phần của riêng mình. Nhà sử học thế kỷ 18 là Daniel Neal, trong cuốn The History of New-England (Lịch sử New-England), đã lưu ý rằng Piscataqua là “nơi giao thương cột buồm trọng yếu cho sự thống trị của bất kỳ ông hoàng nào.”[12] Thật không may cho Hải quân Hoàng gia, cuộc cách mạng thành công ở Mỹ ba thập niên sau đó đã cắt nguồn cung gỗ thông trắng cho Anh. Họ buộc phải quay trở lại sử dụng các cột buồm “làm sẵn”: những cột buồm ghép yếu hơn làm từ những thân cây buộc quanh một trục chính giữa. Bên cạnh việc làm than để luyện sắt, người Anh khai thác gỗ để xây nhà, chuồng và hàng rào; để sản xuất thủy tinh và tinh chế chì; xây cầu, bến tàu, âu tàu, thuyền đi kênh và pháo đài; để làm thùng bia và thùng rượu táo. Nhiều ngành trong số đó tiêu thụ nhiều gỗ như hải quân, thậm chí còn hơn. Ngay cả hoàng gia cũng có lỗi trong việc khai thác quá đà các khu rừng hoàng gia, trong khi Quốc hội làm ngơ. Một sử gia kết luận, “Đòn kết liễu cuối cùng đối với ngành khai thác rừng là kết quả của sự bỏ bê và lạm dụng liên tục.”[13] Nhà nông nghiệp thời Vua James I là Arthur Standish ít quan tâm đến nhu cầu của Hải quân Hoàng gia, ông quan tâm đến cái mà ông gọi là “sự tận diệt và lãng phí gỗ nói chung” khi xuất bản cuốn The Commons Complaint (Khiếu nại của nhân dân) với sự tán thành của Vua James I vào năm 1611, song ông đã thêm “gỗ… cho hàng hải” như một trong những sự thiếu hụt mà ông đã tiên đoán trước. Luận giải một trong những bài phát biểu của nhà vua trước Quốc hội trong bản tóm tắt hậu quả rất đanh thép của mình, Standish kết luận: “Và ta có thể hiểu rằng, không có gỗ, không có vương quốc.”[14] Một phương pháp khác tiết kiệm hơn là đốt than đá - quặng than biển hay than mỏ - người thời Elizabeth gọi vậy để phân biệt với than củi. (Than về bản nhất là bất kỳ loại than hồng nào cháy được, than củi từ đốt gỗ, than biển hoặc than mỏ từ nhiên liệu hóa thạch, tùy thuộc vào việc nó nằm ở vùng đất cao trên mặt biển hay được đào dưới đất lên.) Harrison, trong
đề bút năm 1577 của ông cho tuyển tập thời Elizabeth Holinshed’s Chronicles (Ký sự của Holinshed), nhận thấy miền Trung nước Anh đã chuyển sang nhiên liệu hóa thạch: “Chúng ta có rất nhiều mỏ than ở phía bắc và phía tây các đảo của chúng ta, có thể đủ cung cho cả vương quốc Anh.”[15] Than đã phục vụ thợ rèn hàng trăm năm nay. Thợ nấu xà phòng sử dụng nó; những người đốt vôi nung đá trong lò để làm vôi sống cho thạch cao; người làm muối đun nước biển trong chảo sắt, một quá trình tẻ nhạt rất tốn kém nhiên liệu để lấy muối bảo quản thực phẩm trong nhiều thế kỷ trước khi nhân loại biết ướp lạnh. Thế nhưng khói cay nồng và mùi lưu huỳnh của than ở miền Trung nước Anh đã không khuyến khích người dân sử dụng than trong các ngôi nhà không có ống khói nơi thịt được quay trên lò lửa không che chắn. “Các quý phu nhân London,” một nhà chép sử đã gọi chúng như vậy, không chịu xuất hiện trong những ngôi nhà. Vào năm 1578, Nữ vương Elizabeth I đã khó chịu với mùi khói than thổi vào Cung điện Westminster từ một nhà máy bia gần đó và đã bỏ tù ít nhất một chủ xưởng bia vào năm đó vì tội xấc láo.[16] Một công ty sản xuất bia bị trừng phạt cũng đề nghị chỉ dùng gỗ làm chất đốt gần cung điện. Giống như điện hạt nhân của thế kỷ 20, nhưng mang tính chất chính đáng, trong thế kỷ 16 và 17 người ta e ngại than là thứ độc hại và ô nhiễm do nguồn gốc ma quỷ của nó: “độc hại khi đốt trong nơi ở,” một sử gia đã tóm tắt những định kiến thời Elizabeth, “và… đặc biệt gây tổn thương cho da người. Người ta đã quy đủ loại bệnh tật cho việc sử dụng nó.”[17] Thứ đá đen được tìm thấy ẩn sâu dưới lòng đất khi đốt cháy phát ra thứ lửa thối rữa của địa ngục - như