Năng Lượng

phần còn lại của cuốn sách.

phần còn lại của cuốn sách.

phần còn lại của cuốn sách. [45] Câu đó là: “Oxid nitơ trong hiệu quả phong phú của nó xem ra có khả năng làm tan biến nỗi đau thể xác, nó có thể được sử dụng với lợi thế lớn lao trong các hoạt động phẫu thuật không xuất huyết nặng.”[46] Nếu có một loại khí vào năm 1800 có thể loại bỏ nỗi đau khủng khiếp của việc phẫu thuật hoặc nhổ răng thì tại sao loài người phải đợi đến năm 1842 cho lần đầu tiên ứng dụng nó trong nha khoa? Jay đã trả lời câu hỏi này một cách thông tuệ: không phải vì Beddoes và Davy “quên” tính năng gây tê của nitơ oxid - nhận xét trong tuyển tập Các nghiên cứu của Davy đã làm rõ điều này - mà bởi, trước tiên, hiệu ứng rõ ràng nhất của khí này là gây hưng phấn, không mất ý thức; thứ hai, quan điểm y học và tôn giáo thống trị thời đó cho rằng đau đớn là “ ‘tiếng nói của thiên nhiên’, một điều kiện cần thiết của cuộc sống,” thậm chí là “một sự kích thích giữ cho bệnh nhân sinh tồn”; và thứ ba, gây mê được coi là không cần thiết và thậm chí xúc phạm đến bác sĩ phẫu thuật, trái ngược với “những yếu tố quan trọng trong phẫu thuật,” tức là “kỹ năng của bác sĩ phẫu thuật và sự dũng cảm của bệnh nhân.” Jay kết luận: “Khi xuất hiện vào những năm 1840, gây mê quả thực đã đáp ứng được nhu cầu của cả bác sĩ phẫu thuật và bệnh nhân: các tiến bộ kỹ thuật đã cho phép việc phẫu thuật trở nên tinh

vi hơn, và khả năng chống chọi của bệnh nhân trở thành một nhân tố hạn chế cần được giải quyết.”[47] Thời đại của các nghiên cứu về oxid nitơ Beddoes và Davy cũng là giai đoạn tiểu thuyết gia người Anh Fanny Burney trải qua một cuộc phẫu thuật cắt bỏ vú triệt để mà không gầy mê vào năm 1811. Bà đã mô tả trải nghiệm kinh khủng này trong bức thư nổi tiếng gửi chị gái Esther: “Lưỡi thép đáng sợ xuyên vào ngực em, cắt ngang qua tĩnh mạch, động mạch, da thịt, dây thần kinh của em. Em không thể kiềm chế tiếng kêu khóc vang vọng. Em bắt đầu hét không ngớt suốt thời gian mổ… thật đau đớn đến khôn cùng.” Ca mổ cứ thế kéo dài hai mươi phút. Máy tạo khí của Watt đã dừng bước về mặt y tế ở đó, đồng thời dẫn đến sự phát triển của thắp sáng khí đốt quy mô lớn. Khi William Murdoch quay về Birmingham vào năm 1798, ông tiếp tục công việc trước đây của mình về chiếu sáng khí tại xưởng đúc mới tiên tiến ở Soho mà Boulton & Watt, hiện được tổ chức lại thành Boulton, Watt & Co., vừa mới xây dựng ở ngoại vi thành phố. James Jr. đã làm chứng rằng máy đốt khí than của Murdoch “đã được áp dụng trong nhiều đêm liên tiếp, cung cấp ánh sáng cho [xưởng đúc]… Các thí nghiệm trên các khẩu độ khác nhau được lặp lại và mở rộng trên quy mô lớn. Các phương pháp khác nhau cũng được thực hành để tẩy sạch và thanh lọc [khí], để loại bỏ được khói và mùi khó chịu.”[48] James Jr. đã giải quyết mọi nghi ngờ còn lại về cam kết tham gia kinh doanh của ông trong sản xuất thiết bị đèn khí sau khi anh trai cùng cha khác mẹ của mình đến thăm Paris vào cuối năm 1801. Gregory viết về nhà, “Bảo với Murdoch rằng có một cá nhân ở đây đã không chỉ đơn thuần là chế tạo ra một chiếc đèn với khí gaz [sic] sinh ra bằng nhiệt từ gỗ hoặc than mà còn đã thắp sáng ngôi nhà và khu vườn của mình với nó và suy tính đến việc thắp sáng cho cả Paris.”[49] Người Pháp coi người đàn ông đó, Philippe Lebon, một kỹ sư Bộ Cầu đường, là người phát minh ra khí phát sáng. Lebon gia nhập bộ khi ông hai mươi lăm tuổi, vào năm 1792 và cùng năm đó đã nhận được Phần thưởng Quốc gia trị giá 2.000 franc (ngày nay là 24.000 bảng, tương đương 34.000 đô-la) cho phát minh liên quan đến động cơ hơi nước.[50] Bắt đầu cùng thời gian và

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 33

Đang tải bình luận...