hồi
dùng làm đòn bẩy. một đầu được chôn xuống đất và được chèn bằng một hòn đá nặng, một điểm tựa hình chạc ba sẽ đỡ điểm giữa thân sào, và đầu tự do còn lại sẽ nâng và thả cây đục xuống với sự trợ giúp của những đôi chân mạnh mẽ của người thợ mỏ trên bàn đạp. Sau mỗi lần thả, thợ mỏ xoay cây đục một phần tư vòng để làm cho lỗ tròn. Cứ sau 15 cm, cây đục phải được kéo lại để mài lại đầu và kiểm tra xem có than không - công đoạn này ngày càng tốn công khi lỗ sâu hơn. Nếu đá vụn (thợ gọi là “đá nát”[1]) bịt kín lỗ, người ta sẽ kéo đục lên và thay thế bằng đầu khoan có ren để thông lỗ. Để xuyên qua đá cứng thì một mét mỗi ngày được coi là tiến độ tốt. Tìm được các vỉa than sâu có thể mất một năm hoặc hơn, thợ mỏ được trả công cao hơn khi chuỗi khoan kéo dài ra, đồng nghĩa công việc trở nên khó khăn hơn.[2] Nếu khoan được vỉa than, lỗ phải được mở rộng thành giếng mỏ bằng cuốc xẻng.
Một ghi chép ở thế kỷ 17 về khoan lỗ ở Yorkshire báo cáo từng lớp khoan một như sau: “Sâu xuống đất 1 yard, qua đất sét vàng 1 yard, qua đá đen 1 quarter [23 cm], qua đá dăm xám 2 yard, qua đá whinstone [đá cứng màu tối giống như đá bazan] 1 quarter, qua đá dăm xám 2 quarter, qua đá whinstone 1 foot, qua đá dăm xám 1 foot, qua quặng sắt” - và cứ thế đào qua các lớp liên tiếp cho đến khi cuối cùng chạm đến một vỉa than dày khoảng 30 cm. Ghi chép kết luận, “Tổng cộng là 21 sải” - 38 mét công khoan đục qua đất và đá.[3] Một khi mở được mỏ than thì nó phải được giữ khô. Một chuyên gia thời Victoria gọi nước - từ mưa chảy vào giếng mỏ và từ dòng chảy ngầm - là “kẻ thù lớn đầu tiên của người thợ mỏ.”[4] Nếu đất gần đó dốc xuống dưới nền mỏ thì nước có thể thoát ra bằng cách đào một đường hầm hẹp gọi là adit (từ aditus tiếng Latin có nghĩa là lối vào), từ đó nước có thể thoát tự nhiên ra ngoài. Đường thông này cũng giúp cung cấp không khí trong lành vào mỏ. Trong các mỏ ém túi khí, hệ thống thông gió tự nhiên như vậy được kiểm soát nhờ hệ thống cửa gỗ. Vì đường thông thường không rộng quá 116 cm² nên phải dùng trẻ em để canh cửa, ngồi trong bóng tối đến 12 tiếng mỗi ngày - tiết kiệm chi phí cho một ngày nến hay dầu đèn. Phải đến khi Quốc hội Anh cải cách Luật Khai mỏ vào năm 1842 thì người ta mới cấm phụ nữ và trẻ em dưới mười tuổi làm việc tại các mỏ, khi cả gia đình lao động dưới lòng đất: những người đàn ông bổ than bằng cuốc; phụ nữ tải than ra trong những giỏ đan bằng liễu gai trên lưng hoặc bằng xe goòng sắt hoặc gỗ buộc dây đai và xích; những đứa trẻ giúp kéo than hoặc phụ trách các cánh cửa. Các gia đình phải tự trang bị thiết bị cho mình và được trả theo khối lượng than mà họ đem ra. Sau này trong các mỏ lớn hơn người ta nhốt ngựa con vĩnh viễn dưới lòng đất để kéo xe chở than. Một cô gái mười bảy tuổi mù chữ tên Patience Kershaw, đã làm chứng trước ủy ban Quốc hội Anh vào cuối năm 1841 về những điều kiện lao động mà cô đã trải qua khi làm “người vác” vận chuyển các tảng than từ miệng hầm đến cửa mỏ:
Tôi đi vào hầm lúc 5 giờ và chui ra lúc 5 giờ tối; tôi ăn sáng với cháo và sữa trước; tôi mang theo đồ ăn tối trong người, một chiếc bánh, và ăn nó khi làm việc; tôi không dừng lại hoặc nghỉ ngơi bất cứ lúc nào; tôi không nhận được gì khác cho đến khi về nhà, sau đó có khoai tây và thịt, không phải ngày nào cũng có thịt. Tôi vội vã mặc quần áo đang mặc bây giờ, quần dài và áo khoác rách; vết hói trên đầu tôi là do đẩy thúng than; chân tôi chưa bao từng bị sưng, nhưng các chị em gái tôi thì bị khi họ làm ở xưởng; tôi đẩy thúng đi hơn một dặm dưới lòng đất mỗi chuyến; nó nặng hơn 336 pound; tôi đi 11 chuyến như thế mỗi ngày; tôi đeo dây đai và xích kéo khi làm việc, để vần thúng ra ngoài; đôi khi các đốc công đánh đập tôi, nếu tôi không đủ nhanh, đánh bằng tay của họ; họ đánh vào lưng tôi; lũ trai trẻ tự do hành hạ tôi; đôi khi bọn chúng kéo lê tôi khắp nơi; tôi là đứa con gái duy nhất trong hố; Có khoảng 20 trai trẻ và 15 người đàn ông; tất cả những người đàn ông đều trần truồng [để chịu đựng nóng và ẩm]; tôi thà làm trong xưởng còn hơn là trong hầm than.[5] Các loại khí trong mỏ than có thể gây chết người. Những người khai mỏ gọi đó là khí mỏ, gốc là từ dampf trong tiếng German cổ, nghĩa là hơi. Các thợ mỏ người German lần đầu tiên đã mang các kỹ năng và thuật ngữ của họ đến Anh vào thời Trung cổ. Khí mỏ hình thành dưới lòng đất từ các
quá trình hóa học và sinh hóa tự nhiên. Thợ mỏ xác định được năm loại: khí ẩm gây sặc - chokedamp (hỗn hợp nitơ và carbon dioxid); gây nổ (mêtan); gây nổ và sặc - stinkdamp có mùi như trứng thối (hydro sunftia); gây nghẹt thở - whitedamp (carbon monoxid); và nghẹt thở dần - afterdamp (hỗn hợp các loại khí: carbon monoxid, carbon dioxid, nitơ và các sản phẩm khác của vụ nổ khí mê-tan hoặc bụi than).[6] Khi các mỏ kéo dài và sâu hơn, lưu thông không khí tự nhiên không còn đủ hiệu quả để thông khí mỏ. Một giải pháp là duy trì một mồi lửa ở đáy mỏ trung tâm - được gọi là mắt mỏ - sẽ hút không khí qua mỏ như ống khói. Thế nhưng tai nạn phát nổ là phổ biến và đôi khi rất khủng khiếp. Kỹ sư khai mỏ thời Victoria tên Robert Galloway đã ghi nhận: “Hiện tượng người bị bắn ra khỏi hố… là một sự kiện thường xuyên, thực sự gần như xảy ra liên tục với những vụ nổ mỏ thời kỳ đầu ở bất kỳ quy mô nào.”[7] Một vụ nổ lớn đã xảy ra vào năm 1675 tại Mostyn, xứ Wales, trên sông Dee, phía đông nam Liverpool. Khi mỏ được mở vào năm 1640, những người khai thác đã xây dựng một hệ thống để triệt tiêu khí mỏ vào đầu mỗi ngày làm việc bằng cách cử một người của họ đi trước với một chùm nến được gắn vào đầu gậy dài để mồi khí ẩm tích tụ từ đêm trước. Họ gọi người đó là anh lính lửa. Anh ta mặc quần áo bao tải cũ được ngâm nước làm đồ bảo hộ. “Khi ngọn lửa cháy dọc theo trần hầm,” Galloway viết, “người lính lửa nằm bẹp trên sàn mỏ cho đến khi ngọn lửa đi qua vị trí của anh ta.”[8] Thông gió sẽ ngăn khí mê-tan tích tụ vào ban ngày, và sáng hôm sau người lính lửa sẽ lặp lại quy trình mồi lửa đầy rủi ro của mình. Đến năm 1675, mỏ Mostyn đã hoạt động được hơn ba thập niên. Sau đó, các chủ sở hữu quyết định đào vào một vỉa than song song nằm sâu hơn. Hố mỏ sâu 15 mét này chứa đầy khí mỏ. Theo báo cáo của Galloway thì việc mang lửa vào đã tạo ra một vụ nổ “dữ dội ghê người.”[9] Thế nhưng điều tồi tệ hơn vẫn chưa xảy ra. Sau một chuyến làm việc ba ngày, một viên quản hầm xuống miệng hố tìm cách thông cho hết khí lưu cữu. Ông ta mang theo hai thợ mỏ. Những người đào hầm khác theo sau. Theo lời kể thì “một trong số họ đã bất cẩn hơn những người còn lại, đi trước với cây nến của mình ngay mắt hầm vẫn đang đầy khí mỏ, ngay lập tức khí mỏ bắt lửa và lan đến mọi ngóc ngách của hầm, với gió lớn và lửa bùng lên, và một tiếng nổ ầm ĩ.” Những người
khai mỏ thụp người sau cửa để che chắn và nấp sau những cột trụ chống hầm. Vụ nổ gầm rú đến tận đáy mỏ và dội lại cửa hầm: “Vụ nổ có sức mạnh không tưởng, gió và lửa xé tan quần áo trên lưng họ, và thiêu rụi