phần còn lại của câu chuyện. Theo những ghi chép trong sách thì lúc bấy giờ Avram đã là một người rất già, 99 tuổi. Mặc dầu ta có thể xem con số này mang một nét gì đó trong lối nói phóng đại ở Sumer nhưng không có lý do gì để nghi ngờ Avram và Sarai đã qua cái tuổi để có con. Nhưng Thiên Chúa giờ đây không còn chỉ là một giọng nói nữa: Avram đã “nhìn” thấy Thiên Chúa, Người bảo ông: “Ta là Thiên Chúa toàn năng” - cái tên có lẽ chúng ta đã mất đi âm điệu ngôn ngữ mặc dù nhiều người nghĩ nó có nghĩa là “Đấng ngự trên núi” hoặc “Đấng ở nơi tối cao”. Thiên Chúa mời gọi Avram “Hãy bước đi trong sự hiện diện của Ta” và “hãy toàn tâm toàn ý”. Nhìn thấy Thiên Chúa trong ánh hào quang rực rỡ của Người và được Người mời gọi bằng một sự thân mật như vậy đã khiến cho Avram phải “sấp mình xuống”. Mối quan hệ đang ngày càng trở nên mãnh liệt. Khi theo dõi sự tiến triển của nó, chúng ta phải thừa nhận có một điều gì đó ẩn chứa bên trong tất cả những sự kiện: nếu Avram không có một sự hiểu biết sâu sắc về chính con người mình - về tính cách riêng của mình - thì ông khó có thể có được một mối quan hệ nào; tuy nhiên, mối quan hệ giữa ông và Thiên Chúa cũng có thể được thiết lập bởi một sức mạnh độc nhất mà nhất thần giáo ở thời kỳ phôi thai này đòi hỏi, sự quyết liệt đó nhiều tới nỗi có thể cho rằng tính cách riêng của mỗi cá nhân (với những hệ quả có thể của nó trong mối quan hệ cá nhân) chính là mặt trái của thuyết nhất thần. Một lần nữa, Thiên Chúa nhắc lại lời hứa của Người với Avram về đất Canaan và dòng dõi đông đúc nằm ngoài tất cả những câu chuyên, thậm chí cả dòng dõi hoàng gia (“Đúng vậy, sẽ có nhiều vị vua từ dòng dõi ngươi mà ra”). Lúc này Thiên Chúa muốn lập một giao ước với Avram, đúng như giữa các tộc trưởng với nhau. Trong giao ước này, Avram sẽ mang một cái tên mới, Avraham (hay Tổ phụ của nhiều dân tộc) và Sarai cũng vậy, từ đây bà sẽ được gọi là Sara (bà hoàng). Avram và Thiên Chúa sẽ thiết lập một giao ước vĩnh cửu mà trong thời kỳ này, một giao ước như vậy luôn được ký kết bằng máu, thường là máu
58 của súc vật hiến tế. Nhưng máu trong giao ước này phải là máu của chính Avram và “tất cả những người nam trong nhà của ngươi”: “Trong toàn bộ dòng dõi của ngươi, tất cả các trẻ nam khi sinh được tám ngày đều phải chịu cắt bì, bất kể đó là trẻ được sinh ra tại nhà hoặc mua được từ người ngoài, những người không phải là con cháu ngươi. Đúng vậy, tất cả chúng phải chịu cắt bì để giao ước của Ta sẽ là giao ước muôn đời trong xác thịt các ngươi”. Không người đàn ông nào lại có thể quên đi dương vật của mình vì đó là nguồn sinh lực sống của họ. Với giao ước này, con cháu của Avram hầu như sẽ không thể quên được Thiên Chúa và Thiên Chúa không bao giờ quên họ. Với sự huy hoàng và vị trí độc tôn đang dần có được, Thiên Chúa không còn được coi là một loại bùa chú để cầu may mắn. Người đang mất đi chức năng là một thiên thần bảo hộ của những thần thánh bảo hộ người Sumer và dần trở thành “Thiên Chúa”. Đối với chúng ta, giao ước này có vẻ tàn nhẫn nhưng bên trong những quy tắc đơn giản và cứng nhắc của vùng Canaan và Mesopotamia thì bản giao ước khắc trong máu thịt này - một lời nhắc nhở muôn đời - lại mang một ý nghĩa hoàn hảo. Người đàn ông bây giờ là Avraham, với nụ cười lộ rõ trên khuôn mặt đã nghĩ rằng: “Làm sao một người cả trăm tuổi lại còn có khả năng sinh con được? Còn Sara đã 90 tuổi mà có thể sinh con được hay sao?”. Rồi Ngài cất cao giọng: “Nếu Yishmael vẫn còn sống trước mặt Người”, hay nói cách khác hãy để lời hứa này cho Yishmael, người luôn có một đời sống đức hạnh tuyệt vời nhất ở trên thế gian này. Avraham chỉ đang cố làm cho Thiên Chúa trở nên thực tế hơn. Nhưng mặc dù Thiên Chúa sẽ làm cho Yishmael có con cháu đầy đàn thì Người vẫn sẽ lập giao ước với đứa trẻ “người mà Sara sẽ sinh cho ngươi vào thời điểm này sang năm”. Vậy Sara - người nữ tì - chưa bao giờ nhận được bất cứ thứ gì mình muốn ngoại trừ cuộc sống, sẽ mang thai trong ba tháng nữa. Rốt cuộc cũng là một điều mắt thấy tai nghe.
59 “Khi đã phán bảo xong, Thiên Chúa chào từ biệt Avraham”. Cuộc đối thoại kết thúc và việc cắt bì được tiến hành. Hầu như tất cả mọi người nam gồm Avraham, các thành viên nam trong gia tộc cùng với những người mới đến cư ngụ đều chịu cắt bì. Chắc chắn Avraham cũng cảm thấy hơi khó thở với những công việc hàng ngày, ông ‘đang ngồi ở cửa lều vào một ngày nóng nực’ - cũng giống như hình ảnh những người tộc trưởng Bedouin trong cái nắng khắc nghiệt của vùng Trung Đông ngày nay, họ đang ngồi ở cửa lều của mình, mong chờ được một cơn gió nhẹ thổi qua. Ông ngước mắt lên và nhìn thấy: ở đằng xa có ba người đàn ông. Vừa thấy họ ông liền chạy từ cửa lều ra đón tiếp, ông cúi chào họ rồi nói: “Lạy Chúa, nếu tôi đẹp lòng các ngài thì xin đừng phớt lờ kẻ tôi tớ này. Vậy tôi xin mang một ít nước để các ngài rửa chân và xin hãy nằm nghỉ dưới bóng cây này. Tôi sẽ mang một tí bánh đề các ngài ăn lót dạ rồi sau đó hãy lên đường vì các ngài đã chiếu cố đến kẻ tôi tớ này”. Dù Avraham có nhiều tôi tớ và hầu cận thì ông cũng cảm thấy mình thấp hèn hơn những vị khách cao quý này rất nhiều, bất kể họ là ai và ông cố gắng bày tỏ cho họ thấy lòng hiếu khách hơn người của ông. Những gì Avraham suy nghĩ trong đầu không chỉ đơn thuần là “một tí bánh”. Ông vội vàng chạy vào bảo Sara “mau lên”, hãy lấy loại bột tốt nhất để làm ba cái bánh. Rồi ông ra chuồng gia súc chọn một con bê “non và hảo hạng” giao cho đầy tớ làm thịt. Khi thức ăn đã chuẩn bị xong, đích thân Avraham ân cần phục vụ bữa ăn. Trong khi các vị khách đang ăn, họ hỏi thăm vợ Avraham, người mà bằng cách nào đó họ đã biết tên từ trước: “Sara vợ ngươi đâu?”. Avraham thưa: “Dạ, ở trong lều”, trong lòng dâng lên một mối nghi ngờ.
60 Vị khách ngồi giữa ba người nói: “Ta sẽ trở lại đây cũng vào thời gian này sang năm và lúc đó Sara vợ ngươi sẽ có một người con trai”. Bây giờ, Avraham đã biết mình đang đón tiếp Thiên Chúa và hai thiên thần7 nhưng Sara không biết gì về những lời hứa trước đó (làm sao một người đàn ông lại đi kể những việc đó cho vợ mình nghe?) đã nghe lỏm được câu chuyện. Có lẽ bà đang bận bịu với việc làm bánh của mình nhưng vẫn nhận thấy câu chuyện này thật buồn cười và nghĩ thầm “Mình đã già thế này, hơn nữa ông nhà mình cũng chẳng còn trai trẻ gì nữa, thì làm sao có chuyện đó được?”. Vị khách ngồi giữa hỏi: “Tại sao bà lại cười?”. Lúc này vị khách ấy đã tiết lộ mình là Thiên Chúa, mà với Người thì không có chuyện gì là không thể làm được và Người lặp lại lời hứa. Sara tội nghiệp lòng đầy sợ hãi và bối rối khăng khăng phủ nhận là mình đã không cười nhưng Thiên Chúa nói: “Không à, đúng là ngươi đã cười mà”. Sara, người đứng ngoài cuộc trong mối quan hệ vĩ đại giữa chồng bà và Thiên Chúa, đã cười bằng tiếng cười của cả thế giới cổ đại, tiếng cười của vùng Sumer, Ai Cập, Canaan, của cả châu Âu, châu Á, châu Úc và châu Mỹ, là tiếng cười hợp lý của tất cả những ai biết rằng một phụ nữ khi đã qua thời kỳ mãn kinh thì không thể có con và một người đàn ông đã xế bóng thì cũng không thể làm được chuyện ấy. Trong tất cả những câu chuyện khó tin về các vị các vị anh hùng và vua chúa thì kho tàng kinh nghiệm của con người đều có thể đoán trước được cũng giống như các cung Hoàng Đạo tuần hoàn trên bầu trời. Chính tất cả chúng ta đều biết về một kết cục không thể tránh khỏi và mọi thứ rồi cũng sẽ phải kết thúc. 7. Vào thời kỳ đầu này, những thiên thần, thêm một sự vay mượn khác từ những người Sumer, được xem như những sự biểu lộ của Thiên Chúa, thường khó phân biệt với người. Khung cảnh ba vị khách thần thánh này xuất hiện trước túp lều của Avraham là chủ đề bức tranh của Andrei Rublev, một tuyệt tác về nền hội họa Nga.
61 Chương này hòa lẫn vào chương kế tiếp. Thiên Chúa tự hỏi liệu có nên nói cho Avraham biết “những gì Ta sắp làm hay không?” và Người quyết định sẽ nói riêng với Avraham vì người đã biết rõ ông, trong khi hai thiên thần đi tới thành Sodom nơi Lot đang sống. Khi Thiên Chúa tiết lộ kế hoạch của Người về việc hủy diệt thành Sodom và Gomorah, Avraham cố gắng thuyết phục Thiên Chúa: “Người sẽ tiêu diệt cả những người vô tội lẫn người tội lỗi hay sao?”. Lúc đặt câu hỏi này với Thiên Chúa, đấng đang dần dần tỏ bày cho Avraham thấy vinh quang rực rỡ của mình, người tộc trưởng đã chứng tỏ một sự dũng cảm khác thường, sự dũng cảm này cũng sẽ được thấy nơi hậu duệ của Avraham trong suốt những thời đại sắp tới. Theo sau là một cuộc đấu khẩu căng thẳng để rồi kết cục Thiên Chúa hứa sẽ dừng tay lại nếu tìm được ít nhất là 10 người vô tội trong hai thành phố. Tiếp theo là cảnh quảng trường chính ở Sodom, nơi Lot bắt gặp hai thiên thần và ông mời họ tới nhà ông (mặc dù không hào hiệp bằng Avraham nhưng Lot chắc chắn là một người tốt). Tuy nhiên, những người đàn ông trong thành đã bao vây căn nhà của Lot giống như những hồn ma trong chuyện “Đêm của những linh hồn”, họ đòi Lot đưa hai người thanh niên đẹp trai ra để họ đùa chơi. Và rõ ràng đây không phải là 10 người vô tội chỉ trừ Lot, người đang cố kéo dài thời gian bằng một cuộc thương lượng mà có lẽ tất cả chúng ta khi ở trong hoàn cảnh của ông sẽ không hành động như vậy: “Đây tôi có hai người em gái chưa chồng, hãy để tôi mang chúng ra cho các người làm gì tùy thích, chỉ xin đừng làm hại những người này vì chúng đã đến trú ngụ trong nhà tôi”. Dĩ nhiên, những người dân thành Sodom không thích như vậy và dọa rằng họ cũng sẽ ngược đãi Lot khi họ đã phá được cửa vào. Nhưng không ai bị hại cả, chỉ có những người dân thành Sodom nhận lấy số phận của họ, đó là lửa và diêm sinh từ trời xuống; trong khi Lot và gia đình ông đã đi xa và được an toàn. Và thật không may cho vợ của Lot, bà đã ngoái nhìn lại đằng sau và bị biến thành tượng muối.
62 Tội của thành Sodom không phải là đồng tính mà là không hiếu khách. Từ chương này không thể suy luận là Thiên Chúa đồng tình hay phản đối chuyện quan hệ hay không nhưng có thể chắc chắn rằng Thiên Chúa có một quan điểm mơ hồ về việc hãm hiếp những vị khách lạ tới nhà. Ngoài ra, chúng ta còn tìm thấy ở khắp vùng Mesopotamia những bằng chứng cho thấy người Sumer hay bất cứ một dân tộc cổ đại nào khác ở Trung Đông đều thích quan hệ từ phía sau, kể cả qua đường âm hộ lẫn hậu môn khi quan hệ tình dục. Đối với các thế hệ sau của Avraham, những người coi những việc như thế là thấp hèn (giống như một con chó) thì toàn bộ năng lực tình dục của những người hàng xóm láng giềng có lẽ đã trở nên một mối hoài nghi - dâm đãng và giả tạo. Gác lại chuyện hủy diệt hai thành, chúng ta đến với một điều kỳ diệu thực sự: Sara mang thai và sinh một người con trai cho Avraham trong cảnh già nua, vào đúng thời gian mà Thiên Chúa truyền dạy người. Avraham đặt tên cho con trai do Sara sinh ra là Yitzhak (nó cười) [Isaac trong cách dịch tiếng Anh truyền Thống.] Khi được tám ngày tuổi, Avraham làm lễ cắt bì cho Yitzhak theo như lời Thiên Chúa truyền dạy… Lúc này Sara nói: “Thiên Chúa đã làm cho tôi vui mừng”. Thiên Chúa đã khiến cho bà bật cười trước đó - bằng cách đề nghị một chuyện không thể. Còn bây giờ thì Sarai, người nữ tì đã nhận được điều duy nhất mà bà hằng ao ước, chính là điều mà bà biết bản thân mình không thể có được. Dù mong muốn có một đứa con của Avraham lớn bao nhiêu cũng không thể bằng mong muốn của Sarai vì Avraham cũng có thể có con với những người phụ nữ khác. Một trong những đặc trưng trong các công trình của Thiên Chúa chính là ở mục đích của Người: một người phải vì lợi ích của những người khác; tạo nên niềm hạnh phúc ngay cả cho những người không quan trọng trong câu chuyện. Cuộc nói chuyện giữa hai vợ chồng (trước đây rất ít nói chuyện; ít nhất là trong những lúc có mặt người khác) thật cảm động, những gì mà một người rất ít nói
63 như Sara đã tạo nên một niềm xúc cảm mà chúng ta chỉ có thể nghĩ là do một nhà văn vĩ đại thốt nên: “Thiên Chúa đã khiến tôi vui mừng, Ai biết được chuyện này cũng đều vui mừng cho tôi… Ai đã nói với Avraham rằng: “Sara sẽ sinh con trai?” Và thật vậy, tôi đã sinh cho ông ấy một người con trai trong cảnh già nua của ông chăng! Thiên Chúa đã làm cho Avraham vui mừng, cả Sara và Yitzhak cũng vậy. “Đứa trẻ lớn lên và thôi bú, Avraham đã thiết đãi một bữa tiệc long trọng vào ngày Yitzhak thôi bú”. Chính lúc này, mùa đông đã tan biến và những cơn ác mộng đã qua đi. Nhưng không hẳn như vậy vì Sara đã quyết định nữ tỳ người Ai Cập không được chung phần trong chuyện vui này nên đã khiến cô và đứa con trai phải trốn đi mãi mãi (mặc dù họ vẫn được Thiên Chúa bảo vệ.) Tiếp theo, bằng những cụm từ vội vàng nhưng sâu sắc, tác giả bắt đầu câu chuyện đáng thương và đáng sợ nhất trong kinh Cựu ước: Giờ thì sau khi mọi việc đã xong xuôi Thiên Chúa thử lòng Avraham Chúa nói với ông “Avraham!” Ông đáp: “Dạ, tôi đây”. Thiên Chúa nói tiếp: “Hãy đưa Yitzhak, đứa con duy nhất của ngươi, người mà ngươi yêu dấu, đi tới Moriyya (đất mộng), Ở đó ngươi hãy hiến tế nó làm của lễ trên một ngọn núi mà Ta sẽ chỉ cho ngươi”.
64 Vào sáng sớm Avraham thắng lừa để khởi hành, mang theo hai đầy tớ và Yitzhak con trai mình cùng đi. Ông cũng mang theo củi cho buổi hiến tế và đi tới nơi Thiên Chúa đã truyền dạy. Sau ba ngày, Avraham ngước mắt lên và nhìn thấy nơi đó ở đằng xa. Avraham nói với các đẫy tớ: “Các ngươi hãy ở lại đây coi lừa, Ta và con trai sẽ đến đằng kia, để cúng bái rồi sau đó quay trở lại đây với các ngươi”. Avraham lấy củi dùng cho hiến tế đặt lên vai con trai mình, còn ông thì mang lửa và gươm. Cả hai cha con cùng đi. Yitzhak hỏi cha: “Cha ơi!” Ông đáp: “Con trai, cha đây”. Yitzhak nói tiếp: “Củi và lửa đã có sẵn đây vậy còn cừu để hiến tế ở đâu cha!” Avraham trả lời: “Con trai, chính Thiên Chúa sẽ lo chuyện ấy”. Vậy là hai cha con lại tiếp tục lên đường. Họ đi đến nơi mà Thiên Chúa đã phán; Avraham dựng bàn thờ và đặt củi lên đó, Sau đó trói Yitzhak lại và đặt lên trên củi. Avraham giơ tay lên toan tuốt gươm để hiến tế con mình. Bỗng có tiếng thiên thần Chúa vọng từ trời xuống và nói: “Avraham! Avraham!” Ông đáp: “Dạ, tôi đây”.
65 Thiên thần nói tiếp: “Đừng giơ tay trên con trẻ, đừng làm hại nó! Vì bây giờ Ta đã biết là ngươi kính sợ Thiên Chúa - ngươi đã không tiếc hiến dâng đứa con duy nhất của mình”. Avraham ngước mắt lên và nhìn thấy một con dê đực nhỏ mắc sừng trong bụi gai. Ông liền bắt lấy nó và hiến tế thay cho con mình. Avraham đặt tên nơi đó là: Chúa thấy. Mãi cho đến nay người ta vẫn gọi là: núi Chúa thấy. Lúc này Thiên Chúa, gọi Avraham lần thứ hai: “Bởi vì ngươi đã dám làm điều này, ngươi đã không tiếc hiến dâng con một của mình nên Ta thề sẽ chúc phúc cho ngươi, Ta sẽ làm cho con cháu ngươi, nhiều như sao trên trời và như cát trên bãi biển. Dòng dõi của các ngươi sẽ chiếm được nhiều thành của quân địch. Vì ngươi đã tuân giữ lời Ta nên các dân tộc trên trái đất sẽ nhờ ngươi mà được chúc phúc”. Tôi chắc rằng bất cứ ai đã từng đọc câu chuyện này, kể cả bản gốc hay bất kỳ bản dịch nào, cũng đều không khỏi sững sờ. Nhiều người đã nghe câu chuyện này từ nhỏ và biết rõ nó sẽ kết thúc như thế nào (bi kịch sẽ được ngăn chặn vào phút chót), nhưng họ không dám đọc lại hay xem xét một cách nghiêm túc “vị quái thần của Cựu ước” như một phụ nữ đã rùng mình khi gọi Thiên Chúa như vậy. Bản dịch rõ ràng của Fox, rất gần với những nhịp điệu rành mạch của bản gốc bằng tiếng Hebrew, đang gây choáng váng trong tác động chồng chất của nó, giống như những vết thương cũ tái phát.
66 Có phải là Thiên Chúa hay không? Chúng ta phải hiểu biết gì về một Thiên Chúa như vậy? Có phải chính thời kỳ nguyên thủy mà câu chuyện đã xảy ra bằng cách nào đó đã giải thích hay bào chữa cho sự dày vò mà Thiên Chúa đã giáng lên người đàn ông và con trai ông ta. Phải chăng chính cậu bé, giống như Sara trong chương nói về người Ai Cập hay vợ của Lot trong sự sụp đổ của thành Sodom, lại là một quân cờ khác trong trò chơi của Thiên Chúa? Yitzhak chỉ là một quân cờ, chắc chắn là vậy, mặc dù với những nét bút thoăn thoắt, tác giả đã phác họa lên hình ảnh một cậu bé đặt một câu hỏi thực sự. Như E. A Spieser nhận xét: “Câu trả lời của người cha tuy trìu mến nhưng lại mang ý lảng tránh điều gì đó và chắc chắn lúc này cậu bé cũng đã cảm nhận được sự thật. “Và cả hai cha con cùng lên đường” [“Thế là cả hai cha con cùng lên đường” trong bản dịch của Fox], một câu ngắn gọn và đơn giản nhưng lại hàm chứa những gì có lẽ là một sự im lặng đau xót và gây cảm xúc nhất trong văn chương”. Đúng vậy, ngòi bút của tác giả thật tuyệt vời, làm cho người đọc không thốt nên lời khi sắp chứng kiến một cảnh hãi hùng. Những nhà phân tích về một xu hướng trong nhằn học có khuynh hướng xem câu chuyện này như là một sự từ bỏ biểu tượng, kịch nghệ hóa những khoảnh khắc không bao giờ tìm lại được trong thời tiền sử khi những người Do Thái nguyên thủy đã từ bỏ tập tục hiến tế người, trong khi những người khác xung quanh họ vẫn duy trì nó. Bởi vậy, câu chuyện này đã được lưu truyền trong truyền thống của người Do Thái như một lời nhắc nhở về những gì họ không được làm. Những tín đồ Thiên Chúa giáo nhìn thấy trong Avraham một hình ảnh Thiên Chúa sẵn sàng cho đi đứa con duy nhất của mình để cứu chuộc tội lỗi của chúng ta. Không có ý ám chỉ những sự phân tích như thế không có cơ sở, ở đây tôi muốn chỉ ra rằng chúng là những khuôn mẫu cung cấp cho chúng ta những phạm trù để xác định xem chương này thuộc loại nào: những cách phân tích trên là những lý do để chúng ta tránh xa sự độc ác để rồi cuối cùng có thể từ bỏ chúng hoàn toàn. Nhưng có một điều chúng ta phải ghi nhớ: đó là khúc cao trào trong câu chuyện của Avraham - Sự trải nghiệm trên Núi.
67 Nó xúi giục chúng ta căm ghét Avraham về những gì ông đã làm ở đó. Chúng ta đã coi ông như một người nhắm mắt làm ngơ xảo trá, sẵn lòng hy sinh vợ mình để mưu lợi cho bản thân. Và mặc dù có thể nói rằng những chuẩn mực đạo lý thời đó khác với chúng ta bây giờ thì cũng khó mà tha thứ được. Tuy nhiên, không phải so sánh Avraham với chúng ta mà là với Gilgamesh và Hammurabi. Làm như vậy, Avraham bắt đầu nổi bật lên từ thời của ông. Dù chúng ta có thể ghê tởm thái độ của Avraham đối với Sara nhưng không thể nghi ngờ tình yêu của ông dành cho Yitzhak. Thật vậy, ngay trong chương này, lần đầu tiên Kinh Thánh nhắc đến từ “yêu”: Hãy đưa con của ngươi, Đứa con duy nhất của ngươi, người mà ngươi yêu dấu, Yitzhak… Chính xác là do tình yêu của Avraham đã làm cho chương này vượt quá sức chịu đựng. Mấu chốt để giải quyết vấn đề khó xử này không nằm ở mối quan hệ giữa Avraham và Yitzhak, mà là ở mối quan hệ của ông với Thiên Chúa. Avraham là một người dân ở xứ Sumer. Ban đầu, sự bảo hộ của Thiên Chúa dành cho Avraham có phần nhiều hơn so với thần Lugalbanda dành cho Gilgamesh, Thiên Chúa gần như là một thứ bùa chú mang lại may mắn dù ngay từ đầu chẳng có hình tượng hay bất cứ dấu hiệu có thể nhìn thấy được. Thậm chí ngay từ khi mới hình thành, mối quan hệ này cũng khác biệt so với những mối quan hệ giữa những người Sumer khác với các thần bảo hộ của họ. Nhưng để duy trì mối quan hệ này thì cần phải có kiến thức và ông đã có được điều đó qua một loạt những dấu hiệu, trong đó Thiên Chúa dần dần tỏ bày cho ông thấy mình là Thiên Chúa, không phải chỉ là một vị thần mà là một ‘Thiên Chúa duy nhất’. Có thể chắc chắn rằng ngay từ đầu, giống như tất cả những người Sumer khác hay tất cả những người có trước ông (và hầu như tất cả những người sau ông), Avraham là một người theo chủ nghĩa đa thần, một người tin vào nhiều vị thần khác nhau (thậm chí mâu thuẫn nhau) - đó là những thế lực hắc ám trong thiên nhiên và vũ trụ, những thế lực mà chỉ có thể tạm thời được xoa dịu bằng những nghi thức tế lễ
68 dông dài và phù hợp. Trong suốt quãng đời của mình, dường như Avraham sẽ không trở thành một người theo chủ nghĩa độc thần nghiêm khắc nhưng những gì chúng ta có thể nói là mối quan hệ giữa ông và Thiên Chúa đã trở thành một ma trận của cuộc đời ông, một sự trải nghiệm có tác động ghê gớm. Từ tai nghe đến mắt thấy rồi đến hình ảnh một đấng oai nghiêm, sự am hiểu về Thiên Chúa của Avraham đã trở nên nhiều hơn bao giờ hết; thế nhưng trong hoàn cảnh xã hội ông đang sống thì sự am hiểu này vẫn được coi là mang nặng tính trần tục theo những chuẩn mực của chúng ta. Sau tất cả những năm tháng chuẩn bị phải có một điều gì đó đánh động Avraham nhận ra người đang nói chuyện với ông là ai. Về phần Thiên Chúa, đấng đã gọi Avraham lên Núi Trải Nghiệm sẽ không còn được coi đơn thuần là “Chúa ngự trên núi”. Thiên Chúa là sự đối nghịch của những thần thánh vùng Sumer, những vị thần có những động cơ thuộc về con người quá rõ ràng của họ. Thiên Chúa là đấng vượt xa những ngọn núi, vượt xa cả bầu trời, là một Thiên Chúa không thể nhận biết, mục đích của Người được che khuất khỏi trí thông minh của con người, Người là đấng không thể kiểm soát. Vậy chúng ta là ai? Chúng ta chỉ là những con người ngẫu nhiên hoàn toàn phụ thuộc vào Thiên Chúa. Còn Avraham là ai? Ông cũng là một con người ngẫu nhiên phải hiểu rằng mình hoàn toàn bị phụ thuộc, phải có ý thức trung thành với Thiên Chúa của ông, được cho và nhận những thứ vượt xa mọi sự hiểu biết. Sau này thánh Job viết: Thiên Chúa cho đi và Người lấy lại: trong danh Chúa, con người được chúc lành. Lúc bắt đầu câu chuyện thương tâm này, tác giả biết rằng những độc giả sẽ không bao giờ chịu đựng được sự hồi hộp nên ông đã nói cho chúng ta biết đây chỉ là Thiên Chúa thử lòng Avraham, vì vậy chúng ta biết rằng Yitzhak sẽ không thật sự bị hiến tế dù cho việc ghi nhớ điều đó trong suốt những diễn biến của câu chuyện có khó đến đâu. Đây cũng là một sự thử lòng đối với chúng ta. Liệu chúng ta có thể mở lòng mình ra với Thiên Chúa, đấng không thể thấu hiểu, vượt xa tất cả bùa chú và toan tính, là người đã cho mưa xuống trong những buổi dã ngoại, đấng có thể làm cho con người trở nên vô nhân đạo và là người đã sắp sẵn
69 định mệnh là cái chết cho tất cả chúng ta được không? Tất cả những thần thánh khác chỉ là sự tưởng tượng, là sự hình tượng hóa cho những ước muốn của con người, bởi ngoài Người ra không còn ai khác. Avraham phải tin vào một Thiên Chúa đầy quyền uy, sau này William Blake, một trong những hậu duệ của Avraham đã cố gắng miêu tả điều đó: Mãnh hổ, mãnh hổ, rực lửa hồng Nơi rừng sâu trong đêm mênh mông, Có ánh mắt hay bàn tay sống Đã nặn thành những nét hùm thiêng? Avraham đã vượt qua đợt thử nghiệm của Thiên Chúa. Lòng trung thành của ông - niềm tin vào Thiên Chúa - đã mạnh hơn nỗi sợ hãi trong ông. Nhưng bây giờ, ông đã biết mình đang đối mặt với một thứ không thể tưởng tượng được, vượt xa mọi dự tính. Thiên Chúa đã gọi ông vào sa mạc, đưa ra những lời hứa viển vông và bắt đầu làm cho những lời hứa ấy trở thành hiện thực. Thiên Chúa trấn tĩnh Avraham “đừng sợ”. Đừng sợ hãi khi có Người hiện diện trong cuộc sống của chúng ta nhưng nghịch lý thay, hãy sợ quyền uy vô hạn không thể giải thích được của Thiên Chúa. Lòng kính sợ Thiên Chúa, “là khởi đầu của sự khôn ngoan”, như một người viết Thánh ca sau này đã nói. Và như vậy, ngọn núi vô danh trong vùng đất “Chúa thấy” chính là bắt đầu cho nỗi sợ hãi của Avraham. Với cách sắp đặt này, câu chuyện về Avraham nhanh chóng đi đến hồi kết. Sara qua đời ở vùng Hebron và Avraham đến “để chịu tang và than khóc”. Để chôn cất Sara bằng tất cả sự kính trọng mà ông dành cho bà, Avraham đã mua tài sản đầu tiên của mình tại Canaan nhưng chỉ sau một cuộc thương lượng đầy căng thẳng. Avraham đã quyết định chọn “hang đá Makhpela” làm nơi chôn cất Sara. Mặc dù ông là một tộc trưởng người du mục nhưng với tư cách là một người tạm cư, Avraham cũng khó mua được một mảnh đất ở Canaan cổ đại. Tuy Avraham cố thuyết phục một số nông dân khó tính bán một phần đất của họ cho ông nhưng việc mua bán này cũng vẫn là bất hợp pháp nếu không có sự chứng kiến của một
70 hội đồng trong địa phương - trong trường hợp này là “con cháu nhà Het”. Với một sự rộng lượng giả tạo, chủ của cái hang nói rằng vì Avraham rất được tôn trọng - một người được Thiên Chúa đề cao, nên ông không dám lấy tiền của Avraham và Avraham có thể có được mảnh đất mình ưng ý nhất mà không phải trả bất cứ khoản nào, ngay cả hang Makhpela cũng vậy, mặc dù nó đáng giá 400 đồng shekel. Khi Avraham nghe được điều này thì ông đã hiểu thực chất của lời đề nghị của họ là gì: hoặc không trả tiền để được một nơi chôn cất tạm thời, hoặc phải trả một số tiền vô lý để sở hữu vĩnh viễn mảnh đất đó. Trong suốt quá trình mặc cả, Avraham nằng nặc đòi trả 400 đồng shekel cho tới khi tất cả mọi người đều đồng ý. Số tiền đó, có lẽ gấp mười lần giá trị thực của cái hang, nhưng đối với Avraham là thỏa đáng vì ông sẽ có quyền sở hữu và không thể hủy bỏ đối với nơi an nghỉ của vợ ông. Có người còn cảm thấy rằng Avraham sẽ trả bất cứ thứ gì để có được sự bình yên này và để ông bày tỏ lòng tôn kính của mình đối với vợ ông, dù có muộn màng nhưng cảm động. Không lâu trước khi Avraham chôn cất vợ mình ở Hebron, mặc dù vẫn còn bất đồng và đôi lúc bi thương, nơi đây vẫn là nơi thiêng liêng đối với người A Rập và người Do Thái, đây là nơi an nghỉ của tổ tiên của cả Yishmael, Yitzhak và tất cả con cháu của họ. Avraham vẫn chưa qua đời trước khi sắp xếp hôn sự cho Yitzhak, một người không nổi bật và chúng ta chưa được nghe nói tới nhiều, ngoại trừ chuyện buồn thời thơ ấu của người đàn ông tội nghiệp này. Những câu chuyện sau đây đưa chúng ta qua thời kỳ của những vị tộc trưởng - kể cả nữ tộc trưởng sau này; nổi bật nhất trong những câu chuyện này là thời của Rivka (hoặc Rebecca), người vợ cố chấp và sắc sảo của Yitzhak (đồng thời cũng là một người nội trợ giỏi và cũng thuộc loại người nhắm mắt làm ngơ như cha chồng). Rivka mang song thai, sinh cho Yitzhak - người “yêu” bà và là người mà bà an ủi sau mẹ ông - hai người con là Esav và Yaakov (Esau và Jacob theo truyền thống). Khi các con đã lớn, bà thông đồng với Yaakow tinh ranh, người con thứ mà bà yêu thương để cướp quyền con trưởng của Esav trung thành, bằng cách giả trang Yaakov có da nhẵn nhụi thành Esav lông lá rồi dâng cho Yitzhak món ăn mà ông
71 ưa thích (chính Rivka đã chuẩn bị). Yitzhak đã già và không còn minh mẫn đã ban lời chúc lành cho con trưởng Yaakov để Yaakov tiếp tục dòng dõi của Avraham và những lời hứa Thiên Chúa đã hứa với ông. Bất chấp nỗi đau đớn do sự đảo lộn này gây ra cho Yitzhak thì kế hoạch của Rivka hóa ra lại là của Thiên Chúa. Trong suốt cuộc đời của Yaakov, Thiên Chúa đã nhiều lần đối thoại với ông vào những thời khắc quan trọng, đặc biệt là về một sự việc làm cho Yitzhak lo lắng, trong đó một người lạ mặt đến trại của ông và vật lộn với ông suốt đêm, chỉ đến buổi sáng mới tiết lộ mình là Thiên Chúa rồi đặt cho Yitzhak một cái tên mới Yisrael (hay Israel), con cháu của ông sẽ tiếp tục thực hiện Bản Giao Ước. Chính Yaakov cũng gọi Thiên Chúa bằng một cái tên mới, với một ý đồ tốt, ông gọi Người là: nỗi sợ của Yitzhak. Yaakov/Israel không phải là vị tộc trưởng cuối cùng nhưng ông là người cuối cùng mà Thiên Chúa đối thoại và thực sự ông đã vật lộn với Chúa một cách thân mật như vậy. Israel kêu lên: “Tôi đã nhìn thấy Thiên Chúa, mặt đối mặt, vậy mà mạng sống tôi vẫn được bảo toàn”. Được nhìn thấy mặt Thiên Chúa mà được sống: đối với con cháu của Israel qua tất cả các thế hệ sau này, đây sẽ là đỉnh cao của sự thiêng liêng mà họ không thể nào với tới được. Phần đầu của lời giao ước đã được thực hiện, cả Avraham và Israel đã cùng bước đi với Thiên Chúa. Đối với người Sumer và tất cả những nền văn hóa cổ đại khác thì trung tâm của tôn giáo không còn là những gì đã từng tồn tại - một sự lôi kéo thiếu thân thiện bằng những lễ nghi - nhưng bây giờ là một tình bằng hữu thân mật với Thiên Chúa. Một tôn giáo mới đã được hình thành qua ba thế hệ của những người du mục, những người đã không còn cúi đầu trước các ngẫu tượng, vua chúa hay bất cứ một hình tượng trần tục nào. Qua những sóng gió của cuộc đời, họ đã học được cách sống dựa vào Thiên Chúa, vị Thiên Chúa oai nghiêm đáng sợ của vùng sa mạc. Tuy nhiên, không ai có thể duy trì một mức độ cảm giác như vậy mãi được, Bởi vì nhận thức của họ đã bị biến đổi, họ phải quay trở lại với những công việc của cuộc sống hàng ngày. Sẽ không còn ai cùng đi với Chúa nữa. Cũng sẽ không
72 còn ai nhìn thấy mặt Chúa hay thậm chí nghe giọng nói của Chúa trong vòng hàng trăm năm nữa.
73 M