hồi và lưu trữ thông tin và toàn bộ những hình thức giao tiếp mới cả trong quan hệ cá nhân và tập thể này được nảy sinh dựa trên cơ sở những sáng kiến khác xảy ra trước nó hàng thế kỷ từ sự mò mẫm đi lên đô thị hóa của người Sumer. Sự đổi mới về nông nghiệp - một nút mở mà bạn không cần trông chờ vào sự ưu đãi của thiên nhiên mà có thể tổ chức sự ưu đãi đó nhiều hay ít có thể dự báo trước qua quá trình gieo giống từng thời
9 vụ - đã làm giảm đáng kể sự phụ thuộc của con người vào những thành quả săn bắn và hái lượm không mấy chắc chắn và đã hình thành nên những cộng đồng cư dân ổn định đầu tiên trong phạm vi nguồn cung ứng lương thực đáng tin cậy. Sự thuần hóa gia súc, gia cầm có thể dự đoán sẽ sớm mang lại sản lượng trứng, sữa, thịt, da và lông thú (hay thậm chí có thể đã tìm thấy trước đó). Sự phát minh ra cuốc và sau đó là cày - những dụng cụ có lẽ được tìm thấy khi một số người nông dân lười biếng nhưng rất ma mãnh nào đó đã nghĩ ra cách cột cái cuốc vào sợi dây thừng được buộc vào sừng con bò mộng, như vậy tạo cho bản thân anh ta một lực cơ bắp đáng kể hơn qua sức mạnh của con bò mộng và cho phép anh ta có thể canh tác trong một khu vực xa và rộng lớn hơn - dần dần hình thành nên những cộng đồng nông dân ổn định trên khắp vùng Fertile Crescent (hiện nay gồm các nước Iraq, Syria, Lebanon và Palestine), vùng đất có hình vòng cung rộng lớn có nhiều sông hồ này bắt đầu từ đồng bằng Tigris-Euphrates trải dài về phía Bắc, ngoặt về phía Nam qua thung lũng Jordan và kết thúc ở Sinai. Ý tưởng sáng suốt của một ai đó về việc đào mương (và sau đó là kênh đào và đập nước) để cho nước sông chảy có kiểm soát từ những con đê cao hơn đến những đồng ruộng thấp hơn đã làm cho những người nông dân không còn phải chờ đợi những cơn mưa chập chờn ở vùng Trung Đông nữa, giờ đây họ có thể canh tác trên những cánh đồng mà trước kia họ chỉ bó tay đứng nhìn. Trải qua nhiều thế kỷ, kỹ thuật này được cải tiến ngày một tinh xảo hơn và cuối cùng hình thành dọc theo những thảo nguyên rộng lớn thuộc đồng bằng Tigris-Euphrates một kỳ quan nổi tiếng thế giới. Đó chính là vườn treo Babylon (người Babylon là hậu duệ trực tiếp của người Sumer). Sự mô tả rất chi tiết về kỳ quan này trở thành một mảng đề tài được ưa chuộng nhất của những du khách cổ đại. Sau đó, đến giai đoạn trước khi con người phát minh ra chữ viết, ở Sumer bùng nổ sự sáng tạo kỹ thuật trên diện rộng nhưng không phù hợp mãi cho đến thế kỷ thứ XIX và XX, của kỷ nguyên chúng ta. Vì trong giai đoạn này, chúng ta không chỉ chứng kiến sự bùng nổ đột biến của những cộng đồng nông dân với sự phát triển mới về những cải tiến trong nông nghiệp và chăn nuôi mà sự vận
10 chuyển bằng xe cộ, thuyền buồm, luyện kim và luyện gốm cũng lần lượt được xuất hiện đan xen. Người Sumer là những người đầu tiên tìm ra cách thức xây dựng cho phép con người vượt qua những công trình đơn giản nhằm đáp ứng chỗ ở thoải mái cho chính họ, dựng nên những công trình nguy nga hùng vĩ thậm chí vượt trội hẳn dành cho kinh doanh và hành lễ: tượng đá đồ sộ, chạm khắc, khảm, khuôn gạch, vòm cung, mái vòm và đỉnh tròn tất cả đều bắt đầu tỏa sáng dưới ánh mặt trời chói chang ở xứ Sumer. Tích lũy dần, một loạt những phát minh độc đáo này mở ra khả năng mậu dịch đầu tiên trên khắp thế giới và, từ đó, những nơi tập trung người và của cải to lớn, đặc biệt là những tiện nghi lưu trữ khổng lồ đã khuyến khích những nhà phát minh vô danh của chúng ta nghĩ đến chữ viết. Trước khi chữ viết đầu tiên được khắc chạm trên phiến đất sét nhỏ (qua nhiều thế kỷ, những phiến đất sét nhỏ vẫn là phương tiện lưu giữ thông dụng), người Sumer đã trỗi dậy thống trị toàn bộ vùng Mesopotamia và có những mối liên kết thương mại bền vững, thậm chí nắm cả quyền bá chủ chính trị ở những khu vực cách xa lưu vực sông Nile thuộc Bắc Phi và ở thung lũng Indus thuộc miền Viễn Đông. Những người kém hiểu biết cho rằng ở Sumer xuất hiện một nhóm khoảng hai mươi lăm nhà nước thành thị rất giống nhau cả về văn hóa và tổ chức bộ máy, Nhưng những nhóm người nguyên thủy ở Amorites - những dân du cư Semitic ở các ngọn núi và sa mạc hoàn toàn nằm ngoài phạm vi của Sumer - thì lại cho rằng những thành phố chật chội và đông đúc trải dọc theo những bờ xanh của dòng Euphrates uốn khúc giống như sợi dây chuyền bằng đá khổng lồ được đánh bóng có vẻ như những vật đang chiếu sáng, mỗi thứ đều được bao phủ bởi lâu đài và tháp đền kỳ diệu để tưởng nhớ tới người bảo vệ thần thánh của thành phố, mỗi thành phố nổi tiếng vì một số nét đặc biệt - đó là tất cả những lời nhắc nhở gây ác cảm về những thứ mà những người du mục không sở hữu.
11 VÙNG ĐẤT MÀU MỠ TRONG THIÊN NIÊN KỶ THỨ BA Nơi khởi nguồn nền văn minh cổ xưa nhất là một hình cung lớn của vùng đất phì nhiêu màu mỡ trải dài từ phía Tây Bắc vùng vịnh Ba Tư băng qua toàn bộ vùng đồng bằng Tigris-Euphrates, sau đó dọc theo lưu vực sông Levant-Jordan về hướng Tây Nam và kết thúc ở Sinai. Những Nhà nước thành thị chủ yếu ở khu vực Sumer-Akkadi được trình bày trên bản đồ (bao gồm Babylon, thuộc về giai đoạn lịch sử sau này). Nét đứt quãng xác định bờ biển của vùng Vịnh trong thiên niên kỷ thứ ba TCN. Những gì mà người du mục không sở hữu được mô tả tỉ mỉ qua tác phẩm của người Sumer về một Amorite tiêu biểu:
12 Một người sống trong lều bị vùi dập bởi gió và mưa, hắn thực sự không biết lễ cầu kinh, Bằng một thứ vũ khí hắn biến ngọn núi thành nơi sinh sống, Tranh giành quá mức, hắn chống lại địa phương mà không biết chùn gối Ăn thịt sống, Cả cuộc đời hắn không nhà không cửa, Khi hắn chết không được chôn cất. Đoạn văn này giống như miêu tả một loài động vật: không có cách cư xử hay sự nhã nhặn - ngay cả về cái chết - không có tôn giáo hay thậm chí không có lửa để nấu ăn, những người du mục luôn tự dấn thân vào những sự tranh giành đẫm máu với những chủ đất “văn minh” hơn. Đằng sau sự miêu tả này, chúng ta có thể nhận thấy thành kiến của những tên đế quốc đối với lịch sử, những người vô tình thừa nhận tính ưu việt của họ cả về đạo đức lẫn kỹ thuật, vượt quá những người mà họ cho là thứ yếu và chính vì thế quyền năng thần thánh của họ đối với bất cứ điều gì đều có giá trị, đặc biệt là đối với đất. Nhờ vào kết quả của những nhà khảo cổ tiên phong, những người đã khai quật nhiều thành phố cổ của người Sumer trong suốt thế kỷ này và giải thích tường tận những kho báu đất sét phong phú của nó, chúng ta biết rõ hơn về người Sumer, nền văn minh đầu tiên của thế giới. Kỹ thuật nông nghiệp và quản lý của người Sumer bị xuyên tạc một cách lạ thường (Người Sumer có hai trăm từ chỉ dùng để diễn tả những chủng loại cừu); toán học của họ cho phép họ lấy căn bậc hai, bậc ba và tính chính xác diện tích của một thửa ruộng hay một tòa nhà và cho phép họ đào hay mở rộng kênh đào. Y khoa thì rất thiết thực chứ không phải là ma thuật và dược điển của họ kê cách chữa trị cho mọi thương tích và bệnh tật, từ vết thương chiến trận đến bệnh hoa liễu. Chúng ta còn biết nhiều về trí tưởng tượng của người Sumer. Sách hướng dẫn thường được viết nhân danh Thiên Chúa: cẩm nang trồng trọt (luôn là cuốn sách bán chạy nhất, vì cuốn sách này có mặt khắp mọi nơi trong những tàn tích của người Sumer) được xác nhận là do thần Ninurta - một vị thần vĩ đại trong số các
13 vị thần của người Sumer - viết. Ninurta được mệnh danh là “người nông dân đáng tin cậy của Enlil”. Người nông dân được khuyên nên theo dõi vụ mùa cẩn thận và phòng ngừa chặt chẽ, kể cả con người và siêu nhiên: “Sau khi chồi trồi lên khỏi mặt đất”, người nông dân phải đuổi những con chim đang bay lượn, đồng thời phải cầu nguyện thần Ninkilim, nữ thần chuột đồng, để bà đuổi những loài gặm nhấm không cho chúng phá các hạt đang nảy mầm. Ngay cả quá trình ủ bia (người Sumer là những bợm bia) cũng có thần hỗ trợ, thần Ninkasi, nữ thần có được cuộc sống nhờ “nước sạch sủi bọt”, tên của nữ thần có nghĩa là “người đàn bà làm thỏa mồm”. Người Sumer quan niệm rằng Ninkasi là người ủ bia cho các vị thần, bà “nung bằng cái xẻng cao ngất lúa mạch nẩy mầm”, “trộn lúa mạch bappir có hương vị ngọt ngào”, “rót bia thơm ngát vào bình lahtan giống như hai dòng sông Tigris và Euphrates được hợp nhất lại’”. Người Sumer thực dụng, những thương gia giáng thế chỉ quan tâm đến việc tính toán trong phạm vi của các thửa ruộng và sức chứa của các nhà kho hơn là thực hiện các công việc khác. Nhưng điều này không có nghĩa là họ không có thể giới quan, ngoài lòng ham muốn kiếm được tài sản đều đặn. Thế giới quan của một dân tộc, mặc dầu thường được ngầm hiểu trong việc mua bán và đếm tiền hàng ngày, nhưng cùng được tìm thấy trong những câu chuyện, những thần thoại và lễ nghi của một nền văn hóa. Những câu chuyện về Sumer được phục hồi từ những phiến đất sét đơn sơ chứa đựng một sự huy hoàng chói lọi không chỉ tác động đến những độc giả đương thời mà còn cho chúng ta cái nhìn phổ quát về trí tưởng tượng ấu trĩ của nhân loại. Hầu như các bản khắc đều bị hư hỏng, nên đã để lại những thiếu sót trong tất cả các chuyện kể. Nhưng có nhiều câu chuyện tồn tại trong nhiều phiên bản khác nhau (do đó những khiếm khuyết trong một phiên bản cụ thể này đôi khi có thể được lấp đầy bằng những đoạn trong các phiên bản khác) và thậm chí được viết bằng những thứ tiếng khác nhau, nên chí ít cũng cho phép chúng ta tái tạo lại một phần nào tiến trình phát triển năng động diễn ra trong nhiều thế kỷ. Với tiến trình thuật chuyện của người Sumer, chúng ta có phần hàm ơn những bộ lạc du mục Semit, những người mù
14 chữ nhưng trong đầu họ chứa đựng một kho tàng chuyện kể vô tận về những dân tộc mù chữ và đôi khi họ kiếm ăn bằng cách kể cho những người định cư nghe những câu chuyện đó. Những câu chuyện này có thể là của các nhà thơ du mục hay những câu chuyện truyền miệng của chính những người sống ở thành thị rốt cuộc cũng được những người Sumer biết chữ ghi lại. Những người này đã có nỗ lực lớn trong việc phân loại mớ tài liệu lộn xộn thành những bố cục gọn ghẽ, vì thế tạo thành “những tác phẩm” - trong thực tế, những tác phẩm đó là một bộ sách giống nhau - về tính liên tục của những hình thức kể chuyện, của những tình tiết và đôi khi là giữa các thế hệ. Đôi lúc việc sắp xếp quá ngăn nắp đã làm cho nhóm các chuyện kể về quốc vương của người Sumer - còn gọi là Danh sách vua (King List) “ hoàn toàn vô dụng đối với những nhà sử học hiện đại. Những bản phác thảo ngắn về từng triều đại này được sắp xếp theo nguyên tắc đối xứng và số học cốt chỉ để xem cho vui mắt và nghe cho êm tai chứ không hề chú ý đến những gì thực sự đã xảy ra trong lịch sử của Sumer. Người ta nói rằng có một số vị vua trị vì hàng ngàn năm, những vị khác chỉ hàng thế kỷ; nhưng trong những nghiên cứu gần đây, các nhà sử học đã tiến hành so sánh bản Danh sách vua này với những tư liệu cổ đã lưu lại và đi đến kết luận rằng các vị vua có triều đại được liệt kê thường xuyên quả thực là những người cùng thời hay những người cận thời, trị vì các quốc gia thành thị lân cận ở Sumer. Những nhà nước thành thị do thần thánh thiết lập tự ngàn xưa; và cũng chính các vị thần đó đã trao cho người Sumer “dân tộc đầu đen” (như họ tự gọi) - tất cả những công cụ, vũ khí và những phát minh kỳ diệu mà chúng ta biết đó chính là những sản phẩm do chính tài năng khéo léo của người Sumer tạo ra. “Sự phát triển” và “sự tiến hóa” - hai thuật ngữ có ý nghĩa quan trọng như thế đối với chúng ta - có thể không có ý nghĩa gì trong nền văn hóa vô tận của Sumer, chính ở đó, người Sumer đã tạo ra mọi thứ, nổi bật là thành phố, ruộng đồng, gia súc, công cụ sản xuất nông nghiệp.
15 Ngay cả những câu chuyện của họ cũng không mang ý nghĩa của sự phát triển: họ bắt đầu ở giữa rồi kết thúc cũng ở giữa. Họ thường thiếu mất điều cần thiết nào đó khi kể chuyện, để có thể cụ thể cho phần khởi đầu, đoạn giữa và đoạn kết. Tất cả những chuyện kể của người Sumer là những câu chuyện lê thê, cố kéo dài ra cho buồn cười, đôi lúc nghe giống như là tiếng bi bô của trẻ nhỏ bắt chước những chuyện đùa mà chúng nghe được từ những đứa trẻ lớn hơn nhưng không nhận ra điểm gút mắc trong cốt chuyện. Họ quên rằng độc giả thời nay khi nghiên cứu văn