Người Ru Ngủ

phần chính của căn hầm. Khi xuống đến nơi, Mila thấy mình ở trong

phần chính của căn hầm. Khi xuống đến nơi, Mila thấy mình ở trong

phần chính của căn hầm. Khi xuống đến nơi, Mila thấy mình ở trong một gian phòng tối mò. Cô lia đèn pin qua lại, rọi sáng nhiều đồ đạc đáng lẽ không nên ở dưới này: một bàn thay tã, một chiếc cũi, và một cái giường trẻ con. Từ trong giường phát ra một âm thanh điều đặn. Một âm thanh sống động. Mila chầm chậm tiến đến gần, cẩn trọng đặt từng bước chân để không đánh thức sinh vật đang ngủ. Hệt như một con ma, nó cuộn mình trong một tấm vải, quay lưng về phía cô. Một cái chân bé xíu lộ ra. Cái chân cho thấy dấu hiệu suy dinh dưỡng. Việc thiếu thốn ánh sáng đã cản trở sự phát triển của nó. Da nó tái mét. Chắc nó chỉ chừng một tuổi.

Mila phải chạm vào để chắc chắn đó là người thật. Có một mối liên hệ giữa thứ đang ở trước mắt Mila, vấn đề sinh dưỡng và nụ cười giả tạo của bà Conner. Không phải bà ta bị béo phì. Mà là có thai. Sinh linh bé nhỏ cựa mình vì bị ánh đèn đánh thức. Nó quay về phía Mila, tay ôm chặt một con búp bê vải. Mila tưởng đứa bé sẽ khóc, nhưng nó chỉ nhìn cô. Rồi nó mỉm cười. Con ma có đôi mắt rất to. Nó giơ tay về phía Mila, đòi bế. Cô chiều theo. Sinh linh nhỏ bé lập tức ôm chặt lấy cổ Mila. Chắc nó cảm thấy cô đến đây để cứu mình. Cô nhận thấy mặc dù sức khỏe kém, đứa trẻ khá sạch sẽ. Nó vẫn được chăm sóc. Sự chăm sóc này cho thấy một mâu thuẫn giữa yêu thương và thù ghét - giữa thiện và ác. - Con bé thích được bế lắm. Đứa bé nhận ra giọng nói ấy và sung sướng vỗ vỗ hai tay vào nhau. Mila quay lại. Bà Conner đang đứng ở chân cầu thang. - Ông ấy không giống như những người khác. Ông ấy luôn muốn kiểm soát mọi thứ, còn tôi, tôi không muốn làm ông ấy thất vọng. Khi ông ấy phát giác chuyện tôi có bầu, ông ấy đã không nổi khùng. - Bà nói về người chồng của mình, nhưng tránh không nói đến tên ông ta. - Ông ấy không bao giờ hỏi tôi bố đứa bé là ai. Cuộc sống của chúng tôi lẽ ra rất hoàn hảo, nhưng tôi đã làm hỏng các kế hoạch của ông ấy. Chính điều ấy mới làm ông ấy bực mình, chứ không phải vụ ngoại tình. Mila sững người, câm lặng nhìn bà ta. Cô không biết phải phán xét người đàn bà này như thế nào. Bà ta không tỏ ra tức giận, thậm chí bà ta không ngạc nhiên khi phát hiện một người lạ ở dưới tầng hầm. Như thể bà ta đã chờ đợi điều này từ lâu rồi. Có lẽ bà ta cũng chờ đợi một sự giải thoát. - Tôi đã cầu xin ông ấy để tôi đi phá thai, nhưng ông ấy không muốn. Ông ấy bắt tôi giấu diếm việc mang bầu với tất cả mọi người, và trong suốt chín tháng trời tôi đã nghĩ ông ấy muốn giữ đứa bé. Thế rồi một hôm, ông ấy đã chỉ cho tôi căn hầm đã được cải tạo này, và lúc đó tôi mới vỡ lẽ. Khinh bỉ tôi còn chưa vừa lòng, ông ấy muốn trừng phạt tôi. Mila cảm thấy cổ họng thắt lại vì phẫn nộ.

y ọg ạp ộ - Ông ấy đã bắt tôi đẻ con dưới này, rồi để lại đứa bé ở đây. Cho đến bây giờ, tôi vẫn nhắc đi nhắc lại là chúng tôi có thể bỏ đứa bé trước một đồn cảnh sát hoặc một bệnh viện, sẽ chẳng có ai biết. Nhưng ông ấy chẳng buồn trả lời tôi nữa. Đứa bé trên tay Mila mỉm cười. Dường như chẳng có điều gì làm nó phiền lòng. - Thỉnh thoảng vào ban đêm, khi ông ấy vắng nhà, tôi đưa con bé lên trên kia, và cho nó xem hai chị đang ngủ. Tôi nghĩ chúng cũng cảm nhận được sự hiện diện của em gái mình, nhưng lại tưởng là mơ. Hoặc ác mộng, Mila tự nhủ khi nhớ lại con ma trong những bức tranh vẽ và câu chuyện kinh dị. Cô đã nghe đủ. Cô quay lại chiếc giường để nhặt con búp bê và rời khỏi chỗ này thật nhanh. - Nó tên là Na. - Bà Conner nói. - Ít ra thì đó là cái tên mà con bé đặt cho nó. Tôi là mẹ kiểu gì, nếu không biết tên con búp bê ưa thích nhất của con gái mình? Vậy còn con bé, nó có tên chứ? Mila tò mò muốn biết, nhưng cô không hỏi. Thế giới bên ngoài chẳng biết gì về sinh linh bé nhỏ này. Cô không thể hình dung điều gì sẽ xảy ra nếu mình không xuất hiện. Chẳng ai đi tìm kiếm một đứa bé không tồn tại. Cảm nhận được sự ghê tởm trong ánh nhìn của Mila, người phụ nữ tỏ ra phản đối. - Tôi biết cô đang nghĩ gì, nhưng chúng tôi không phải bọn sát nhân. Chúng tôi đã không giết con bé. - Đúng. - Mila thừa nhận. - Các người chỉ chờ nó chết đi.

3 Tôi là mẹ kiểu gì, nếu không biết tên con búp bê ưa thích nhất của con gái mình? Mila tự nhắc đi nhắc lại câu hỏi đó trong suốt chặng lái xe. Và câu trả lời vẫn luôn như thế. Mình chẳng hơn gì bà ta. Mỗi khi nhận thức điều đó, dường như cô lại mở toang một vết thương cũ. Vào lúc 11 giờ 40 phút, cô bước qua cửa Minh Phủ. Họ dùng cái tên đó để gọi ban phụ trách tìm người mất tích tại trụ sở cảnh sát liên bang. Nó nằm ở tầng hầm của một tòa nhà thuộc cánh tây, nơi xa trung tâm nhất. Chính điều này, cùng với tên gọi của nó cho thấy dường như chẳng ai quan tâm đến sự tồn tại của Minh Phủ. Cô được chào đón bằng tiếng rì rầm thường trực của chiếc máy điều hòa cổ lỗ và mùi khói thuốc cũ - di sản của một thời đã xa - khi mà người ta có thể hút thuốc trong phòng làm việc - pha trộn với hơi ẩm của móng nhà. Minh Phủ gồm nhiều phòng và một tầng hầm để lưu trữ hồ sơ tài liệu. Nó có ba phòng làm việc, mỗi phòng được trang bị bốn bàn giấy, ngoại trừ phòng dành cho thủ trưởng. Tuy nhiên, căn phòng rộng nhất chính là phòng đầu tiên khi người ta tiến vào Minh Phủ. Sảnh đợi. Đây là nơi kết thúc con đường đời của nhiều người. Khi đi vào đây, bạn sẽ bị ấn tượng bởi ba điều. Đầu tiên là sự trống trải: do không có đồ đạc, tiếng vang di chuyển tự do mà không bị cản trở. Tiếp đến là cảm giác sợ bị nhốt: trần nhà khá cao nhưng lại không có cửa sổ, nguồn ánh sáng duy nhất được cung cấp nhờ những ngọn đèn huỳnh quang xám xịt. Và điều thứ ba khiến bạn chú ý là hàng trăm đôi mắt. Các bức tường được phủ kín bởi ảnh chụp của những người mất tích.

Đàn ông, đàn bà. Trẻ, già. Những đứa trẻ khiến bạn lập tức chú ý. Mila đã thắc mắc trong một thời gian dài, trước khi hiểu ra những đứa trẻ nổi bật lên giữa đám đông vì sự hiện diện của chúng gợi nên cảm giác khó chịu của sự bất công. Trẻ con đâu thể tự quyết định biến mất, như vậy rõ ràng một bàn tay của người lớn đã tóm lấy và lôi chúng vào một chiều không gian vô hình. Tuy nhiên, những khuôn mặt trẻ thơ trên các bức tường không nhận được bất kì sự đối xử đặc biệt nào, chúng được xếp chung với những hình ảnh khác theo trật tự thời gian thuần túy. Tất cả những cư dân của bức tường câm lặng đều ngang hàng. Không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, giới tính hay tuổi tác. Hình ảnh của họ là bằng chứng mới nhất về sự tồn tại của họ trên đời. Đó có thể là những tấm ảnh được chụp từ bữa tiệc sinh nhật, hay được lấy ra từ một đoạn video an ninh. Có người cười vô tư, có người còn không biết mình bị chụp ảnh. Nhưng trên hết, trong số họ chẳng mảy may nghi ngờ rằng đây sẽ là tấm ảnh cuối cùng của mình. Kể từ khoảng cách đó, trái đất đã tiếp tục quay không cần biết đến họ. Tuy nhiên, không ai bị bỏ rơi, không người nào làm việc tại Minh Phủ lãng quên họ. “Họ không phải là con người”. Thủ trưởng Steph của Mila đã từng nói như thế. “Mà là đối tượng làm việc của chúng ta. Nếu cô không thể nhìn nhận như thế, cô sẽ không thể trụ lâu ở đây được đâu. Tôi á, tôi đã ở đây được hai mươi năm rồi”. Nhưng Mila không tài nào xem những con người này là ‘đối tượng làm việc’ được. Trong các phòng ban khác của trụ sở, họ sẽ được gọi là ‘nạn nhân’. Thuật ngữ chung chung này cho biết họ đã hứng chịu một loại tội ác nào đó. Các đồng nghiệp ngoài Minh Phủ của Mila không biết họ may mắn đến thế nào khi có được cái thuật ngữ chung chung ấy. Trong các vụ mất tích, người ta không thể xác định ngay được người mất tích là một nạn nhân hay tự nguyện bỏ đi. Các điều tra viên của Minh Phủ không thực sự biết họ đang điều tra cái gì, một vụ bắt cóc, giết người hay sự ra đi tự nguyện. Phần thưởng họ nhận được không phải là công lý. Họ không bị thôi thúc bởi ý nghĩ phải lùng bắt cho được một tên gian ác. Các điều tra viên của Minh Phủ phải bằng lòng với cơ hội tìm ra sự thật. Quả vậy, sựp g g ộ ự ậ ậy ự mơ hồ có thể trở thành một nỗi ám ảnh, không chỉ đối với người yêu quý người mất tích - những người không chấp nhận chuyện đó. Mila đã học được một bài học. Trong bốn năm đầu tiên ở Minh Phủ, cô từng có một đồng nghiệp là Eric Vincenti, một anh chàng trầm tính, tốt bụng, người có lần đã cho cô biết các cô gái luôn bỏ rơi anh vì cùng một lí do: khi anh đưa họ đi ăn tối hoặc uống gì đó, anh cứ nhìn các bàn khác hoặc những người qua lại. “Họ nói chuyện với tôi, nhưng tôi cứ nhìn đi chỗ khác. Tôi cố lắng nghe, nhưng không thể. Có cô còn yêu cầu tôi chấm dứt nhòm ngó các phụ nữ khác trong khi đi chơi với cô ấy”. Mila còn nhớ nụ cười héo hắt của Eric khi kể lại chuyện đó. Chất giọng mỏng, hơi khàn và cái gật đầu chấp nhận của anh. Như thể anh đã bỏ cuộc và coi nó như một câu chuyện phiếm vui vẻ. Nhưng sau đó anh trở nên nghiêm túc. “Tôi tìm kiếm họ khắp nơi. Tôi tìm kiếm họ mọi lúc”. Câu nói cay đắng đó, Mila không bao giờ quên. Eric Vicenti đã biến mất vào một ngày chủ nhật của tháng Ba. Trong căn hộ độc thân của anh, chăn nệm được xếp gọn ghẽ, những chiếc chìa khóa được đặt trên cái bàn nhỏ cạnh cửa ra vào, quần áo còn nguyên trong tủ đồ. Trong tấm ảnh duy nhất của anh mà họ tìm thấy, Eric tươi cười đứng giữa hai người bạn, hãnh diện khoe con cá mèo vừa câu được. Khuôn mặt anh đã được đặt cạnh những khuôn mặt khác trên bức tường phía đông. “Cậu ta đã không trụ được.” Steph đã tuyên bố như thế. Bóng tối đã chộp được anh ấy, Mila đã nghĩ như vậy. Trong khi đi đến bàn làm việc của mình, cô quan sát tấm ảnh của Eric Vincenti, người mà sau hai năm mất tích vẫn chưa có manh mối nào được phát hiện. Tấm ảnh là dấu vết cuối cùng về sự tồn tại của anh. Và do vậy hiện nay chỉ còn hai người làm việc tại Minh Phủ. Trong các phòng ban khác của trụ sở cảnh sát, số lượng nhân viên đông đúc đến nỗi họ phải chen chúc nhau trong các văn phòng và phải cố gắng đạt tiêu chí hiệu quả công việc do cấp trên áp xuống. Mila và đại úy Steph thì ngược lại, hai người có cả một không gian mênh mông, chẳng phải báo cáo ai về phương pháp lẫn kết quả làm việc. Tuy nhiên, không một cảnh sát có chút tham vọng tối thiểu nào

ệ yg ộ ọg muốn nhập bọn với họ - hi vọng về một sự nghiệp lẫy lừng của bạn tắt dần khi các vụ việc bế tắc cứ dõi theo bạn từ trên các bức tường. Về

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 5

Đang tải bình luận...