phần cảm giác cắn rứt của Mack rồi mới nói tiếp. “Ngày hôm nay chúng ta đang ở trên chặng đường mòn phục nguyên để kết thúc một chặng đường trong cuộc hành trình của con - không chỉ với con, mà với cả những người khác. Hôm nay, chúng ta sẽ quẳng một tảng đá lớn xuống hồ, và những gợn sóng nước ấy sẽ lan đến những ngóc ngách con không ngờ. Con đã biết điều ta muốn rồi phải không?” “Con e rằng con đã biết,” Mack lầm bầm, cảm nhận xúc cảm đang trào dâng và rỉ rả tuôn trào từ một góc khóa kín trong trái tim anh.” “Con trai, con cần phải nói ra, gọi tên nó..” Giờ đây, nước mắt nóng hổi tuôn trên gương mặt anh không còn gì kiềm chế được và Mack thú nhận giữa những lời thổn thức. Anh khóc: “Papa,
làm sao con có thể tha thứ được thằng chó đẻ đã giết sát hại Missy. Nếu hôm nay có nó ở đây, con không biết mình sẽ làm gì. Con biết như vậy là không đúng, nhưng con muốn nó đau như nó đã làm con đau... nếu con không thể đòi được công lý thì con vẫn muốn trả thù.” Papa cứ để cho mọi thứ tuôn trào từ Mack, chờ đợi con sóng đi qua. “Mack, để con tha thứ người này thì con phóng thích hắn cho ta và cho phép ta cứu chuộc hắn.” “Cứu chuộc hắn?” Một lần nữa Mack cảm nhận được ngọn lửa thịnh nộ và thương tổn. “Con không muốn Ngài cứu chuộc nó! Con muốn Ngài làm đau nó, trừng phạt nó, tống nó xuống hỏa ngục...” Giọng anh lê lết. Papa kiên nhẫn chờ đợi cho cảm xúc lắng dịu. “Con bế tắc, Papa à. Con không thể quên được chuyện nó làm.” Mack khẩn nài. “Tha thứ không phải là lãng quên, Mack. Mà là buông tha kẻ khác.” “Nhưng con tưởng Ngài đã quên tội lỗi của chúng con?” “Mack, ta là Chúa. Ta chẳng quên điều gì. Ta biết mọi sự. Cho nên lãng quên đối với ta là một sự lựa chọn để giới hạn chính mình. Con trai à,” Giọng Papa trở nên lặng lẽ và Mack ngước nhìn Ngài, nhìn thẳng vào đâu mắt nâu thẳm của Ngài, “bởi vì Jesus, chẳng có luật lệ nào buộc ta phải khơi lại tội lỗi của các con trong tâm trí ta. Chúng đã biến mất trong câu chuyện giữa con với ta, và chúng chẳng xen vào được trong quan hệ của chúng ta.” “Nhưng kẻ này...” “Nhưng hắn cũng là con trai của ta. Ta muốn cứu chuộc hắn.” “Vậy thì sao? Con chỉ việc tha thứ cho hắn là mọi chuyện sẽ ổn, và chúng con trở thành bè bạn?” Mack nói dịu dàng một cách mỉa mai. “Con không có một mối quan hệ với kẻ này, ít nhất là chưa. Sự tha thứ không tạo nên mối quan hệ. Với Jesus, ta đã tha thứ tất cả con người về tội lỗi của họ đối với ta, nhưng chỉ một số kẻ chọn lấy sự quan hệ. Mackenzie, con không thấy sự tha thứ là một quyền năng kỳ lạ sao - một quyền năng
mà con chia sẻ với chúng ta, một quyền năng Jesus ban cho tất cả những ai Ngài ngự trong để sự hòa giải có thể nảy nở? Khi Jesus tha thứ cho những kẻ đã đóng đinh Ngài lên thập giá, họ không còn trong nợ nần với Ngài nữa, cũng như với ta. Trong mối tương quan giữa ta với những kẻ ấy, ta sẽ chẳng bao giờ khơi gợi những gì họ đã làm, hoặc làm họ ray rứt, hay hổ thẹn.” “Con không nghĩ là con có thể làm được chuyện này,” Mack dịu giọng đáp. “Ta muốn con làm. Tha thứ trước tiên là ở con, kẻ tha thứ,” Papa đáp, “buông bỏ điều gì đã khuất phục được con trong cuộc sống; hủy hoại của con niềm vui và khả năng yêu thương một cách trọn vẹn và rộng mở. Con nghĩ kẻ này có quan tâm đến nỗi khổ đau và dày vò mà con đã trải qua không? Dù gì đi nữa, hắn sống với sự hiểu biết về điều đó. Sao con không cắt bỏ điều đó đi? Và khi làm thế, con sẽ giải thoát hắn khỏi một gánh nặng mà anh mang theo cho dù có muốn hay không - có nhìn nhận hay không. Khi con chọn lựa tha thứ kẻ khác, con yêu thương hắn tử tế.” “Con không yêu thương hắn.” “Không phải ngày hôm nay, không đâu. Nhưng ta thì có, Mack, không phải đối với con người mà hắn sẽ trở thành, mà đối với đứa trẻ đau khổ bệnh hoạn bởi nỗi đau trong con người hắn. Ta muốn giúp con tiếp nhận cái bản chất ấy để tìm thấy nhiều sức mạnh hơn trong tình yêu và sự tha thứ thay vì hận thù.” “Vậy, điều đó có nghĩa là...” một lần nữa Mack lại hơi giận dữ về xu hướng của cuộc đối thoại, “nếu con tha thứ cho kẻ này, thì con cho nó chơi đùa với Kate, hay là cháu nội của con phải không?” “Mackenzie,” giọng Papa mạnh mẽ và kiên quyết. “Ta đã bảo con rằng sự tha thứ không tạo nên một mối quan hệ. Trừ phi con người nói ra sự thật về việc họ đã làm và thay đổi tâm trí và hành vi, còn thì một mối quan hệ tin cậy là bất khả. Khi con tha thứ một ai đó, chắc chắn con phóng thích họ khỏi sự phán xét, nhưng nếu không có sự thay đổi thật sự thì chẳng có một mối quan hệ thật sự nào được thiết lập.”
“Vậy thì sự tha thứ không đòi hỏi con phải giả vờ như những chuyện hắn làm chưa bao giờ xảy ra?” “Làm sao được? Con đã tha thứ cho cha con tối hôm qua. Liệu con có quên những gì ông ấy đã làm đối với con không?” “Chắc là không.” “Nhưng giờ đây con có thể thẳng thắn yêu thương cha. Sự thay đổi của cha con đã cho phép điều đó. Sự tha thứ không hề đòi hỏi con phải tin cậy người mà con đã tha thứ. Nhưng nếu sau cùng họ thú tội và ăn năn, con sẽ khám phá ra một phép mầu trong trái tim con cho phép con mở lòng để bắt đầu tạo dựng một nhịp cầu hòa giải giữa các con. Và đôi khi - điều này ngay bây giờ có thể dường như không thể hiểu được đối với con - con đường ấy thậm chí có thể dẫn dắt con đến với phép mầu của sự khôi phục trọn vẹn lòng tin cậy.” Mack chuồi xuống đất và dựa người vào tảng đá mà nãy giờ anh vẫn đang ngồi. Anh săm soi đất giữa hai bàn chân mình. “Papa, con nghĩ rằng con hiểu những lời Ngài nói. Nhưng con có cảm giác rằng nếu con tha thứ cho kẻ này thì hắn sẽ rũ bỏ được tha một cách vô điều kiện. Làm sao con biện minh được chuyện hắn đã làm? Liệu có công bằng với Missy nếu con không phẫn nộ với hắn?” “Mackenzie, sự tha thứ không cần phải biện minh gì cả. Hãy tin ta, sự sau cùng của kẻ này, là tự do. Và con không có bổn phận gì đối với công lý trong việc này. Ta sẽ lo liệu điều đó. Còn đối với Missy, con bé đã tha thứ cho hắn rồi.” “Rồi sao?” Mack thậm chí chẳng ngước nhìn lên. “Sao lại như vậy được?” “Bởi sự ngự trị của ta trong con bé. Đó là con đường duy nhất khả dĩ của sự tha thứ đích thực.” Mack có cảm giác Papa ngồi xuống bên cạnh anh trên mặt đất nhưng anh vẫn không ngước nhìn lên. Khi đôi cánh tay của Papa choàng lấy Mack, anh bắt đầu khóc. “Hãy khóc hết đi,” anh nghe thấy lời thì thầm của Papa, và rốt cục anh đã làm được điều đó. Anh nhắm mắt lại khi những giọt nước mắt trào ra. Missy và ký ức của cô bé một lần nữa tràn ngập tâm
trí anh; hình ảnh những cuốn sách tô màu và bút chì màu và chiếc váy rách thấm máu. Anh khóc cho đến khi cạn kiệt tất cả sự tối tăm, tất cả sự khát khao và tất cả sự mất mát, cho đến khi chẳng còn lại gì. Với đôi mắt nhắm nghiền, thân người đong đưa, anh khẩn nài: “Hãy giúp con, Papa. Hãy giúp con! Con phải làm gì? Làm sao để con tha thứ cho hắn?” “Hãy nói với hắn.” Mack ngước nhìn lên, nửa đinh ninh nhìn thấy một kẻ anh chưa bao giờ gặp đang đứng ở đó, nhưng chẳng có ai. “Làm sao, Papa?” “Cứ nói lớn lên. Có một quyền năng khi con cái của ta tuyên cáo.” Mack bắt đầu thì thầm bằng một âm sắc thoạt tiên miễn cưỡng và vấp váp, nhưng rồi ngày càng vững tin. “Ta tha thứ cho mi. Ta tha thứ cho mi. Ta tha thứ cho mi.” Papa ôm anh vào lòng. “Mackenzie, con thật là một niềm hoan lạc.” Khi sau cùng Mack trấn tĩnh lại, Papa trao cho anh một cái khăn ướt để anh lau mặt. Khi ấy anh đứng dậy, thoạt đầu hơi loạng choạng. “Chao ơi!” anh nói bằng giọng khàn khàn, cố tìm ngôn từ nào đó hòng diễn tả được cuộc hành trình xúc cảm anh vừa bươn chải đi qua. Anh trả chiếc khăn lại cho Papa rồi hỏi: “Vậy nếu con vẫn còn giận thì có sao không?” Papa đáp ngay. “Chứ sao! Chuyện hắn đã làm thật khủng khiếp. Hắn đã gây đau khổ vô bờ cho nhiều người. Đó là sai trái, nhưng giận dữ là phản ứng chính đáng với một điều gì đó quá sai trái. Nhưng đừng để sự phẫn nộ, đau đớn và mất mát của con ngăn cản con tha thứ cho hắn và tháo gỡ đôi bàn tay con đang siết cổ hắn.” Papa nhấc hành lý lên người. “Con trai, có lẽ con sẽ phải tuyên cáo sự tha thứ của mình một trăm lần vào ngày đầu tiên và ngày thứ hai, nhưng sẽ ít hơn vào ngày thứ ba và mỗi ngày sau đó, cho đến một ngày con sẽ nhận ra rằng con đã tha thứ hoàn toàn. Và rồi một ngày kia con sẽ cầu nguyện cho sự mãn toàn của hắn và trao hắn cho ta để tình yêu của ta thiêu đốt mọi
vết tích của sự xấu xa trong cuộc sống của hắn. Ngay lúc này đây điều này nghe thật không thể hiểu được, nhưng một ngày kia con sẽ biết rõ người này trong một cảnh ngộ khác.” Mack rên rỉ. Nhưng dù cho những lời Papa nói làm bụng dạ anh quặn cào, trong thâm tâm anh biết điều đó đúng. Họ cùng đứng lên và Mack hướng về con đường mòn để trở về bằng lối mà họ đã đến. “Mack, chưa xong mà,” Ngài phán. Mack khựng và xoay người lại. “Thế à? Con tưởng đây là lý do Ngài đưa con đến đây.” “Đúng rồi, nhưng ta đã nói với con rằng ta có cái để chỉ cho con, cái mà con đã nhờ ta. Chúng ta đến đây để đưa Missy về nhà.” Đột nhiên mọi chuyện sáng tỏ. Anh nhìn món quà của Sarayu và nhận ra công dụng của nó. Đâu đó trong khung cảnh hoang vu này kẻ sát nhân đã giấu thi thể của Missy và họ đã đến để mang về. “Tạ ơn cha,” anh chỉ nói được với Papa có thế thì một lần nữa suối nước mắt lại tuôn trào trên gò má như thể bắt nguồn từ một mạch nguồn bất tận. “Con căm ghét điều này - khóc lóc và lu loa như một thằng khùng, bao nhiêu là nước mắt,” anh than van. “Ôi con ơi,” Papa cất giọng dịu dàng. “Đừng bao giờ xem thường sự mầu nhiệm của nước mắt. Nó có thể là nước chữa lành và dòng hân hoan. Đôi khi đó là những ngôn từ hay ho nhất mà trái tim có thể thốt lên.” Mack lùi lại để nhìn vào gương mặt Papa. Sự nhân lành thanh khiết, tình yêu, hy vọng và niềm hoan lạc sống mà anh chưa bao giờ nhìn vào. “Nhưng Ngài đã hứa một ngày kia sẽ không còn nước mắt nữa mà? Con đang trông mong ngày đó.” Papa mỉm cười, chạm lưng của những ngón tay của Ngài vào mặt Mack, và rất đỗi nhẹ nhàng lau gò má hoen nước mắt cho anh. “Mackenzie, thế giới này tràn đầy nước mắt, nhưng nếu con nhớ rằng ta đã hứa điều đó thì chính ta sẽ lau nước mắt cho con.” Mack cố nở một nụ cười trong lúc linh hồn anh tan chảy và lành lặn trong tình yêu của Cha.
“Đây,” Papa nói và đưa cho anh một chiếc bi đông. “Uống nhiều đi. Ta không muốn con chưa chi đã héo hắt như một trái mận khô.” Mack không nhịn được cười, một nụ cười dường như thật lạc lõng, nhưng rồi nghĩ lại anh thấy thật là phù hợp. Đó là một nụ cười của hy vọng và niềm hân hoan đã được khôi phục... của một tiến trình để kết thúc. Papa dẫn dường. Trước khi rời khỏi lối đi chính để lần theo một con đường mòn vào trong một bãi đá cuội, Papa dừng lại và dùng gậy của mình để gõ vào một tảng đá lớn. Ngài nhìn lại Mack và ra hiệu cho anh nên nhìn gần hơn. Lại tiếp tục, một nét vòng cung màu đỏ. Và giờ thì Mack nhận ra con đường mà họ đi đã được đánh dấu bởi kẻ đã bắt đi con gái anh. Trong khi đi, Papa giải thích cho Mack biết rằng chưa có một thi thể nào được tìm thấy bởi vì kẻ này thường sục sạo những nơi để cất giấu xác, đôi khi cả mấy tháng trời trước khi hắn bắt cóc các bé gái. Băng ngang đến lưng chừng bãi đá cuội, Papa rời lối mòn để bước vào một mê cung đá tảng và vách núi và một lần nữa không quên chỉ ra dấu hiệu quen thuộc trên một tảng đá gần kề. Mack nhận thấy trừ phi ai đó đã biết trước để tìm kiếm, những dấu hiệu ấy dễ dàng bị bỏ qua. Mười phút sau, Papa dừng lại trước một đường phân giới nơi hai vỉa đất giao nhau. Có một cột đá cuội nhỏ ở trên nền vỉa đất mà một viên mang dấu hiệu của kẻ sát nhân. “Giúp ta với,” Ngài nói với Mack trong khi bắt đầu lăn những tảng đá lớn hơn ra xa. “Tất cả những tảng đá này che giấu một cái miệng hang.” Một khi những tảng đá ngụy trang đã được dời đi, họ cầm xẻng xúc đi lớp đất cứng và sỏi chặn lối vào. Đột nhiên, lớp đất còn lại bung ra để lộ lối vào một chiếc hang nhỏ; có lẽ đã từng là hang của một con thú ngủ đông nào đó. Mùi ôi của sự phân hủy xông ra và Mack thấy nghẹn. Papa thò tay vào cuối cuộn hành lý mà Sarayu cho Mack để lôi ra một mảnh vải bằng cỡ chiếc khăn rằn. Ngài buộc khăn che miệng và mũi Mack và ngay lập tức mùi thơm của nó át mất mùi khó chịu của chiếc hang. Chỉ có đủ chỗ để họ bò. Rút ra một chiếc đèn pin loại mạnh từ trong hành lý của mình, Papa luồn vào trong hang trước và Mack theo sát đằng sau, vẫn mang theo món quà của Sarayu.
Họ chỉ mất vài phút để tìm thấy báu vật đắng cay. Trên một nền đá nhỏ, Mack nhìn thấy một thi thể mà anh cho rằng là Missy; mặt ngửa lên trên, thân thể cô bé được phủ một tấm vải bẩn và mục nát. Như một chiếc găng tay cũ không cần phải ướm thử bàn tay, anh biết Missy đích thực không nằm đó. Papa tháo thứ mà Sarayu đưa họ mang theo và ngay lập tức hang động tràn ngập những hương thơm kỳ diệu. Mặc dù tấm vải bên dưới thi thể của Missy đã mong manh, nó vẫn còn đủ chắc để Mack nhấc cô bé lên và đặt vào giữa hương hoa. Rồi Papa nhẹ nhàng quấn cô bé lại và mang ra cửa hang. Mack ra ngoài trước và Papa trao báu vật cho anh. Anh đứng dậy trong lúc Papa thoát ra và xốc lại chiếc túi lên vai anh. Mack chẳng nói một lời ngoài những tiếng lầm bầm chốc chốc trong làn hơi thở: “Ta tha thứ cho mi... Ta tha thứ cho mi...” Trước khi rời khỏi hiện trường, Papa nhặt viên đá có dấu vòng cung màu đỏ lên và đặt trên lối vào. Mack nhìn thấy nhưng không mấy chú ý, mãi bận rộn với những ý nghĩ của riêng mình và dịu dàng ôm chặt thân xác con gái vào lòng.
• 17 • NHỮNG CHỌN LỰA CỦA TRÁI TIM Nhân gian chẳng có nỗi đau nào Địa đàng không thể chữa lành lặn. — THOMAS MOORE , “Hãy đến hỡi những kẻ phiền muộn” Dù Mack phải vác nặng thi thể của Missy trở về căn chòi, thời gian vẫn trôi qua nhanh. Khi họ về đến căn chòi, Jesus và Sarayu đang chờ ở cửa sau. Jesus nhẹ nhàng giúp anh đỡ xuống và họ cùng nhau vào trong chiếc lán Ngài vẫn làm việc. Mack chưa bước vào đây kể từ lúc đến và ngạc nhiên trước vẻ đơn sơ của nó. Qua những chiếc cửa sổ lớn, ánh sáng tràn vào soi rọi và phản chiếu bụi gỗ vẫn còn đang lơ lửng trong không trung. Những bức tường và băng ghế dài, chất đầy các loại dụng cụ, được sắp xếp để thuận tiện cho các hoạt động trong lán. Rõ ràng đây là thánh địa của một người thợ bậc thầy. Ngay trước mắt họ là công trình của Ngài, một tác phẩm nghệ thuật để đặt thi hài của Missy. Khi đi vòng quanh chiếc quách, Mack nhận ra ngay những nét khắc trên gỗ. Quan sát kỹ hơn anh phát hiện ra các chi tiết trong đời sống của Missy đã được khắc chạm vào gỗ. Anh thấy một họa tiết khắc Missy cùng với Judas, con mèo của cô bé. Một chỗ khác là hình ảnh Mack đang ngồi trên ghế đọc truyện Tiến sĩ Seuss cho cô bé. Cả gia đình đều được thể hiện trong các hoạt cảnh bên hông và trên nắp: Nan và Missy làm bánh, chuyến đi đến hồ Wallowa với xe cáp chạy lên núi, và thậm chí cả hình ảnh Missy ngồi tô màu ở chiếc bàn trong trại hè cùng với chiếc kẹp kẻ sát nhân bỏ lại được khắc họa chính xác. Có cả hình ảnh Missy đang đứng mỉm cười trong lúc ngắm thác nước, biết rằng cha mình ở phía bên kia. Rải rác khắp nơi là hoa và những con thú mà Missy yêu thích nhất. Mack quay lại ôm lấy Jesus, và trong lúc họ ôm nhau, Jesus thì thầm vào tai anh: “Missy đã giúp đấy, con bé đã chọn những hình ảnh muốn khắc lên trên ấy.” Mack siết chặt vòng tay. Mãi anh mới rời ra được.
“Chúng ta có một chốn tuyệt vời đã chuẩn bị cho thân xác của con bé,” Sarayu vừa nói vừa lướt qua. “Mackenzie, đó là trong khu vườn của chúng ta .” Hết sức cẩn trọng họ gượng nhẹ đặt thi hài của Missy vào trong chiếc quách, đặt đầu cô bé trên một lớp cỏ mềm và rêu, rồi lấp đầy bằng hoa cỏ từ chiếc túi của Sarayu. Đóng nắp lại, Jesus và Mack nhẹ nhàng nhấc hai đầu để khiêng ra ngoài, Sarayu theo sau, vào trong khu vườn đến chỗ vùng cây ăn quả mà Mack đã phụ dọn sạch. Tại đó, giữa những cây anh đào và cây đào, vây quanh bởi phong lan và bạch huệ, một chiếc hố đã được đào ngay tại chỗ mà Mack đã nhổ rễ của những bụi hoa ngày hôm trước. Papa đang chờ họ. Khi chiếc quách tinh xảo được nhẹ nhàng đặt xuống lòng đất, Papa ôm chặt lấy Mack và anh cũng đáp lại. Sarayu bước đến. “Ta,” Ngài vừa nói vừa vung tay và nghiêng người. “long trọng hát ca khúc của Missy mà cô bé viết riêng cho dịp này.” Và Ngài bắt đầu hát, với một chất giọng như gió mùa thu; âm thanh của lá xào xạc và rừng cây nhẹ nhàng thiếp ngủ, âm sắc của màn đêm đến và hứa hẹn những ngày mới đang về. Đó là giai điệu ám ảnh mà anh đã từng nghe Ngài và Papa ngâm nga trước đó, và giờ đây Mack lắng nghe những lời của con gái mình: Hãy rước ta vào lòng Để ta thở và sống Và thiếp ngủ nồng nàn Giữa êm ái những tặng vật ngài trao ban Gió hãy hôn ta và cùng hòa hơi thở Cho đến khi ta quyện vào nhau Và khiêu vũ giữa những mộ bia Cho đến khi chết chóc tan biến Chẳng một ai hay biết chúng ta Hòa nhịp bên nhau trong lời ca
Ngoại trừ Đấng ban sự sống Đến che chở ta khỏi mọi ác mộng Gió hãy hôn ta và cùng hòa hơi thở Cho đến khi chúng ta quyện vào nhau Và khiêu vũ giữa những mộ bia Cho đến khi chết chóc tan biến Khi Ngài hát xong, có một khoảng lặng; và rồi Thiên Chúa, cả ba đấng, đồng thanh nói “Amen.” Mack hòa theo tiếng amen, cầm lấy một chiếc xẻng và cùng với Jesus bắt đầu lấp hố lại, phủ lên chiếc quách nơi thi thể của Missy an nghỉ. Rồi khi xong việc, Sarayu lần tay vào trong áo rút ra một chai nhỏ mỏng mảnh. Ngài rắc từ trong chai ra vài giọt của thứ nước sưu tầm quí giá vào trong lòng bàn tay rồi bắt đầu cẩn thận vẩy những giọt nước mắt của Mack lên trên lớp đất đen dày bên trên nơi an nghỉ của Missy. Những giọt nước rơi như kim cương và hồng ngọc, và bất cứ nơi nào chúng rơi xuống, hoa bừng dậy ngay lập tức và trổ hoa dưới ánh mặt trời rực rỡ. Sarayu dừng lại trong chốc lát, nhìn chăm chú vào một hạt ngọc trai trên lòng bàn tay mình, một giọt nước mắt đặc biệt; rồi thả nó vào ngay giữa mảnh đất. Ngay lập tức một thân cây nhỏ từ dưới đất trồi lên và bắt đầu vươn lên, trẻ trung, lộng lẫy và choáng ngợp, nảy nở và lớn dậy mãi cho đến khi bùng nở rộ hoa. Khi ấy Sarayu, với điệu bộ lặng lẽ như gió thoảng của mình, xoay lại mỉm cười với Mack, đang đứng nhìn trân trối. “Đó là một cái cây sự sống, Mack, mọc lên trong khu vườn của trái tim con.” Papa đến bên cạnh và choàng tay lên vai anh. “Missy thật diệu kỳ, con biết đó. Con bé thật sự yêu thương con.” “Con nhớ nó khủng khiếp... vẫn còn đau buồn quá.” “Ta biết, Mackenzie. Ta biết.” *** Nếu theo dấu mặt trời, quá trưa một chút thì bốn người rồi khu vườn và về lại căn chòi. Trong bếp chẳng có sẵn món gì, trên bàn ăn cũng chẳng có
thức ăn gì. Thế là Papa dẫn hết thảy vào trong phòng khách; nơi có một ly rượu và một ổ bánh mì mới nướng đặt trên chiếc bàn cà phê. Họ ngồi xuống, riêng Papa vẫn đứng. Ngài hướng lời mình vào Mack. “Mackenzie,” Ngài cất giọng, “chúng ta có một thứ để cho con cân nhắc. Trong thời gian ở cùng chúng ta, con đã được chữa lành nhiều và học hỏi nhiều.” “Con cho rằng nói thế là hơi khiêm tốn đấy,” Mack cười khúc khích. Papa mỉm cười. “Chúng ta đặc biệt yêu mến con, con biết rồi đó. Nhưng đây là sự lựa chọn mà con phải quyết định. Con có thể vẫn ở lại với chúng ta và tiếp tục lớn dậy và học hỏi, hoặc con có thể trở về ngôi nhà kia của con, với Nan cùng với các con và bạn bè của con. Dù cho cách nào, chúng ta hứa sẽ luôn ở bên con; mặc dù cách này thì tỏ tường và hiển hiện hơn một chút.” Mack dựa người suy nghĩ về điều đó. “Còn Missy thì sao?” anh hỏi. “Nếu con chọn ở lại,” Papa nói tiếp, “con sẽ gặp con bé trưa nay. Nó sẽ đến. Nhưng nếu con chọn rời khỏi nơi này thì con cũng sẽ chọn rời khỏi Missy.” “Thật là một sự lựa chọn không dễ dàng,” Mack thở dài. Căn phòng chìm trong yên lặng nhiều phút vì Papa dành cho Mack không gian để giằng co giữa những suy nghĩ và ước muốn. Cuối cùng, Mack hỏi: “Missy muốn gi?” “Mặc dù muốn ở bên con ngày hôm nay, con bé đang ở nơi không có sự nôn nóng. Nó chẳng ngại phải chờ đợi.” “Con muốn ở bên nó lắm.” Anh mỉm cười với ý nghĩ đó. “Nhưng điều này sẽ quá nặng nề với Nan và những đứa nhỏ khác của con. Cho con hỏi một điều. Những gì con làm ở nhà có quan trọng không? Có ý nghĩa không? Con thật sự chẳng làm gì nhiều ngoài làm việc và chăm sóc gia đình và bạn bè...” Sarayu ngắt lời anh. “Mack, nếu một điều gì đó mang ý nghĩa thì mọi điều đều có ý nghĩa. Bởi vì con quan trọng, mọi điều con làm cũng quan trọng. Mỗi lần con tha thứ, vũ trụ chuyển biến; mỗi lần con đưa tay để chạm đến một trái tim hay một cuộc sống, thế giới chuyển biến; với mỗi
sự tốt lành và phụng sự, dù nhìn thấy hay không nhìn thấy, các mục đích của ta lại được chu toàn và mọi chuyện đều thay đổi vĩnh viễn.” “Được rồi,” Mack nói dứt khoát. “Và thì con sẽ quay về. Con không tin rằng có ai đó sẽ tin câu chuyện của con, nhưng nếu con quay về con biết rằng mình có thể làm nên sự khác biệt, cho dù sự khác biệt ấy nhỏ nhoi đến dường nào. Nhưng có một vài điều con cần... con muốn làm.” Anh dừng lại rồi nhìn từng vị, rồi cười. “Các Ngài biết rồi đó...” Họ cùng cười. “Và con thật sự tin rằng các Ngài sẽ chẳng bao giờ rời khỏi con hay bỏ rơi con, cho nên con không ngại quay về. Chắc có chút chút.” Papa lên tiếng: “Đó là một sự lựa chọn rất tốt.” Ngài nhìn anh, ngồi xuống cạnh anh. Giờ thì Sarayu đứng trước mặt Mack và nói. “Mackenzie, giờ thì con sắp quay về, ta có thêm một món quà nữa để con mang theo.” “Món gì vậy?” Mack hỏi, tò mò với món mà Sarayu sẽ ban tặng. “Món đó dành cho Kate,” Ngài nói. “Kate?” Mack thốt lên, nhận ra mình vẫn nặng trĩu trong lòng đối với cô bé. “Làm ơn, nói cho con nghe đi.” “Kate tin rằng nó có lỗi với cái chết của Missy.” Mack sững sờ. Điều Sarayu nói với anh quá hiển nhiên. Kate tự trách mình là hết sức hợp lý. Cô bé đã châm ngòi cho chuỗi sự kiện dẫn đến việc Missy bị bắt cóc. Anh không tin được rằng ý nghĩ ấy chưa bao giờ đến trong tâm trí anh. Trong một khoảnh khắc, lời của Sarayu mở ra một tia sáng cho cuộc chiến của Kate. “Tạ ơn Ngài muôn vàn!” anh nói với Ngài, tim anh tràn đầy tri ân. Giờ thì chắc chắn anh phải trở về rồi, cho dù chỉ vì Kate. Ngài gật đầu và mỉm cười rồi như ngồi xuống. Cuối cùng, Jesus đứng dậy và với tay lên kệ để lấy xuống chiếc hộp thiếc nhỏ của Mack. “Mack, ta nghĩ là con cần thứ này...”
Mack nhận từ tay Jesus rồi giữ một lúc. “Thật ra, con không nghĩ là con sẽ cần đến thứ này nữa,” anh nói. “Ngài cất giùm con được không? Tất cả báu vật của con giờ đây đã được cất trong Ngài rồi còn gì. Con muốn Ngài là cuộc sống của con.” “Ta đang là,” giọng sang sảng đầy quả quyết vang lên. *** Không chút hình thức, không chút nghi lễ, họ thưởng thức bánh mì nóng và chia nhau rượu rồi cười vang về những khoảnh khắc lạ thường của kỳ cuối tuần. Anh biết câu chuyện đã kết thúc, đã đến giờ anh trở về và hình dung làm thế nào để kể lại với Nan mọi chuyện. Anh chẳng có hành lý gì để đóng gói. Một vài món đồ đạc xuất hiện trong phòng anh đã biến mất, chắc là nằm trong xe của anh. Anh thay bộ đồ dã ngoại để mặc bộ đồ khi anh đến, đã được giặt sạch và gấp gọn gàng. Khi thay quần áo xong anh với lấy áo khoác từ chiếc móc trên tường, rồi nhìn căn phòng của mình một lần cuối trong khi bước ra. “Chúa, kẻ tôi tớ,” anh bật cười nhưng rồi lại cảm thấy ứa nước mắt trong lúc ý nghĩ ấy làm anh khựng lại. “Chúa đích thật hơn hết, tôi tớ của con.” Khi Mack trở lại phòng khách, ba đấng đã không còn. Một tách cà phê bốc khói chờ đợi anh cạnh lò sưởi. Anh chưa có dịp nói lời tạ từ, nhưng anh chợt nghĩ lại, từ biệt Chúa nghe hơi ngớ ngẩn. Điều đó làm anh mỉm cười. Anh ngồi xuống sàn nhà xoay lưng về lò sưởi và nhấp một ngụm cà phê. Thật tuyệt diệu, anh cảm nhận được cái nóng của nó di chuyển xuống lồng ngực. Đột nhiên, anh thấy kiệt sức, vô vàn cảm xúc lại trỗi dậy. Như thế có một quyền lực riêng, đôi mắt của anh nhắm lại và Mack nhẹ nhàng, êm ả trôi tuột vào một giấc ngủ thư thái. Cảm giác tiếp theo của anh là lạnh lẽo, những ngón tay băng giá như đã thò xuyên qua áo quần của anh để làm tê cóng làn da anh. Anh choàng thức tỉnh và lồm cồm đứng dậy, cơ bắp ê ẩm và cứng đờ vì nằm trên sàn nhà. Nhìn quanh anh thấy ngay mọi thứ đã trở lại hệt như hai ngày trước, thậm chí cả vết máu gần lò sưởi nơi anh đã nằm ngủ.
Anh chạy bổ đến khung cửa tiều tụy để ra ngoài hàng hiên ọp ẹp. Căn chòi một lần nữa hiện diện cũ kỹ và xấu xí, cửa ra vào và cửa sổ han gỉ và hư hỏng. Mùa đông bao phủ khu rừng và con đường mòn dẫn đến chiếc Jeep của Willie. Hồ nước chỉ nhìn thấy thấp thoáng qua những tán cây thạch nam và cam tùng xung quanh nhà. Hầu hết cầu tàu đã chìm trong nước, chỉ còn vài cột gỗ lớn cùng một số bộ phận đính kèm vẫn còn trụ lại. Cảm giác giống như anh đã trở lại thế giới phi thực tế thì đúng hơn. Anh khoác áo lạnh rồi lần đường trở lại chiếc xe theo dấu chân của mình, vẫn còn nhìn thấy trong tuyết. Khi Mack đến chỗ chiếc xe, một đợt tuyết mới tinh khiết bắt đầu nhẹ rơi. Cuộc hành trình trở về Joseph diễn ra êm đềm và anh đến nơi trong màn đêm đông. Anh đổ đầy xăng, ăn tạm một chút thức ăn và cố gắng gọi cho Nan nhưng không được. Có lẽ nàng đang trên đường, anh tự nhủ, và sóng điện thoại khó lòng phủ được. Mack quyết định lái đến đồn cảnh sát để xem có Tom không, nhưng sau khi lượn vòng chầm chậm không thấy hoạt động gì bên trong, anh quyết định không vào. Làm sao anh có thể giải thích được chuyện đã xảy ra cho Nan nghe, nói gì đến Tommy? Đến giao lộ kế tiếp thì đèn đỏ bật lên và anh dừng lại. Anh mệt mỏi, nhưng thanh thản và hân hoan lạ thường. Anh không nghĩ mình sẽ dễ dàng tỉnh táo trên chặng đường dài về nhà. Anh nóng lòng về nhà với gia đình, nhất là với Kate. Chìm đắm trong suy tư, Mack cứ thế lướt qua giao lộ khi đèn bật xanh. Anh thậm chí chẳng nhìn thấy một tài xế khác vượt đèn đỏ phía bên kia. Chỉ có một ánh chớp sáng lòe rồi không còn gì, ngoại trừ sự yên lặng và bóng tối đen như mực. Trong nháy mắt, chiếc Jeep đỏ của Willie tan nát, vài phút sau Cứu hộ và cảnh sát đến, và trong vài giờ sau thân thể thương tích và bất tỉnh của Mack được hàng không hứu hộ chuyển đến bệnh viện Emmanuel tại Portland, Oregon.
• 18 • NHỮNG VỆT SÓNG LAN XA Niềm tin chẳng hề biết đang được dẫn dắt về đâu, Nhưng nó vâng biết và mến yêu Đấng đưa lối. — Oswald Chamber Và sau hết, như vang vọng từ một nơi xa xăm, anh nghe một giọng nói quen thuộc reo vui: “Bố siết ngón tay con! Con cảm thấy rồi! Thật mà!” Anh thậm chí không hé nổi mắt để nhìn nhưng anh biết Josh đang nắm tay mình. Anh cố gắng siết một lần nữa, nhưng bóng tối bao phủ anh rồi anh lịm đi. Mất trọn một ngày nữa Mack mới tỉnh trở lại. Anh hầu như chẳng cử động nổi một cơ bắp nào khác trên người. Thậm chí cố gắng hé một mi mắt cũng dường như quá sức, mặc dù hành động ấy sẽ được tưởng thưởng bởi những tiếng reo vang, hò hét và tươi cười. Lần lượt từng người một, dòng người nối nhau tiến đến nhìn vào một mắt he hé của anh, như thể đang nhìn vào một cái hố đen sâu thẳm chứa đựng một báu vật kỳ diệu nào đó. Bất kể nhìn thấy điều gì họ đều vui mừng tột cùng và đi truyền tin cho mọi người. Một số gương mặt thì anh nhận ra; còn những gương mặt anh không nhận ra thì Mack cũng sớm được biết, ấy là gương mặt của các bác sĩ và y tá. Anh ngủ thường xuyên, nhưng dường như mỗi lúc mở mắt anh lại gây ra không ít niềm vui. “Cứ chờ đến khi ta mở miệng được nhé,” anh nghĩ bụng. “Tha hồ mà cho họ biết.” Mọi thứ dường như đều đau. Giờ đây anh nhận biết một cách đau đớn khi một y tá xê dịch cơ thể anh ngoài ý muốn trong lúc điều trị và để giúp anh chống lại vết loét do nằm bệnh. Rõ ràng đó là biện pháp chữa trị thông thường cho những người bị hôn mê một, vài ngày trở lên, nhưng biết vậy cũng chẳng làm cho mọi chuyện dễ chịu hơn. Thoạt đầu, Mack chẳng có khái niệm gì, từ việc mình đang nằm đâu cho đến cớ sự đã đưa anh đến tình cảnh này. Anh còn chẳng biết nổi mình là ai . Thuốc men chẳng giúp được, mặc dù anh biết ơn morphine đã giúp anh thoát khỏi cơn đau. Trong vòng vài ngày kế tiếp, tâm trí anh từ từ hồi phục
và anh bắt đầu cất giọng trở lại được. Dòng người thân yêu và bạn hữu cứ đều đặn đến để cầu chúc anh chóng bình phục hoặc là để lượm lặt một chút thông tin, vốn dĩ mù mịt. Josh và Kate là những đứa có mặt thường xuyên, đôi khi chúng làm bài tập trong lúc Mack ngủ, hoặc trả lời những câu hỏi của anh mà trong mấy ngày đầu anh cứ hỏi đi hỏi lại. Đến một lúc nào đó thì Mack rốt cục hiểu ra, mặc dù anh đã được cho biết rất nhiều lần, rằng anh đã bất tỉnh gần bốn ngày sau tai nạn khủng khiếp tại Joseph. Nan bộc lộ rõ rằng anh sẽ phải giải thích rất nhiều việc, nhưng hiện tại thì nàng chú tâm vào sự bình phục của anh hơn là cần nghe trả lời. Điều đó cũng không có ý nghĩa. Ký ức của anh là một màn sương và mặc dù nhớ được từng mảnh với từng hạt, anh vẫn không thể ráp chúng lại thành một tổng thể mang ý nghĩa. Anh lờ mờ nhớ lại chuyến đi đến căn chòi, nhưng từ đó trở đi mọi việc bỗng nhòe nhoẹt. Trong những giấc mơ của anh, hình ảnh Papa, Jesus, Missy chơi bên bờ hồ, Sophia trong hang động, và ánh sáng cùng màu sắc của cuộc vui trên cánh đồng hiện ra trở lại với anh như những mảnh của một chiếc gương vỡ. Mỗi mảnh đều gắn với niềm khoái cảm và hân hoan nhưng anh không chắc có phải chúng là thật hay là ảo giác tạo nên bởi sự va chạm của những nơron thần kinh bị hư hại hay bất thường với tân dược đang ngấm trong huyết quản của anh. Trưa ngày thứ ba từ lúc anh tỉnh lại, anh thức dậy và nhìn thấy Willie đang nhìn mình, nhìn anh khá cau có. “Ngu ngốc quá!” giọng Willie cộc lốc. “Mừng được gặp lại anh, Willie,” Mack ngáp. “Anh học lái xe ở đâu vậy,” Willie xỉ vả. “Ôi chao, tôi nhớ mà, trai làng đâu có quen ngã tư. Mack, theo những gì tôi nghe thấy thì lẽ ra anh phải thấy gã đó từ cách xa một dặm đường.” Mack nằm đó, nhìn bạn mình nói huyên thuyên, cố lắng nghe để hiểu từng từ nhưng không thành. Willie nói tiếp, “Còn bây giờ thì Nan đang điên tiết lắm và không thèm nói chuyện với tôi. Bà ấy trách tôi đã cho anh mượn chiếc Jeep và để anh đi đến căn chòi.”
“Thế tại sao tôi lại đi đến căn chòi?” Mack hỏi, vật vã để nhặt nhạnh những ý nghĩ. “Mọi thứ đều hư ảo.” Willie rên rỉ trong tuyệt vọng. “Anh phải nói với bà ấy là tôi đã cố ngăn anh chuyện đó.” “Anh có ngăn không?” “Đừng có nói vậy với tôi, Mack. Tôi đã cố bảo anh...” Mack mỉm cười trong khi lắng nghe Willie rủa xả. Nếu anh có được một vài ký ức khác, anh đã nhớ người đàn ông này quan tâm đến mình và việc có anh ấy bên cạnh đã làm anh mỉm cười. Mack đột nhiên giật mình nhận ra Willie đang cúi xuống gần sát mặt mình. “Nói nghiêm túc nhé, có Ngài ở đó không?” anh thì thào, rồi đảo mắt nhìn quanh để đoan chắc không có ai nghe thấy. “Ai?” Mack thì thào. “Tại sao tụi mình lại nói thầm vậy?” “Anh biết mà, Chúa đó?” Willie nhấn giọng. “Ngài có ở chỗ căn chòi không?” Mack ngạc nhiên. “Willie,” anh thì thầm, “có gì bí mật đâu. Chúa ở mọi nơi. Thì tôi đến chỗ căn chòi mà.” “Tôi biết rồi, ngớ ngẩn quá,” anh át lời. “Anh không nhớ gì hết à? Anh không nhớ cả bức thư à? Bức thư anh nhận được từ Papa gửi vào thùng thư lúc anh bị trượt chân trên băng rồi ngã lăn ra đó.” Đó chính là lúc cái chốt được bật lên và câu chuyện rời rạc bắt đầu kết tinh trong tâm trí Mack. Mọi thứ đột nhiên sáng tỏ khi trí não anh bắt đầu kết nối các điểm rời rạc và điền vào các chi tiết - bức thư, chiếc xe Jeep, chuyến đi đến căn chòi, và từng góc độ của kỳ cuối tuần rực rỡ. Hình ảnh và ký ức bắt đầu tràn về dữ dội đến mức anh cảm thấy như chúng sẽ nhấc bổng anh lên và cuốn phăng anh ra khỏi chiếc giường và ra khỏi cả thế giới này. Và trong khi hồi tưởng lại anh bắt đầu khóc, cho đến khi nước mắt lăn trên gò má. “Mack, tôi xin lỗi nhé.” Willie giờ đây bắt đầu khẩn khoản và hối lỗi. “Tôi đã nói gì nhỉ?”
Mack với tay để chạm lên gương mặt của người bạn. “Không có gì đâu, Willie... Giờ thì tôi nhớ hết mọi chuyện rồi. Bức thư, căn chòi, Missy, Papa. Tôi nhớ hết mọi thứ.” Willie bất động, chẳng biết nghĩ gì hay nói gì. Anh lo rằng mình đã đẩy người bạn đến bờ vực khi nghe anh ta lắp bắp về căn chòi, Papa và Missy. Cuối cùng anh hỏi: “Nào, anh định nói với tôi là Ngài ở đó? Có Chúa phải không?” Giờ thì Mack vừa khóc vừa cười. “Willie, Ngài ở đó! Ồ, Ngài đã ở đó! Cứ chờ tôi kể cho mà nghe. Anh sẽ chẳng bao giờ tin đâu. Trời ơi, tôi còn chẳng tin nổi.” Mack dừng lại, trong phút chốc anh lạc lối trong mớ ký ức. “Ồ, đúng rồi,” rốt cục anh lên tiếng. “Ngài bảo tôi nói với anh một chuyện.” “Cái gì? Tôi?” Mack quan sát nét quan tâm và ngờ vực thay nhau ẩn hiện trên gương mặt Willie. “Vậy Ngài nói gì?” Anh lại chồm tới một lần nữa. Mack dừng lại để quan sát gương mặt và quai hàm của người bạn căng cứng và nước long lanh trong mắt anh. Đôi môi và cằm của anh run run, và Mack biết bạn của mình đang chống chọi dữ dội để kiềm chế. “Tôi phải đi đây,” anh thì thào bằng giọng khàn khàn. “Anh sẽ phải nói cho tôi biết sau.” Nói đến đó Willie xoay người đi ra khỏi phòng, bỏ lại Mack nằm hoang mang và hồi tưởng. Khi Nan vào tiếp sau đó, nàng thấy Mack đang ngồi dựa trên giường và cười toe toét. Anh chẳng biết bắt đầu từ đâu, nên anh để nàng nói trước. Nàng nói cho anh biết một số chi tiết mà anh vẫn còn mù mờ; vui mừng vì rốt cục anh vẫn nhớ được thông tin. Anh đã suýt chết bởi một người lái xe say rượu và phải trải qua phẫu thuật khẩn cấp để chữa nhiều xương bị gãy và nội thương. Mọi người đã rất lo lắng anh có nguy cơ rơi vào một cơn hôn mê lâu dài, nhưng cuộc hồi tỉnh của anh đã giải tỏa mọi lo âu. Trong khi nàng nói, Mack nghĩ rằng quả thật là kỳ lạ khi anh gặp tai nạn ngay sau khi dành trọn một kỳ cuối tuần với Chúa. Sự hỗn độn dường như ngẫu nhiên của cuộc sống, có phải đó là cách xếp đặt của Papa? Rồi anh nghe Nan nói rằng tai nạn đã xảy ra vào đêm thứ sáu. “Không phải là Chúa nhật sao?” anh gạn hỏi.
“Chúa nhật? Anh nghĩ em không biết ngày giờ gì cả à? Đêm thứ sáu họ đã đưa anh đi máy bay về đây.” Lời của nàng làm anh bối rối và trong giây lát anh thắc mắc liệu những sự việc diễn ra tại căn chòi có phải là một giấc mơ hay không. Có lẽ đó là một trong những cách biến hóa thời gian của Sarayu, anh tự trấn an mình. Khi Nan kể xong những diễn biến về phía mình, Mack bắt đầu kể cho ngàng nghe tất cả những gì đã xảy đến với anh. Nhưng trước tiên anh đã xin nàng tha thứ, thú nhận bằng cách nào và vì sao anh đã dối nàng. Điều này làm Nan ngạc nhiên, và nàng cho rằng sự thành tâm mới mẻ của anh chắc là do chấn thương và morphine. Trọn vẹn câu chuyện về kỳ cuối tuần của anh, hay là ngày cuối tuần như Nan vẫn nhắc lại với anh, từ từ mở ra, qua nhiều đợt kể chuyện. Đôi khi thuốc tác động mạnh làm anh thiếp vào giấc ngủ không mộng mị, thỉng thoảng ngay giữa một câu nói. Ban đầu, Nan cố chú tâm vào việc phải kiên nhẫn và chăm chú, cố gắng tối đa để tránh phán xét nhưng cũng chẳng xem những lời kể say sưa của anh là nghiêm túc mà chỉ là tàn dư của thương tổn thần kinh. Nhưng sự sống động và sâu sắc trong hồi ức của anh làm nàng cảm động và dần dần bào mòn quyết tâm của nàng đóng vai một kẻ khách quan. Có đời sống trong những gì anh đang kể với nàng và nàng nhanh chóng hiểu rằng chuyện gì đã xảy ra ấy đã tác động lớn lao và làm thay đổi chồng của mình. Sự hoài nghi của nàng bị bào mòn đến mức nàng đồng ý tìm cách để nàng và Mack có thời gian riêng với Kate. Mack không nói lý do và điều đó làm nàng nôn nóng, nhưng nàng sẵn lòng tin cậy anh về việc này. Josh được nhờ đi lo việc vặt, chỉ còn lại ba người trong gia đình. Mack chìa tay ra và Kate nắm lấy. “Kate,” anh bắt đầu bằng giọng vẫn còn yếu và khó khăn, “bố muốn con biết rằng bố yêu con với trọn tình thương yêu.” “Con cũng yêu bố mà, Bố.” Nhìn bố như thế này cô bé rõ ràng đã hơi mềm lòng. Anh mỉm cười và lại trở nên nghiêm trang, vẫn nắm tay con. “Bố muốn nói với con về chuyện Missy.”
Kate giật ngược như bị ong chích, mặt con bé tối sầm. Theo bản năng nó cố rút tay lại nhưng Mack đã giữ chặt, một việc khiến anh phải cố sức khá nhiều. Con bé nhìn quanh. Nan tiến đến và đặt tay lên vai nó. Kate đang run rẩy. “Tại sao?” nó chất vấn bằng giọng thì thào. “Katie, đó không phải là lỗi của con.” Giờ thì nó ngập ngừng, cứ như thể bị bắt quả tang về một điều bí mật. “Cái gì không phải lỗi của con?” Một lần nữa, phải cố gắng để thốt nên lời nhưng con bé nghe rõ ràng. “Việc mình đã mất Missy.” Nước mắt chảy trên má anh trong lúc anh cố gắng với những từ đơn sơ ấy. Một lần nữa con bé co lại, ngoảnh đi. “Con ơi, chẳng ai trách con về chuyện đã xảy ra.” Con bé chỉ im lặng được vài giây thì sự kiềm chế bùng vỡ. “Nhưng nếu con không bất cẩn trên xuồng thì bố đã không phải...” Giọng nó đầy sự căm ghét bản thân. Mack ngắt lời bằng một bàn tay đặt lên cánh tay nó. “Đó là điều bố đang cố nói với con, con à. Không phải lỗi của con.” Kate thổn thức trong lúc những lời của bố thấm vào trái tim điêu linh của nó. “Nhưng lúc nào con cũng nghĩ rằng đó là lỗi của con. Và con nghĩ rằng bố mẹ trách con, và con không định...” “Không ai trong chúng ta muốn xảy ra chuyện này, Kate. Chuyện cứ xảy đến thôi, và chúng ta học hỏi cuộc đời bằng cách đi qua nó. Nhưng chúng ta sẽ học cùng nhau, được không? Kate không biết trả lời như thế nào. Quá sức chịu đựng, cô bé vùng ra khỏi tay cha và lao ra khỏi phòng trong tiếng thổn thức. Má hoen nước mắt, Nan trao cho Mack một cái nhìn vô vọng nhưng khích lệ và cũng nhanh chân theo sau con gái. Lần kế tiếp Mack thức dậy, Kate đang nằm ngủ cạnh anh trên giường, rúc vào người và bình an. Rõ ràng Nan đã giúp được Kate vượt qua phần nào nỗi đau. Khi thấy anh mở mắt, Nan đã nhẹ nhàng tiến đến để không đánh thức con gái và hôn anh. “Em tin anh,” nàng thì thầm, và anh gật đầu
rồi mỉm cười, ngạc nhiên bởi tầm quan trọng anh muốn nghe câu đó. Chắc là thuốc men đã khiến anh trở nên đầy xúc cảm như vậy, anh nghĩ bụng. *** Mack hồi phục nhanh chóng trong vài tuần sau đó. Chưa đầy một tháng sau thì anh được xuất viện, anh và Nan đã gọi viên phó cảnh sát trưởng mới được bổ nhiệm của Joseph, Tommy Dalton, để nói chuyện về khả năng đi vào khu vực xa hơn căn chòi. Bởi vì mọi thứ tại căn chòi đã trở lại tình trạng hoang vu ban đầu, Mack bắt đầu thắc mắc không biết liệu thi thể của Missy có còn trong hang không. Sẽ phải nghĩ cách để giải thích với giới chức làm thế nào anh biết được chỗ giấu thi thể con gái mình, nhưng Mack tin rằng một người bạn sẽ tin tưởng mình cho dù chuyện gì đã xảy ra. Tommy quả thật tử tế. Thậm chí sau khi nghe câu chuyện về kỳ cuối tuần của Mack mà anh cho rằng là những giấc mơ và những cơn ác mộng của một người cha vẫn còn đau khổ, đã đồng ý đi trở lại đến chỗ căn chòi. Dù gì anh cũng muốn gặp Mack. Đồ đạc cá nhân đã được thu giữ từ chiếc xe Jeep đổ nát của Willie, và trả lại đồ đạc cho khổ chủ là một cái cớ hay để gặp nhau. Thế là vào một sáng thứ bảy trong lành, khô ráo đầu tháng mười một, Willie đã lái xe đưa Mack và Nan đến Joseph trong chiếc SUV mới mua lại để gặp Tommy và cả bốn người cùng đi đến khu bảo tồn. Tommy ngạc nhiên quan sát Mack đi bộ quá khỏi căn chòi lên đến chỗ cái cây gần đầu một con đường mòn. Giống như đã giải thích với họ trên đường đi, Mack phát hiện và chỉ vào một dấu vòng cung màu đỏ ở gốc cây. Bước vẫn còn hơi yếu, anh dẫn dắt họ đi bộ hai giờ đồng hồ vào trong vùng hoang vu. Nan chẳng nói một lời, nhưng gương mặt nàng lộ rõ sự căng thẳng của những cảm xúc nàng chống chọi qua mỗi bước chân. Dọc đường đi họ tiếp tục tìm thấy cũng dấu vòng cung màu đỏ ấy khắc vào thân cây và lên trên các tảng đá. Đến lúc đặt chân vào bãi đá cuội rộng lớn, Tommy đã trở nên bị thuyết phục, có lẽ chẳng phải bởi sự khả tín trong câu chuyện ngông cuồng của Mack, mà bởi chắc chắn họ đang đi theo một con đường mòn được đánh dấu cẩn thận - một con đường có lẽ đã được để lại bởi kẻ sát hại Missy. Không chút ngập ngừng Mack chuyển hướng tiến thẳng vào bãi đá và vách núi. ẳ
Nếu không nhờ Papa thì có khi họ chẳng bao giờ tìm được chính xác điểm đó. Đặt trên một chồng đá trước cửa hang là viên đá có dấu hiệu màu đỏ hướng ra ngoài. Nhận thức được việc Papa đã làm khiến Mack suýt phá lên cười. Nhưng họ đã tìm thấy, và khi đã hoàn toàn tin tưởng vào thứ mà họ sắp khai quật thì Tommy bảo họ ngừng tay. Mack hiểu tại sao hành vi đó quan trọng và mặc dù hơi chút miễn cưỡng, anh cũng đồng ý nên đậy lại hang để bảo vệ. Họ sẽ quay về Joseph để Tommy thông báo với các chuyên gia hình sự và giới chức hành pháp hữu trách. Trên đường về, Tommy một lần nữa lắng nghe câu chuyện của Mack, lần này với một sự cởi mở mới mẻ. Anh cũng tranh thủ cơ hội này để hướng dẫn cho bạn mình những phương cách tốt nhất để đối phó với quá trình thẩm vấn sắp tới. Mặc dù chứng cứ ngoại phạm của Mack là hoàn hảo, vẫn sẽ còn những câu hỏi hệ trọng. Ngày hôm sau các chuyên gia tụ đến đông như ruồi, thu hồi thi thể của Missy và lưu giữ tấm vải cùng với bất kỳ thứ gì họ tìm thấy. Chỉ mất vài tuần sau đó để họ lượm lặt đủ chứng cứ rồi truy tìm và bắt giữ Tên Sát Gái. Nắm được dấu vết tên này lưu lại cho chính hắn để tìm ra hang động của Missy, giới chức đã tìm được và thu hồi được xác của các bé gái khác mà hắn đã sát hại.
LỜI SAU CÙNG Thế là bạn đọc đã biết câu chuyện - ít nhất cũng như những gì tôi đã được kể. Tôi biết chắc sẽ có một số người thắc mắc liệu mọi chuyện có thật sự xảy ra như Mack hồi tưởng hay không, hay là vụ tai nạn và thuốc morphine đã làm cho anh hơi quẫn trí. Về