Năng Lượng

Phần

Phần

Phần còn lại của thế giới thì không được lựa chọn như vậy. Đồ thị của Cesare Marchetti, giả sử các vectơ trên đó được giải phóng khi các điều kiện thay đổi, dự đoán nguồn cung năng lượng trong tương lai bị chi phối bởi hạt nhân và khí đốt tự nhiên. Chúng ta sẽ cần tất cả những điều kiện đó và năng lượng tái tạo để có thể nuôi mười tỉ dân số thế giới trong một nền thịnh vượng hợp lý. Những con tàu tới tương lai đang xếp hàng rồi. Có chỗ trên tàu cho tất cả mọi người. Một cuốn sách khác cũng là một trong những tài liệu tham khảo nòng cốt của tôi kể từ khi xuất bản lần đầu năm 1985 là tác phẩm của học giả kiêm triết gia Elaine Scarry, The Body in Pain: The Making and Unmaking of the World (Thân thể trong đớn đau: Sự ra đời và chết đi của thế giới). Trong nghiên cứu đáng chú ý này, Scarry trước nhất khám phá mục đích của việc gây thương tích và giết thóc, đó là chiến tranh - cuộc đấu tranh của hệ thống niềm tin thông qua sự hi sinh vật chất. Sau đó, với sự độc đáo sâu sắc, bà khám phá mục đích của việc áp trí tưởng tượng của con người vào việc phát minh ra công nghệ:

Thế giới bên ngoài tồn tại một cách tự nhiên - sức mạnh khổng lồ và vẻ đẹp đáng kinh ngạc của mẹ thiên nhiên không cần phải bàn cãi dài dòng ở đây - vô thức hoàn toàn với đặc tính “dễ bị tổn thương” của con người. Vô cảm, vô tri giác, vô nhân đạo, nó lãnh đạm biểu hiện qua sấm sét và mưa đá, dơi mang bệnh dại, vi khuẩn đậu mùa và tinh thể băng. Trí tưởng tượng của con người tái hiện lại thế giới bên ngoài, tước bỏ sự vô cảm và vô trách nhiệm của nó không phải bằng cách cho nó nếm trải nỗi đau hoặc làm cho nó trở nên có tri giác mà bằng cách, theo đúng nghĩa đen, ”bắt nó” hiểu về nỗi đau của con người như thể chính nó cũng có tri giác và biết đớn đau.[23] Vì vậy, giày bảo vệ bàn chân, ghế ngồi gánh trọng lượng của cơ thể, cối xay gió hoặc nhà máy điện hạt nhân tạo ra điện để làm ấm hoặc làm mát và thắp sáng đường đi. Cuối cùng, vượt lên trên mọi sự tranh biện về công nghệ nào xanh hơn và liệu thế giới này rộng lớn hay chật hẹp, chính là lý do chúng ta định hình lại những thứ vô tri giác bằng khả năng sáng tạo. Scarry chỉ ra rằng dự án vĩ đại của con người chính là xoa dịu nỗi khổ đau của nhân loại. Dân số Trái đất đã tăng gấp bảy lần kể từ năm 1850 - từ một tỉ lên 7,5 tỉ người - chủ yếu nhờ có khoa học và công nghệ, nhờ có những cải tiến trong phát triển, sức khỏe cộng đồng, dinh dưỡng và thuốc men. Năm 1996, hai nhà nhân khẩu học ước tính rằng một nửa dân số Mỹ lúc đó, 136 triệu người, sống sót nhờ những sự cải thiện về tỉ lệ tử vong. Nếu không có những cải thiện như vậy, một phần tư dân số Mỹ, 68 triệu người, hẳn đã chết trước khi đến tuổi sinh sản. Và nếu những cái chết sớm đó là hiện thực thì có thể 68 triệu em bé sẽ không bao giờ được chào đời.[24] Số mạng sống được cứu trong thế kỷ qua ở riêng Mỹ còn nhiều hơn tổng số cái chết do chiến tranh trong thế kỷ 20 trên toàn thế giới. Trong thế kỷ mới này, điểm khởi đầu một thiên niên kỷ mới, những sự cải thiện về tỉ lệ tử vong như vậy vẫn tiếp tục với kết quả ngày một vươn xa hơn. Khác xa việc trở thành mối đe dọa văn minh nhân loại, khoa học, công nghệ và sự thịnh vượng mà chúng tạo ra sẽ duy trì sự tồn tại của nhân loại qua nhiều thế kỷ nữa. Đó là các thiết chế xã hội ít ỏi do con người sáng tạo ra vẫn luôn học hỏi từ sai lầm của chính chúng.

N LỜI CẢM ƠN hiều người đã giúp tôi viết cuốn sách này. Trước hết, tôi xin cảm ơn các thành viên của Quỹ Alfred P. Sloan, đặc biệt là Doron Weber, vì đã bỏ phiếu cho một khoản tài trợ cần thiết cho việc đi lại nghiên cứu thực tế. Michael Keller, Thư viện Đại học Stanford, đã mở rộng thư viện tuyệt vời của các bạn với tôi. Ninya Mikhaila của tudortailor.com đã chỉ dẫn về trang phục mùa đông của công nhân thời Elizabeth. Keir Hind tại Thư viện Đại học Glasgow đã xác nhận tên gọi thường dùng của trường. Anthony Dawson, tác giả và chuyên gia, đã tóm tắt cho tôi về các hoạt động mua ngựa của kỵ binh Anh trong Chiến tranh Napoléon. Mike Dunn, người điều hành bản sao của động cơ Newcomen tại bảo tàng Black Country Living ở Dudley, West Midlands, đã phô diễn cơ chế của nó cho tôi quan sát. Tôi đã trao đổi với Ed Calabrese về các nghiên cứu của ông đối với công trình của Herman Muller. Ted Rockwell quá cố đã chia sẻ kinh nghiệm làm việc với Hyman Rickover và xây dựng nhà máy điện hạt nhân thương mại đầu tiên của Mỹ. Tôi được vinh hạnh trao đổi với Cesare Marchetti, thảo luận về hiện tại và quá khứ với Harold Agnew, Hans Bethe, Richard Garwin, Thomas Graham Jr., David Rossin, Michael Shellenberger, Stanislav Shushkevich, Charles Till, Eugene Wigner, và không phải nghi ngờ gì vẫn còn nhiều cái tên tôi lỡ bỏ qua. Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các bạn. Anne Sibbald, người quản lý của tôi, đại diện cho tôi với trí thông minh và tính chuyên nghiệp vô tận. Ben Loehnen, biên tập viên của tôi tại nhà xuất bản Simon & Schuster, người đã sắc sảo cắt gọt để cho ra một cuốn sách hay hơn (và ngắn hơn). Và Ginger, Ginger kiên định của tôi, người đã luôn bên tôi từng bước trên con đường này: Giờ hãy chào đón bình minh mới với những linh hồn vẫn đang thức tỉnh của chúng ta.

(1) Tên đầy đủ là Hiệp hội Hoàng gia London vì mục tiêu nâng cao kiến thức tự nhiên (Royal Society of London for Improving Natural Knowledge): hiệp hội của các nhà khoa học hàng đầu ở Anh, có vai trò tương đương như viện hàn lâm khoa học quốc gia ở các nước khác. (Chú thích này là của người biên tập (BT), các chú thích khác của tác giả (TG), người dịch (ND), người hiệu đính (HĐ) sẽ mang ký hiệu tương ứng). (2) Các nhà khoa học được gọi là nhà triết học tự nhiên cho đến năm 1833 khi William Whewell, thạc sĩ của Trinity College, Cambridge, đặt ra tên hiện đại cho họ là “nhà khoa học” ngày nay. (TG) (3) Đây là tạp chí khoa học (có phản biện) đầu tiên của loài người, được xuất bản liên tục từ 1665 đến nay. (HĐ) (4) Một ống thứ hai, ống h, đổ nước lên đỉnh piston để tránh rò hơi. (TG) (5) Chủ thầu là tầng lớp làm trung gian được bảo hộ. Họ sở hữu thuyền chở hàng và vận chuyển than từ bờ sông đến các mỏ ven biển cung ứng cho London. (TG) (6) Đại học Glasgow được gọi là Trường Cao Đẳng vào thời đó. Giờ không thế nữa và không cập nhật thông tin ở đây sẽ gây nhâm lẫn. (TG) (7) Wheal: mỏ theo tiếng Cornis. (TG) (8) Davies Giddy đổi tên thành Gilbert vào năm 1817 để thừa hưởng tài sản đáng kể của ông cậu, người muốn cái tên của gia đình Gilbert được nối dõi. Ông từng là chủ tịch của Hiệp hội Hoàng gia từ năm 1827 đến năm 1830. (TG) (9) Hai thế kỷ sau, các nhà vật lý vĩ đại nhất đầu thế kỷ 20 là Ernest Rutherford, Albert Einstein và Niels Bohr, cũng đã loại bỏ khả năng phân tách nguyên tử để giải phóng năng lượng hạt nhân là chuyện nhảm nhí. (TG)

(10) Săn cáo là một trong các trò chơi săn bắn thú hoang được quý tộc và hoàng gia Anh ưa thích và duy trì cho đến ngày nay. (ND) (11) Sir William Congreve đã phát triển tên lửa quân sự đầu tiên của Anh từ các mẫu của Ấn Độ vào năm 1805. Thứ “ánh sáng đỏ” từ tên lửa quan sát được từ Pháo đài McHenry trong Chiến tranh 1812 sau này được Francis Scott Key nhắc đến trong quốc ca Mỹ. (TG) (12) Bằng một nửa khối lượng của Tòa nhà Empire State ở Mỹ. (TG) (13) Than kênh là tên gọi cũ của đá phiến dầu, một khoáng chất cứng, sáng bóng, giàu bitum cùng hàm lượng dầu cao. (TG) (14) Có thể Diller và phu nhân Johnston hay dùng rượu và thuốc ngủ hay thuốc phiện bởi hai người không giấu giếm sự trìu mến của mình với hỗn hợp mùi cồn và thuốc tê này. (ND) (15) Người bị bệnh lao thường chịu nhiều cơn sốt dữ dội. (TG) (16) Giống như một số người đã nghi ngờ về khả năng ánh sáng mà không cần bấc, những người khác, bao gồm cả các thành viên của Quốc hội và Hội Hoàng gia đã khăng khăng rằng đường ống dẫn khí sẽ nóng đến mức trở thành hiểm họa, đặc biệt nếu bị nén kín trong các bức tường. (TG) (17) Nguyên văn: “Leviathan,” loài sinh vật biển thần thoại trong Kinh Thánh, được lấy cảm hứng từ cá voi. (ND) (18) Tiệc trà Boston (Boston Tea Party) là sự kiện diễn ra nhằm phản đối Đạo luật Trà do Quốc hội Anh ban hành. Một số cư dân Boston, tự xưng là “những người con của tự do,” đã leo lên thuyền chở trà từ Anh qua và quẳng những thùng trà xuống biển. (BT) (19) “Train” bắt nguồn từ tiếng Hà Lan và Đức chỉ các chất được tiết ra ví dụ như nước mắt và nhựa cây. (TG) (20) Nhiên liệu đèn đốt dạng lỏng, gần như không hòa tan trong nước, dễ bay hơi và có mùi hăng. (ND)

(21) Một loại dầu được cấp bằng sáng chế chưng cất từ gỗ vụn. (TG) (22) Nguyên văn: “crank,” thuật ngữ hàng hải chỉ sự tròng trành do nặng đầu. (TG) (23) 150 ngọn nến sáng hơn một chút so với bóng đèn sợi đốt 100 watt hoặc bóng đèn 25 LED watt. Nhân đôi số đó sẽ sáng hơn một chút so với đèn sợi đốt 200 watt hoặc 50 LED watt. (TG) (24) Nhôm lần đầu tiên được tinh chế bởi Hans Christian Oersted vào năm 1825, đã từng rất hiếm và đắt đỏ đến mức Hoàng đế Napoleon III dành riêng bộ đồ ăn bằng nhôm đặc chế của mình cho các dịp lễ trang trọng. Chóp các Đài tưởng niệm Washington cũng được phủ 2,85 kg thứ vật liệu quý hiếm này; sau đó, vào năm 1884, giá đã giảm xuống còn một đô-la mỗi ounce. Khi người ta có thể dùng năng lượng điện để lọc nhôm từ quặng. Thứ kim loại sáng bóng một thời đắt đỏ này trở nên phổ thông và ít tốn kém hơn. (TG) (25) “Cracking” chỉ đơn giản có nghĩa là bẻ gãy, như bẻ một cái que. (TG) (26) Cụ thể, nó được sắp xếp theo các yếu tố độ âm điện hoặc độ dương điện: mức độ mà chúng có xu hướng tăng hoặc giảm electron trong các phản ứng hóa học. (TG) (27) Đó là các triệu chứng DT (delirium tremens), giống như cơn vật của người cai rượu. (TG) (28) Đó là ví dụ hùng hồn về năng lực khám phá khoa học phi thường của Midgley đi đôi với sự xui xẻo dài hạn bởi ông tiếp tục phát triển các chlorofluorocarbon có độc tính thấp, dễ cháy thay thế amoniac hoặc lưu huỳnh dioxid độc hại trong điện lạnh nhưng cuối cùng đã được chứng minh là làm hỏng tầng ozone của khí quyển bảo vệ con người và các sinh vật sống khác khỏi tác động phá hủy của bức xạ mặt trời. Do đó, phát kiến này cuối cùng cũng bị loại bỏ. (TG)

(29) Dầu lửa, tiền bạc và quyền lực, Daniel Yergin, bản tiếng Việt do Nxb Thế giới và Omega+ ấn hành. (BT) (30) Cha đẻ của điệp viên hai mang khét tiếng người Anh Kim Philby. (TG) (31) Casoc trở thành Công ty Dầu mỏ Arab Mỹ (Aramco) vào năm 1944. (TG) (32) Btu (British thermal unit): đơn vị nhiệt của Anh, một btu bằng lượng nhiệt cần thiết để tăng nhiệt độ của một pound nước thêm 1°F. (TG) (33) Dòng phun nước (slug of water) là dòng nước có pha các bọt khí được thổi chậm qua đường ống nhằm kiểm tra dò rỉ. (HĐ) (34) Chỉ ít hơn khoảng 10% so với khối lượng của Kim tự tháp Giza vĩ đại. (TG) (35) Bản tin vắn, tiền thân của truyền hình. (TG) (36) Thực ra là ba, nhưng chỉ có một dấu vết của đồng vị thứ ba, U234, có trong uranium tự nhiên. (TG) (37) Biến đổi, giấc mơ của các nhà giả kim thuật trong quá khứ, là quá trình chuyển đổi một nguyên tố hóa học sang một nguyên tố khác - xảy ra trong trường hợp này khi hạt nhân U-238 thu được neutron. (TG) (38) EDO (engineering duty officer) là sĩ quan chuyên biệt của Hải quân Mỹ cho mục đích kỹ thuật và không có vai trò chỉ huy tác chiến. (HĐ) (39) Samuel Philip Sadder, người thành lập công ty vào năm 1901 cùng với con trai Samuel Schmucker Sadder, qua đời năm 1923; Philip Sadder, người tiếp quản công việc kinh doanh từ cha mình năm 1947 là cháu trai. (TG) (40) Sol khí (aerosol) hệ keo của các hạt chất rắn hoặc các giọt chất lỏng, trong không khí hoặc chất khí khác. (HĐ)

(41) Mùa xuân vắng lặng, Rachel Carson, bản tiếng Việt do Nxb Thế giới và Phương Nam Book ấn hành. (BT) (42) Nguyên văn: “antihumanism.” Lý thuyết phê phán chủ nghĩa nhân văn truyền thống và những ý tưởng truyền thống về loài người và đặc tính của con người. Trọng tâm của nó là quan điểm cho rằng các khái niệm về “bản chất con người,” “con người” hay “nhân loại” nên bị bác bỏ vì mang tính chủ quan và chỉ tương đối trong lịch sử hoặc siêu hình. (ND) (43) Rem (roentgen equivalent man): đơn vị đo đánh giá ảnh hưởng của bức xạ ion hóa lên sức khỏe con người. (ND) (44) Trofim Denisovich Lysenko là nhà sinh học người Liên Xô, người đã thúc đẩy một lý thuyết ngụy khoa học về sự kế thừa các đặc điểm di truyền. Ông đã tìm cách thanh trừng nhiều nhà di truyền học có uy tín của Liên Xô. (TG) (45) R viết tắt của roentgen, đơn vị đo phóng xạ, được đặt theo tên của Wilhelm Roentgen, người phát hiện ra tia X-quang. (TG) (46) Một gigawatt là một triệu kilowatt. (TG) (47) Terawatt-giờ, một con số rất lớn: 1 terawatt-giờ tương đương với 1 nghìn tỉ watt-giờ. (TG)

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 111

Đang tải bình luận...