phần của New Jersey bị ảnh hưởng bởi nhà máy flo của DuPont. Một luật sư của DuPont, C. E. Geuther, đã yêu cầu cuộc họp. Theo Rhodes, Geuther đã mở đầu phiên họp bằng cách tuyên bố rằng bất kỳ hành động nào của FDA nhằm lên án “hàng nông sản” của New Jersey sẽ tạo ra “một tình huống quan hệ công chúng tồi tệ” cho DuPont. Geuther cho biết DuPont đã không thừa nhận rằng hàm lượng flo trong rau củ “dưới bất kỳ hình thức nào phản ánh các hoạt động hoặc dự án nào của Công ty DuPont,” mà là “công ty đã thực hiện các bước để loại bỏ hoàn toàn lượng nhỏ hiện tại [hydro florua] hiện đang được thải vào khí quyển từ nhà máy Chambers Works.”[12] Dân không chuyên thì hiểu đơn giản là: chúng tôi không thừa nhận làm điều đó, nhưng chúng tôi đang xử lý nó. Đề xuất của FDA theo sau cuộc điều tra về ô nhiễm flo với cây trồng ở New Jersey, và Rhodes đã biết được sau cuộc họp với Geuther rằng thông tin từ phía Philip Sadtler đã kích hoạt cuộc điều tra. Chính trên bối cảnh này Sadtler nhìn vào thảm họa ở Donora. Ông đến thăm thị trấn ngay sau sự kiện: một tin vắn đăng trên tạp chí thương mại Chemical and Engineering News ngày 13 tháng 12 năm 1948 tổng hợp các phát hiện của Sadtler. “Các chứng cứ dựa trên suy đoán và chứng cứ thực tế đã được tìm thấy,” họ mở đầu câu chuyện, “xác thực tình trạng ngộ độc flo cấp tính do khói bụi ở Thung lũng sông Monongahela với những người đã bị nhiễm độc flo mạn tính” - có nghĩa là tiếp xúc mạn tính trong môi trường công nhân nhà máy. Sadtler đã chất vấn đội ngũ bác sĩ điều trị cho các nạn nhân và khám nghiệm tử thi. Ông nói với tờ News rằng “phân tích máu của các nạn nhân đã chết và người nhập viện cho thấy lượng flo gấp 12 đến 25 lần bình thường.” Ông cũng phát hiện ra rằng “những cánh đồng ngô vốn rất nhạy cảm với flo, đã bị thiệt hại nghiêm trọng, và tất cả các thảm thực vật ở phía bắc thị trấn [xuôi hướng gió từ các nhà máy] đều đã chết hết.” Nói một
cách dễ hiểu, tất cả những người đã chết đều có các triệu chứng mạn tính của ngộ độc flo.[13] Được phỏng vấn vào năm 1996, sau một sự nghiệp lâu dài và nổi bật, Sadtler trả lời thẳng thừng với một phóng viên: “Đó là vụ giết người. Các giám đốc của Công ty Thép Mỹ đáng lẽ phải ngồi tù vì tội giết người.”[14] Sau khi đăng bài trên tạp chí Chemical and Engineering News, Sadder cho hay mặc dù đã là một cộng tác viên đóng góp thường xuyên, biên tập viên đã bảo ông rằng không cần gửi bài cho tạp chí nữa. Hiệp hội Hóa học Mỹ xuất bản tờ tạp chí này; một cựu chủ tịch của Hội, Tiến sĩ Edward R. Weidlein, một nhà hóa học công nghiệp có mối quan hệ với tập đoàn Union Carbide đã đưa ông vào danh sách đen. Trong một vụ kiện tập thể tiếp theo vào năm 1950 do gia đình các nạn nhân ở Donora đệ trình, đối mặt với khả năng thẩm phán có thể đưa ra các mẫu phân tích không khí mà Công ty Thép Mỹ đã lấy vào đỉnh điểm thảm họa Donora, công ty chấp nhận đền bù không qua xét xử. Ngay cả Cục Dịch vụ Y tế Công cộng Mỹ cũng không công bố báo cáo cuối cùng.[15] Sự nhận thức về các chất gầy ô nhiễm sương mù đã không được cải thiện vào năm 1952, khi một màn sương mù cực độc làm mờ London trong khoảng thời gian từ ngày 5 đến ngày 9 tháng 12 gây ra hơn 3.000 cái chết, nhiều hơn ba lần so với thông lệ.[16] Giống với “thứ khói xấc xược” thời John Evelyn, thứ sương mù này đã xâm lấn vào trong nhà ở. Một người London nhớ lại lúc đi làm: “Đến 2 giờ chiều là bạn không thể nhìn từ đầu đến cuối hành lang. Nó dày, vàng và có ai đó gõ cửa văn phòng tôi và nói, ‘Về nhà đi, chúng tôi sẽ đóng cửa.’… Tôi sẽ không bao giờ quên bởi vì sương khói dày đến nỗi bạn thực sự cảm thấy như đang đặt chân vào chiến trường.”[17] Trái khoáy thay, Bộ Y tế quy kết những cái chết đột ngột này cho một dịch cúm, mặc dù số ca tử vong bất thường trong ba tháng đầu năm 1953 gấp bảy lần số người chết vì cúm.[18] Báo chí London thì không ngu ngốc thế: họ liền gọi nó là sự kiện “Sát thủ Sương mù.”[19] Thành