Phần còn lại của New England và các bang ở Trung-Đại Tây Dương - gồm Connecticut, Maine, Massachusetts, New Hampshire, New Jersey, Rhode Island, Vermont cũng như Delaware và Maryland - chỉ sản sinh được rất ít hoặc không có khí đốt tự nhiên. Một thách thức khác đã xuất hiện trong Thế chiến II nhưng chính thách thức đó sẽ khắc phục một cách tình cờ vấn đề thiếu khí đốt tự nhiên vùng Đông Bắc. Chiến tranh bắt đầu ở châu Âu với cuộc xâm lược Ba Lan của Đức vào ngày 1 tháng 9 năm 1939. Tại thời điểm đó, Mỹ chiếm hơn 60% tổng sản lượng dầu thế giới, với năng suất hơn một triệu thùng mỗi ngày. [54] Năng suất đó sẽ cho phép Mỹ cung cấp nhiên liệu cho các nước đồng minh trong suốt cuộc chiến. Ngay cả trong thời kỳ trung lập chính thức của Mỹ, từ tháng 9 năm 1939 cho đến khi Nhật tấn công Trân Châu Cảng vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, các chuyến tàu chở dầu đã hỗ trợ cho toàn bộ các đồng minh. Một đội tàu đã chở dầu từ Bờ Vịnh quanh Florida lên Bờ Đông để cung cấp cho các thành phố phía Đông rồi chuyển đến Anh và châu Âu. Đức tuyên bố chiến tranh sau khi liên minh với Nhật vào ngày 11 tháng 12 năm 1941. Đức đã gửi một lực lượng tàu ngầm nhỏ dưới quyền Đô đốc và Chỉ huy tàu ngầm Karl Donitz để tấn công các tàu chở dầu không được bảo vệ. Donitz đã yêu cầu 12 tàu ngầm. Hitler, vào thời điểm đó ưu tiên sự hỗ trợ của người Thổ Nhĩ Kỳ trong chiến dịch của ông ta ở Bắc Phi, chỉ trao cho đô đốc năm tàu ngầm. Donitz đã chọn những thủy thủ đoàn ưu tú nhất, và trong sáu tuần từ ngày 11 tháng 1 đến ngày 28 tháng 2 năm 1942, đội tàu ngầm này đã rình rập ở Bờ Đông nước Mỹ và tấn công ít nhất 74 tàu chở dầu, đánh chìm 46 chiếc và làm hỏng 16 chiếc.[55] Các tàu ngầm Đức thì không mất mát gì. “Tàu ngầm của chúng tôi đang hoạt động gần bờ dọc theo bờ biển của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ,” Donitz báo cáo, “cho nên những người tắm biển và đôi khi toàn bộ các thành phố ven biển trở thành chứng nhân của tấn kịch chiến tranh, với cao trào là ánh hào quang đỏ rực từ tàu chở dầu bốc cháy.”[56] Từ mức 1,4 triệu thùng được giao hằng ngày từ Bờ Vịnh đến Đông Bắc vào mùa xuân năm 1941, việc giao hàng giảm xuống chỉ còn 100.000 thùng
mỗi ngày trong vòng chưa đầy hai năm.[57] Tại một cuộc họp vào tháng 3 năm 1942, Ủy ban Hội đồng Công nghiệp Dầu khí Thời chiến nói với hải quân rằng nếu sự suy giảm tàu chở dầu tiếp tục với tỉ lệ cao như vậy thì sẽ không thể cung cấp dầu cho cuộc chiến đến hết năm.[58] Adolphus Andrews, đô đốc hải quân hậu phương, người chỉ huy phòng thủ bờ biển Đại Tây Dương, đã cảnh báo bộ trưởng hải quân một tháng sau đó rằng “chìm tàu, nhất là tàu chở dầu trên bờ biển là một vấn đề nghiêm trọng, nếu tiếp tục sẽ gây hậu quả thảm khốc cho nỗ lực chiến tranh của Mỹ.” Yêu cầu nhiều tàu hơn để giao chiến với tàu ngầm Đức, Andrews nhấn mạnh yêu cầu cấp bách này: “Nếu các lực lượng không được cung cấp hậu cần trong tương lai gần, thì nên xem xét việc dừng các chuyến tàu chở dầu cho đến khi có tàu hộ tống.”[59] Hải quân thiếu các tàu hộ tống vũ trang đầy đủ để duy trì một đội hộ tống toàn diện chiến lược. Vị đô đốc đề nghị thiết lập một hệ thống hộ tống ven biển tạm thời. Lữ đoàn Xô (Bucket Brigade) này, như ông đặt tên, đã hộ tống các tàu chở dầu xung quanh các điểm nguy hiểm chẳng hạn như North Carolina, Mũi Hatteras ở Carolina và lập rào chắn an toàn cho chúng trong thời gian thả neo vào ban đêm.[60] Donitz tăng tần suất tấn công, nhưng Lữ đoàn Xô đã tỏ ra hiệu quả. Mất mát giảm dần. Donitz sau đó đưa đội tàu ngầm sát thủ tiến vào biển Caribe và tiếp tục đánh đắm tàu chở dầu. Với sự phát triển của tàu khu trục chống tàu ngầm cùng tàu và radar không vận sau đó, tàu ngầm của người Đức phải rút lui. Trong khi đó, Mỹ đã triển khai một biện pháp bảo vệ hiệu quả hơn cho việc cung cấp dầu ở phía đông bắc: đường ống dẫn trên đất liền, lớn nhất và dài nhất từng được xây dựng ở bất cứ đâu trên thế giới. Đường ống dẫn dầu đã được làm lớn hơn và dài hơn kể từ khi đường ống 2 và 3 inch đầu tiên vận chuyển dầu thô từ Sông Dầu ở Pennsylvania từ miệng giếng đến đường sắt vào năm 1863. Đến đầu thế kỷ 20, kích thước đường ống đã được chuẩn hóa ở 20 cm vì các ống lớn hơn có xu hướng bị nứt tại các mối nối. Nhưng đường ống 8 inch chỉ có thể cung cấp khoảng 20.000 thùng một ngày, trong khi vào năm 1930, một nhà máy lọc dầu lớn có thể xử lý tới 125.000 thùng một ngày. Giải pháp ban đầu cho nút thắt này là “vòng lặp”: đặt một đường ống thứ hai dọc theo đường ống đầu tiên.[61] Vào những năm 1930, những tiến bộ công nghệ thép cho phép các nhà sản xuất chế tạo các ống thép liền mạch đường kính hơn 12 inch
mà ngành công nghiệp dầu mỏ gọi là đường ống “big-inch cỡ lớn. Tuy nhiên, suy giảm cầu trong thời Đại Suy thoái đã không đặt ra nhu cầu cơ sở hạ tầng mới. Chỉ có khoảng 16.000 km đường ống được đặt tại Mỹ trong thập niên đó.[62] Để ngăn chặn mối đe dọa tàu ngầm Đức, một tập đoàn gồm 11 công ty dầu tư nhân mang tên Đường ống Khẩn cấp Thời chiến được thành lập vào ngày 25 tháng 6 năm 1942 nhằm xây dựng một hệ thống đường ống của chính phủ để vận chuyển xăng dầu từ Đông Texas đến các nhà máy lọc dầu miền Đông Bắc. Việc xây dựng bắt đầu vào ngày hôm sau. [63] Đường ống Big Inch sẽ có đường kính 24 inch và dài 2018 km, với trạm bơm mỗi 80 km, có khả năng vận chuyển 335.000 thùng dầu thô mỗi ngày, hệ thống đường ống lớn nhất và dài nhất từng được xây dựng vào thời kỹ đó. Ống Big Inch 24 inch tại một ngã tư đường sắt, chờ đợi để được hàn lại với nhau, quét nhựa đường, bọc trong giấy bảo vệ, và đặt trong một con mương xuyên quốc gia dài 2.018 km.
Trước khi hàn, có một người công nhân nằm trên tấm giẻ lau được kéo qua từng đoạn ống để lau những bức vách bên trong bằng giẻ, giống như thợ quét ống khói trần truồng thời Georgia ở Anh đội những chiếc mũ phớt mềm và làm sạch ống khói. Sau khi bơm một dòng phun nước(33) dài 80 km qua đường ống để kiểm tra rò rỉ, các nhà khai thác chuyển dầu thô qua phần đầu tiên của ống Big Inch vào ngày cuối cùng của tháng 12 năm 1942. Một đường ống thứ hai đường kính 20 inch đặt song song, Little Big Inch, đã được đề xuất đặt cạnh người anh lớn của mình tại cuộc họp ban đầu năm 1942 của ủy ban Hội đồng Công nghiệp Dầu khí Thời chiến. Nó sẽ dẫn xăng, dầu hỏa, dầu diesel và dầu nóng. Little Big Inch bắt đầu được triển khai, nó sẽ chia sẻ các trạm bơm của Big Inch vào tháng 2 năm 1943. “Công nhân đào một con hào sâu bốn feet và rộng ba feet,” theo báo cáo lịch sử dự án của hai đường ống, “và đặt đường ống qua dãy núi Allegheny, qua đầm lầy và rừng, dưới 30 lòng sông và 200 con lạch và hồ nước, ngầm dưới đường phố, đường sắt, và qua đồng cỏ, thường trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Tổng lượng đào là hơn 2,4 triệu mét khối đất(34) , và toàn bộ công việc phải thực hiện nhanh hơn bất cứ ai từng đặt đường ống trước đây.” Một con hào đi qua sông Mississippi cho phép họ đặt ống dẫn ở đó.[64] Đầm lầy thủy triều ở phía đông New Jersey phải được lấp đầy bằng đất để tạo ra một móng nổi lớn nhưng không đến mức kỳ công như đường ray nổi của Robert Stephenson qua Chat Moss. Thiếu 15 ngày là đủ một năm sau khi bắt đầu xây dựng đường dẫn Big Inch, vào ngày 19 tháng 7 nám 1943, trong một buổi lễ khởi công gần Phoenixville, Pennsylvania, người ta ăn mừng đường hàn cuối cùng của nó. “Dầu mỏ đã bắt đầu chảy vào đường ống phía đông vào năm ngày trước đó,” theo báo cáo dự án. “Đường ống được bơm đầy với tỉ lệ 100.000 thùng mỗi ngày, di chuyển về phía đông ở mức 40 dặm mỗi ngày. Cần 2,6 triệu thùng phuy để lấp đầy