguy cơ thảm họa hạt nhân, AEC và các nhà khoa học độc lập đã tham gia vào các cuộc họp của nhiều ủy ban tổ chức trong suốt những năm 1950. Rõ ràng mô hình LNT đã được chấp nhận như một tiêu chuẩn tuyệt đối. Edward Calabrese, giáo sư độc học của Đại học Massachusetts, người gần đây đã biết đến Hermann Muller cùng những nỗ lực trấn áp sự phản đối kết quả nghiên cứu của ông, nay đã buộc tội mô hình LNT và sự chấp nhận vội vã kết quả của nó là, “không trung thực, giỏi lảng tránh và tin tưởng mù quáng.”[41] Jan Beyea, một nhà vật lý kiêm chuyên gia tư vấn sức khỏe cộng đồng, đã lập luận ngược lại với các nghiên cứu và ủy ban khác trong 50 năm qua luôn ủng hộ tiêu chuẩn LNT. Một nhà khoa học người Canada viết, “Chính các nhà vật lý hàng đầu chịu trách nhiệm phát minh ra vũ khí hạt nhân nay reo rắc nỗi sợ hãi với phóng xạ liều nhỏ trong dân chúng nói chung. Trong nỗ lực đạo đức cao cả của họ nhằm ngừng chạy đua chiến tranh nguyên tử, họ đã nhanh chóng thu hút thêm nhiều nhà khoa học từ các lĩnh vực khác tham gia. Cuối cùng, điều này đã phát triển và bị chính trị hóa thành sự chống đối các nhà máy điện nguyên tử và tất cả mọi thứ liên quan đến hạt nhân.”[42] Cuộc tranh luận LNT rất quan trọng đối với sự suy giảm dài hạn của điện hạt nhân ở Mỹ. Nổi tiếng lúc đầu là sạch sẽ và có khả năng trở thành dạng năng lượng mới vô tận, điện hạt nhân bị thất sủng rộng khắp do nỗi sợ chung về bức xạ. Nỗi sợ đó càng trở nên trầm trọng hơn khi hiểm họa
chiến tranh hạt nhân treo lơ lửng trên đầu thế giới suốt những năm dài Chiến tranh Lạnh, cũng như bởi ba vụ tai nạn đã xảy ra ở các nhà máy điện hạt nhân kể từ khi năng lượng hạt nhân được thương mại hóa: Đảo Three Mile, Chernobyl và Fukushima Daiichi. AEC và những đơn vị kế nhiệm, cũng như ngành công nghiệp điện hạt nhân, đã cố gắng xoa dịu nỗi sợ hãi của công chúng bằng cách khẳng định chỉ có thiệt hại tối thiểu hoặc không có thiệt hại từ bức xạ mức độ thấp - thậm chí đôi khi tranh cãi về một tác dụng kích thích tố sinh học tích cực chưa được chứng minh. Một phong trào chống hạt nhân bắt nguồn từ sự thù địch với sự gia tăng dân số trong một thế giới được cho là địa ngục trần gian của Malthus đã thúc đẩy sự chấp nhận mô hình LNT, phóng đại tác động của nó. Một trong những kết luận của Jan Beyea dường như có liên quan đến cuộc tranh luận gây tranh cãi và có tính chất phá hoại đang diễn ra. “Những thứ thường bị bỏ qua trong tranh luận về các mô hình phản ứng nồng độ hạt nhân là nguy cơ ở mức liều thấp cũng thấp theo,”[43] ông viết. Liệu phóng xạ thấp không chỉ có nguy cơ thấp mà còn bị chìm trong tiếng thóa mạ không bao giờ dứt từ phe bảo vệ môi trường. Hermann Muller trước đã cung cấp cho xã hội một quy tắc để tuân theo việc đánh giá xem có nên để dân chúng tiếp xúc với phóng xạ hay không, nay lại đề xuất rằng “mọi rủi ro nhất định đối với người ngoài cuộc phải được so sánh với khả năng xảy ra và mức độ lợi ích được thảo luận, và rủi ro chỉ nên được chấp nhận nếu rõ là nó thấp hơn lợi ích được đánh đổi bằng cách sử dụng phương pháp đặc biệt này [điều trị, nghiên cứu, và sản xuất năng lượng] chứ không phải là dưới dạng đã điều chỉnh hoặc tương tự.”[44] Tính đến giờ công nghệ hạt nhân đã đem lại lợi ích tốt đẹp nào ngoài giá trị tuyệt vời của năng lượng không có carbon? Đến năm 2013, theo các nhà khoa học tại Viện Nghiên cứu Vũ trụ Goddard của NASA và Viện Trái đất của Đại học Columbia, “điện hạt nhân toàn cầu [đã] ngăn chặn trung bình 1,84 triệu ca tử vong liên quan đến ô nhiễm không khí và 64 tỉ tấn khí thải CO2 gây hiệu ứng nhà kính sẽ sinh ra từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch.” Họ cũng ước tính, “dựa trên cơ sở dữ liệu dự báo toàn cầu bao gồm cả ảnh hưởng của vụ tai nạn ở Fukushima rằng điện hạt nhân có thể ngăn chặn trung bình từ 420.000 đến 7,04 triệu cái chết và từ 80 đến 240 [tỉ tấn CO2 phát thải tương đương] do sử dụng
nhiên liệu hóa thạch tính đến giữa thế kỷ 21 [năm 2050], tùy thuộc vào loại nhiên liệu nào thay thế cho nó.”[45] Dự đoán này, không cần phải nói nhiều, giả định rằng điện hạt nhân sẽ tiếp tục tìm kiếm sự hỗ trợ chính trị như là một thành tố trong sự chuyển đổi năng lượng lớn nhất lịch sử loài người, quá trình chuyển đổi tối thượng mà thế giới phải đối mặt ngày nay khi đứng trước hiểm họa biến đổi khí hậu toàn cầu. Hay có thể năng lượng tái tạo sẽ trở thành cứu tinh cho nhân loại?
K 20 CÙNG HỘI CÙNG THUYỀN ỷ nguyên vĩ đại của năng lượng gió là thế kỷ 18 và 19 khi những cánh buồm no gió lái những con tàu chiến, tàu thám hiểm và tàu thương mại trên khắp các đại dương của thế giới. Năng lượng gió bắt đầu biến thành một nguồn điện từ năm 1887, khi nhà vật lý người Scotland, James Blyth, chế tạo một tua-bin điện gió nằm ngang để tạo ra điện thắp sáng ngôi nhà nghỉ mát của mình tại Marykirk, phía đông Scotland. Được mô phỏng theo phong kế, thiết bị đó có cánh buồm bằng vải, nhưng một tua-bin thế hệ sau và chắc chắn hơn cũng do Blyth chế tạo cho trại thương điên Montrose gần đó được sử dụng cánh quạt bằng gỗ và có vai trò làm nguồn năng lượng khẩn cấp suốt 27 năm.[1] Vài tháng sau khi Blyth xây dựng tua-bin điện gió tại nhà riêng ở Scotland, một nhà phát minh người Mỹ giàu có tên Charles F. Brush đã thiết kế và xây dựng một cách độc lập tua-bin điện gió lớn hơn trong sân sau rộng năm mẫu Anh của mình ở Cleveland. Được mô phỏng theo một cối xay gió trang trại tiêu chuẩn để bơm nước nhưng lớn hơn nhiều, nó cao 18 mét, nặng 36 tấn, và sạc cho một tầng hầm đầy pin để thắp sáng và cung cấp năng lượng cho nhà của Brush.
Tua-bin điện gió của nhà thương điên do James Blyth thiết kế, cao 10 mét, với những cánh quạt bằng gỗ, hoạt động được 27 năm.
Tua-bin điện gió nhà Charles Brush. Để hình dung quy mô của nó hãy nhìn người đàn ông cắt cỏ ở bên phải. Hai anh em, Marcellus và Joseph Jacobs, đã sản xuất những tua-bin điện gió thương mại đầu tiên vào những năm 1920. Họ mô hình hóa sản phẩm của họ theo một tua-bin điện gió do tự họ thiết kế và chế tạo cho trang trại của cha mẹ ở Montana, để tận dụng gió thảo nguyên thay cho xăng mà họ đã phải thồ vất vả bằng ngựa và xe hàng đi 65 km cho một máy phát điện của trang trại. (Chỉ một