Năng Lượng

phần lõi rắn.[8]

phần lõi rắn.[8]

phần lõi rắn.[8] Đến những năm 1850, sản lượng nhựa thông đã giảm ở Mỹ. Một đối thủ cạnh tranh mới đã lấn chân vào thị trường dầu đèn: dầu than chưng cất từ than nến (dầu đá phiến) hay nhựa đường/bitum, một dạng hydrocarbon nặng được tìm thấy tự nhiên trong các hồ nước bán rắn như hồ Pitch trên đảo Trinidad và hệ thống hố hắc in La Brea ở Los Angeles. (Hắc ín và nhựa chưng là các thuật ngữ truyền thống cho nhựa đường/bitum, nhưng cũng được sử dụng, một cách rắc rối, để chỉ các chất dịch của cây.) Nguồn dự trữ bitum lớn nhất thế giới nằm ở tỉnh Alberta, Canada, nơi khoáng sản dạng cát dầu - cát trộn với nhựa đường/bitum - chiếm hơn 140.000 km², diện tích lớn hơn tổng diện tích nước Anh. Một bác sĩ kiêm doanh nhân người Canada tên là Abraham Gesner là người tiên phong thúc đẩy sự phát triển của dầu than, ban đầu dùng làm nguồn khí đốt để thắp sáng. Lớn lên trong một gia đình 12 anh chị em, Gesner sinh ra ở Nova Scotia vào năm 1797. Ngày nay không còn tài liệu về cuộc sống thuở ấu thơ của ông nhưng ở tuổi mười chín vào năm 1816, ông đã thể hiện khả năng tháo vát bằng cách cố gắng bán một đàn những con ngựa đói. Gia súc đang chết đói trong năm không có mùa hè” vì tro bụi núi lửa từ Indonesia, núi Tambora, đã lan khắp thế giới và chặn ánh sáng mặt trời để gây ra đóng băng cứng vào tháng 7 ở vùng vĩ độ phía bắc của Bắc Mỹ và châu Âu. Vụ mùa mất trắng; 200.000 người chết đói ở châu Âu chỉ riêng năm đó. Trả tiền vé tàu bằng cách làm phụ việc trên tàu, Gesner chuyển những con ngựa của mình đến vùng quần đảo Tây Ấn, bán chúng ở đó và dùng khoản lợi nhuận nhỏ này để đi quanh các hòn đảo, thu thập đá, vỏ sò và khoáng sản. Ông đã xem xét các dòng suối hắc ín trên đảo Barbados và hồ Pitch ở Trinidad. Christopher Columbus đã cập bến ở Trinidad năm 1498, sau đó Tây Ban Nha đã sử dụng nhựa chưng Trinidad để trám lên tàu của họ. Gesner chở về một khối lượng lớn bitum từ hồ. Ông đã thử làm thương lái ngựa hai lần nữa nhưng đều không thành: cả hai chuyến đi đều bị đắm tàu.[9]

Sau những chuyến mạo hiểm này, chàng thanh niên Canada táo bạo đã có được sự sắc sảo hoặc may mắn trời cho để kết hôn với một cô con gái nhà bác sĩ. Cha vợ của ông có lẽ đã hỗ trợ cho khóa học ba năm về y học và phẫu thuật của Gesner ở London. Ông trở lại Nova Scotia vào năm 1827 với tấm bằng y khoa và hành nghề bác sĩ ở nông thôn.[10] Y học thời đó là một trong số ít con đường để học và nghiên cứu khoa học. Mối quan tâm thực sự của Gesner là địa chất. Đến năm 1836, ông đã nghiên cứu nó-đủ kỹ để viết một cuốn sách của riêng mình, Remarks on the Geology and Mineralogy of Nova Scotia (Nhận xét về Địa chất và khoáng vật học của Nova Scotia), bao gồm việc thảo luận về các mỏ than địa phương và tài nguyên sắt tiềm năng. Hai năm sau, ông được bổ nhiệm làm nhà địa chất học của tỉnh New Brunswick, phía đông bắc Maine, và đã tiến hành một cuộc khảo sát địa chất trong năm năm quanh khu vực này để tìm kiếm các mỏ có giá trị thương mại. Hồ Pitch, Trinidad Sau đó, Gesner tập trung phát triển nhiên liệu chiếu sáng. Ông đã dùng nhựa chưng thu thập ở Trinidad làm nguyên liệu, tiến hành khoảng 2.000 thí nghiệm riêng lẻ. Đến năm 1846, ông đã chưng cất thành công dầu than, tên gọi phổ thông bấy giờ, từ thứ bitum này. [11] Ông đã đề cập về nó trong các bài thuyết giảng công khai năm đó trên đảo Prince Edward và sau đó là

ở Halifax, Nova Scotia.[12] Những câu chuyện trên báo về các bài thuyết giảng của ông đã thu hút sự chú ý của không ai khác ngoài Bá tước Dundonald thứ mười, Thomas Cochrane, đô đốc hạm đội Bắc Mỹ và quần đảo Tây Ấn của Anh, đóng tại Halifax. Vị bá tước tình cờ đang đàm phán về quyền khoáng sản đối với hồ Pitch ở Trinidad. Ông nhanh chóng mời Gesner làm cố vấn, và đến năm 1851 đã giành toàn quyền kiểm soát nguồn nhựa chưng bằng cách mua lại tất cả các,vùng đất xung quanh.[13] Mối quan hệ đó được chính thức hóa khi Gesner chuyển đến Halifax vào năm 1849. Chỉ trong vài tháng, vị bác sĩ người Canada đã phát triển một phương pháp chuyên biệt để tạo ra khí phát sáng từ bitum với dầu than làm chất trung gian. Khi ông nộp đơn xin cấp bằng sáng chế ở Nova Scotia cho phương pháp của mình vào tháng 6 năm 1849, ông đã sử dụng bằng sáng chế này để giữ tên thương hiệu sản phẩm, gọi chúng là dầu hỏa và khí dầu hỏa (keros trong tiếng Hy Lạp là “sáp,” và -ene để liên tưởng sản phẩm mới với camphene quen thuộc).[14] Một mớ bòng bong của các vụ kiện trong bốn năm tới đã ngăn Gesner sử dụng quyền khai thác bitum ở Nova Scotia và New Brunswick mà ông tin là mình được phép nắm giữ. Ông mất một người bảo trợ và một đối tác vào năm 1851 khi Dundonald, bảy mươi sáu tuổi, không còn phục vụ trong hải quân ở Bắc Mỹ và trở về Anh, dành

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 44

Đang tải bình luận...