Nơi Trái Tim Hội Ngộ

phần dưới váy của Ngài và đôi bàn chân trần của Ngài

phần dưới váy của Ngài và đôi bàn chân trần của Ngài

phần dưới váy của Ngài và đôi bàn chân trần của Ngài nhớp nháp dính đầy thứ đó. Cả ba người đang cười rũ rượi đến độ Mack không hình dung được là họ có thể thở. Sarayu nói gì đó về con người vốn vụng về rồi cả ba lại cười rú lên tiếp. Cuối cùng, Jesus đi lướt qua Mack và một phút sau quay lại với một chậu nước lớn cùng khăn. Sarayu bắt đầu chùi bột trên sàn nhà và tủ chén, còn Jesus đến quỳ xuống chân Papa, bắt đầu lau đằng trước áo cho Ngài. Vị này lau xuống bàn chân và nhẹ nhàng nhấc từng bàn chân lên, nhúng vào chậu nước để lau và xoa bóp. “Ồ, thật tuyệt quá!” Papa thốt lên, trong khi vẫn tiếp tục làm việc trên quầy bếp. Trong khi chồm người qua khung cửa để theo dõi, tâm trí Mack đầy ắp những ý nghĩ. Đây là Thiên Chúa trong tương quan? Thật đẹp đẽ và cuốn hút. Anh biết rằng lỗi của ai không quan trọng - bột đã văng từ một cái thố

bị vỡ, một món ăn trong dự định sẽ không có nữa. Rõ ràng, điều thật sự quan trọng ở đây là tình yêu họ dành cho nhau và sự đằm thắm từ đó. Anh lắc đầu. Thật là khác biệt giữa cách này với cách anh vẫn đối xử với những người thân yêu! Bữa ăn tối đơn giản nhưng chính là một bữa tiệc. Chim rán với nước sốt giống màu sốt cam, sốt xoài. Rau tươi trộn theo kiểu gì đó mà chỉ có Chúa biết, tất cả đều ngọt ngào, nồng gừng, thơm lừng và cay ấm. Riêng món cơm cũng đã làm một bữa ăn rồi, bởi một hương vị của gạo mà Mack chưa bao giờ được nếm. Điều duy nhất gây bối rối là vào đầu bữa Mack theo thói quen cúi đầu xuống trước khi nhớ ra mình đang ở đâu. Anh ngước lên và thấy ba người đều đang cười với mình. Cố gắng bình thản hết mức, anh cất lời: “Ừm, xin tạ ơn tất cả... con có thể dùng cơm đằng kia không?” “Được chứ. Đúng ra chúng ta sẽ có món sốt Nhật ly kì, nhưng bàn tay hậu đậu kia,” Papa hất hàm về phía Jesus, “đã định đoạt cho nó xuống đất.” “Thôi nào,” Jesus đáp lại bằng giọng chế nhạo. “Tay trơn như thế. Biết làm sao được?” Papa nháy mắt với Mack khi đưa cơm cho anh. “Ở đây mọi chuyện không được khéo léo lắm đâu nhé.” Mọi người đều bật cười. Cuộc đối thoại diễn ra gần như bình thường. Mack được hỏi han về từng đứa con, ngoại trừ Missy, và anh kể về những cuộc phấn đấu và thành tích của chúng. Khi anh nói về mối lo đối với Kate, cả ba vị chỉ gật đầu với nét mặt quan tâm nhưng không cho anh lời khuyên hay răn dạy gì. Anh cũng trả lời các câu hỏi về bạn bè mình, và Sarayu dường như quan tâm nhất trong việc hỏi han về Nan. Cuối cùng, Mack thốt ra một điều mà anh đeo đuổi suốt cuộc nói chuyện. “Con đang ngồi đây kể cho các Ngài nghe về con cái, bạn bè và Nan, nhưng các Ngài đã biết hết mọi điều con đang kể rồi còn gì? Các Ngài làm như thể lần đầu được nghe.” Sarayu với qua bàn để nắm tay anh: “Mackenzie, còn nhớ cuộc trò chuyện trước đây của chúng ta về giới hạn không?”

“Cuộc trò chuyện của chúng ta?” Anh liếc nhìn Papa đang gật đầu hiểu ý. “Con không thể chia sẻ với một người mà không chia sẻ với tất cả chúng ta,” Sarayu nói và cười. “Hãy nhớ rằng sự lựa chọn ở lại trên mặt đất là một sự lựa chọn để vun đắp cho mối quan hệ; để trân quý nó. Mackenzie, chính con đã làm điều này. Con chơi đùa hay tô màu với một đứa bé không phải để chứng tỏ mình siêu đẳng. Mà con chọn cách giới hạn chính mình để vun đắp và trân quý mối quan hệ đó. Thậm chí, con sẽ thua thiệt trong một cuộc tranh đua để có được tình yêu. Đó không phải là chuyện thắng hay thua, mà là tình yêu và sự trân trọng.” “Vậy khi con kể chuyện về con cái mình thì sao?” “Chúng ta đã tự giới hạn chính mình vì trân trọng con. Chúng ta không khơi lên trong tâm trí những gì đã biết về con cái của con. Khi lắng nghe con, chúng ta xem đó như thể lần đầu được biết về chúng nó, và chúng ta hân hoan nhìn thấy chúng trong mắt con.” “Con thích điều đó,” Mack đáp lại, dựa người vào ghế. Sarayu siết bàn tay anh và hình như cũng ngả người ra. “Ta cũng thích! Các mối quan hệ không bao giờ là vấn đề quyền lực, và một cách để tránh né ý chí quyền lực là lựa chọn giới hạn chính mình - để phụng vụ . Con người thường làm cách này - âu yếm người đau ốm, phục vụ những người mà trí năng đã phiêu bạt, liên hệ với người nghèo khó, thương yêu bậc lớn tuổi và nhi đồng, hay thậm chí quan tâm đến những người đã giành lấy một vị thế quyền lực đối với họ.” “Phát biểu hay đấy Sarayu,” Papa cất lời, gương mặt Ngài ngời lên. “Ta sẽ lo chén đĩa sau. Nhưng trước tiên, ta muốn có thời gian để đọc kinh.” Mack buộc phải nén tiếng cười khi nghĩ đến Chúa đọc kinh. Hình ảnh những buổi đọc kinh trong gia đình mình thời niên thiếu ào về trong tâm trí, không hẳn là những hồi ức tươi đẹp. Thường đó là những buổi buồn tẻ và chán chường để nghĩ ra những câu trả lời đúng, hay đúng hơn là những câu trả lời quen thuộc cho mấy câu hỏi cũ về truyện Kinh Thánh, rồi sau đó cố mà thức tỉnh trong thời gian bố anh cầu nguyện dài lê thê. Rồi những khi bố anh đã nốc rượu trước đó, những buổi cầu kinh trong gia

đình sẽ biến thành một cuộc khủng hoảng ghê rợn, khi bất kỳ câu trả lời sai nào, hay một ánh mắt nhìn vô ý nào cũng có thể châm ngòi cho một cơn bùng nổ. Anh đoán chừng Jesus sẽ rút ra một cuốn Thánh kinh của King James. Nhưng không, Jesus với sang phía đối diện nắm lấy tay Papa mà các vết sẹo giờ đây trông thấy rõ mồn một. Mack ngồi lặng khi ngắm nhìn Jesus hôn tay cha mình và rồi nhìn sâu vào mắt cha mà nói: “Cha, con vui sướng được ngắm nhìn cha hôm nay, khi cha dọn mình trọn vẹn để đón lấy nỗi đau của Mack vào trong, rồi cho anh ấy một không gian để chọn lựa thời điểm cho bản thân. Cha trân trọng anh ấy, và cha trân trọng con. Được lắng nghe cha thì thầm tình yêu và an lành vào trong tim anh ấy thật là tuyệt vời. Thật là một niềm hoan lạc cho ta chứng kiến! Con vui sướng được làm con của Cha.” Mặc dù Mack cảm thấy mình hiện diện như một sự quấy rầy, dường như chẳng ai bận tâm và anh thật sự cũng chẳng biết phải biến đi đâu nữa. Hiện diện trước một tình yêu được bày tỏ như thế dường như giúp trút bỏ một bế tắc cảm xúc trong lòng, và mặc dù không hiểu rõ ràng cảm xúc của mình - anh thấy thật tuyệt vời. Anh đang chứng kiến điều gì? Một điều gì đó giản dị, nồng ấm, thân thương, chân thật; thật thánh khiết . Thánh tính lúc nào cũng là một khái niệm lạnh lùng và cằn cỗi đối với Mack, nhưng cảm giác này thì không. Lo ngại bất kỳ động thái nào của mình cũng có thể làm tan đi khoảnh khắc ấy, anh bèn nhắm mắt lại và khoanh tay trước ngực. Lắng nghe chăm chú với đôi mắt khép, anh nghe thấy Jesus di chuyển chiếc ghế. Có một khoảng lặng trước khi người lại lên tiếng. “Sarayu,” Jesus cất lời êm ái và dịu dàng, “Ngài rửa chén, ta lau khô.” Mắt Mack bật mở vừa lúc nhìn thấy hai người đang cười toe với nhau, thu dọn chén đĩa rồi biến mất vào bếp. Anh ngồi đó vài phút, không biết phải làm gì. Papa đã đi đâu đó còn hai vị kia thì đang bận rộn với chén đĩa... một quyết định đơn giản thôi. Anh cầm bộ đồ ăn bằng bạc cùng ly tách rồi đi vào bếp. Khi anh vừa đặt chúng xuống cho Sarayu rửa, Jesus quẳng cho anh một chiếc khăn lông lau chén đĩa rồi họ cùng nhau lau khô. Sarayu bắt đầu ngâm nga một giai điệu mà anh đã nghe trước đó với Papa, Jesus cùng Mack lắng nghe trong khi làm việc. Đôi lần giai điệu ấy khuấy động tâm can Mack, gõ lại vào cánh cửa ấy. Với anh, âm thanh nghe

như dân ca Gaelic, và anh gần như nghe thấy cả tiếng kèn gió phụ họa. Nhưng thật khó cho Mack trấn tĩnh để những cảm xúc trào dâng vũ bão, giai điệu ấy đã hút lấy anh một cách tuyệt đối. Nếu như lắng nghe được mãi âm thanh ấy, anh đủ hân hoan để rửa chén đến trọn đời. Chừng mười phút sau công việc kết thúc. Jesus hôn lên má Sarayu và vị này biến mất sau khúc quanh. Người quay lại cười với Mack. “Chúng ta ra ngoài hiên ngắm sao nhé.” “Còn các vị kia thì sao?” Mack hỏi. “Ta đây,” Jesus đáp. “Ta luôn luôn hiện diện.” Mack gật đầu. Vấn đề về sự hiện hữu của Chúa, mặc dù khó lĩnh hội, dường như dần dà đã thâm nhập được vào trí não và tâm hồn anh. Anh chấp nhận sự thể. “Nào,” Jesus cất lời, ngắt ngang những ý nghĩ của Mack. “Ta biết con thích ngắm sao! Muốn ngắm không?” Giọng Ngài hệt như một đứa trẻ đầy háo hức và mong chờ. “Vâng, có chứ,” Mack đáp, nhận ra lần cuối mình làm điều đó là tại khu cắm trại định mệnh với các con. Có lẽ đã đến lúc đánh liều một tí. Anh theo Jesus ra ngoài cửa sau. Trong thời khắc tàn phai của chạng vạng, Mack nhìn thấy mép đá của bờ hồ, không um tùm như anh nhớ, nhưng được chăm sóc đẹp đẽ và tỉa tót hoàn hảo. Con sông gần kề như đang ngâm nga một nhạc cụ nào đó. Nhô ra chừng năm mươi bộ trên mặt hồ là một cầu tàu, và Mack nhìn thấy lờ mờ ba chiếc xuồng buộc cách quãng nhau dọc theo đó. Đêm xuống nhanh và màn tối xa xa đã dày đặc tiếng dế và ếch nhái. Jesus khoác tay và dắt anh theo lối đi trong khi mắt anh đang thích nghi, nhưng Mack đã nhìn thấy một bầu trời không trăng với đầy sao lung linh mới mọc. Họ đi ra đến ba phần tư cầu tàu và nằm xuống ngửa mặt nhìn trời. Độ cao ở nơi này dường như khuếch đại cả khoảng trời và Mack say sưa ngắm nhìn các vì sao chi chít và rõ mồn một. Jesus gợi ý cùng nhắm mắt lại trong vài phút, để những hiệu ứng cuối cùng của hoàng hôn biến mất trong đêm. Mack làm theo và khi mở mắt ra, cảnh tượng thật dữ dội đến độ anh bị choáng ngợp trong vài giây. Cảm giác giống như anh bị tung lên không

gian, các vì sao lao đến như thể túm lấy anh. Anh nhấc tay lên và tưởng tượng mình có thể với tay nắm lấy những viên kim cương, từng viên một, từ màn đêm nhung huyền. “Ôi chao!” anh thì thầm. “Không thể tin được!” Jesus thì thầm, đầu Ngài gần đầu Mack trong bóng đêm. “Ta chưa bao giờ chán cảnh này.” “Cho dù Ngài tạo ra nó?” Mack hỏi. “Ta đã tạo ra nó từ Ngôi Lời, trước khi Ngôi Lời trở nên xác thịt. Cho nên dù ta tạo ra cảnh quan này, giờ đây ta ngắm nó như một con người. Và ta phải công nhận là thật ấn tượng!” “Đúng thế,” Mack không biết phải mô tả cảm giác của mình như thế nào, nhưng họ tiếp tục nằm trong yên lặng nhìn lên màn trời, ngắm nhìn và lắng nghe, từ cõi lòng mình anh biết tâm trạng này cũng thánh khiết. Trong khi cả hai cùng ngắm nhìn cảnh quan hết sức kỳ thú, những ngôi sao băng thi thoảng lại vụt qua một vệt trên nền trời đen khiến người này hay người kia lại thốt lên: “Thấy không? Tuyệt chưa!” Sau một đỗi im lặng thật lâu, Mack lên tiếng. “Con cảm thấy thư thái hơn khi ở bên Ngài. Ngài dường như thật khác với hai vị kia.” “Ý con là sao, khác thế nào?” từ trong bóng tối, giọng Ngài dịu dàng vang lên. “À,” Mack dừng lại để suy nghĩ. “Thật hơn, hay là hữu hình hơn. Con không biết.” Anh đánh vật với từ ngữ còn Jesus nằm yên, chờ đợi. “Giống như là con vẫn hằng quen biết Ngài. Nhưng Papa thì chẳng hề giống những gì con hình dung về Thiên Chúa, còn Sarayu, vị ấy lại còn khác xa nữa.” Jesus cười khúc khích trong bóng tối. “Vì ta là con người nên chúng ta có nhiều cái chung để nói...” “Nhưng con vẫn không hiểu...” “Ta là phương cách tốt nhất mà bất kỳ con người nào cũng có thể liên hệ đến Papa hay Sarayu. Thấy ta là thấy họ. Tình yêu con cảm nhận nơi ta chẳng khác tình cảm họ thương yêu con. Và hãy tin ta, Papa và Sarayu cũng thật như ta, mặc dù theo những cách khác xa như con đã thấy.”

“Riêng về Sarayu, Ngài có phải là Đức Thánh Linh?” “Đúng. Ngài là Đấng Tạo dựng; Ngài là Hành động; Ngài là Hơi thở Sự sống; Ngài còn là nhiều nữa. Ngài là Linh hồn của ta . “Còn tên của Ngài, Sarayu?” “Đó là một cái tên đơn giản từ một ngôn ngữ của con người. Nó có nghĩa là ‘Gió,’ là một cơn gió thật bình thường. Ngài thích cái tên đó.” “Ừm,” Mack ậm ừ. “Chẳng có điều gì là quá bình thường ở Ngài cả!” “Đúng, điều đó,” Jesus đáp. “Còn cái tên mà Papa nói đến, Elo...El...” “Elousia,” giọng nói vang lên cung kính trong bóng tối bên cạnh anh. “Đó là một cái tên tuyệt diệu. El là tên ta trong vai trò Chúa Sáng thế, còn ousia là ‘tồn tại’ hay là ‘đích thực chân chính,’ cho nên cái tên ấy nghĩa là Chúa Sáng thế đích thực chân chính và là căn cội của muôn loài. Giờ đây, đó cũng là một cái tên đẹp.” Có một phút yên lặng khi Mack suy niệm lời Jesus vừa nói. “Vậy thì, chúng con ở đâu?” Anh cảm tưởng như mình đang hỏi câu ấy thay cho cả nhân loại. “Ngay tại nơi mà các con luôn muốn hướng đến. Ngay tâm điểm của tình yêu và mục đích của Thiên Chúa.” Lại một khoảng dừng, và rồi: “Có lẽ con đã hiểu điều đó.” Jesus cười. “Ta mừng khi nghe câu đó,” rồi cả hai cùng cười. Một lúc chẳng ai nói gì. Sự tĩnh lặng trùm xuống như một cái chăn, và Mack chỉ thật sự nhận biết âm thanh của sóng nước vỗ vào cầu tàu. Chính anh là người rốt cục lại phá tan sự yên lặng. “Chúa Jesus?” “Gì, Mackenzie?” “Con ngạc nhiên một điều về Ngài.” “Thế à? Điều gì?”

“Con cứ tưởng con hình dung Ngài phải hơn nữa,” Mack cẩn thận khi nói câu này, “à... ấn tượng hơn đối với con người.” Jesus cười. “Ấn tượng hơn đối với con người? Ý con là đẹp trai hơn.” Giờ Ngài cười phá lên. “À, con cố tránh nói chuyện đó, nhưng mà đúng vậy. Không hiểu sao con cứ nghĩ Ngài là một người lý tưởng, khỏe mạnh và hết sức đẹp đẽ.” “Tại cái mũi của ta, đúng không?” Mack không biết nói gì. Jesus cười. “Ta là người Do Thái, con biết đó. Ông ngoại ta có chiếc mũi to; thật ra thì hầu hết đàn ông bên họ mẹ ta đều có mũi to.” “Con cứ tưởng Ngài đẹp trai hơn.” “Theo chuẩn mực của ai đây? Dù sao thì khi con thật sự biết ta, điều đó sẽ không còn ý nghĩa nữa.” Ngôn từ, dù được biểu lộ ân cần, vẫn ray rứt. Chính xác là ray rứt điều gì? Mack nằm yên giây lát và nhận ra rằng mình tưởng mình biết Jesus rất nhiều nhưng có lẽ thật sự... chẳng biết gì cả. Có lẽ mình chỉ biết một biểu tượng, một mẫu hình lý tưởng, một hình ảnh mà qua đó mình cố nắm bắt một ý thức về tâm linh, chứ không phải một con người thật sự. “Tại sao vậy?” cuối cùng anh hỏi. “Ngài nói khi con thật sự biết Ngài thì diện mạo không còn ý nghĩa nữa...” “Thật ra rất đơn giản. Sự hiện hữu luôn luôn thay đổi diện mạo - một thứ hình thức mà thôi. Một khi con bắt đầu biết đến bản thể đằng sau gương mặt rất xinh đẹp hay rất xấu xí ấy, được xác định bởi thiên kiến của con, diện mạo bề ngoài sẽ lui dần cho đến khi chúng không còn ý nghĩa nữa. Đó là lý do Elousia là một cái tên tuyệt diệu đến vậy. Chúa, căn cội của mọi loài, ngự trị bên trong, bên ngoài và xuyên suốt vạn vật - tồn tại như một sự chân chính tối thượng - và mọi hình thức che đậy thực tại ấy đều sẽ xa lìa. Im lặng tiếp nối trong khi Mack đánh vật với những lời Jesus vừa nói. Anh bỏ cuộc chỉ sau một, hai phút và quyết định hỏi câu liều lĩnh hơn. “Ngài nói con không thật sự biết Ngài. Nếu lúc nào chúng ta cũng có thể nói chuyện thế này thì mọi chuyện thật dễ dàng hơn nhiều.”

“Mack à, phải nhìn nhận rằng đây là một việc đặc biệt. Con thật sự bế tắc và chúng ta muốn giúp con ra khỏi nỗi đau. Nhưng đừng nghĩ rằng nếu ta không hữu hình thì mối quan hệ giữa chúng ta không hiện hữu. Nó sẽ khác, nhưng có lẽ còn thực hơn.” “Như thế nào ạ?” “Mục đích của ta từ đầu là sống trong con và con sống trong ta.” “Khoan, khoan. Khoan đã. Làm sao điều đó xảy ra được? Nếu Ngài vẫn còn là con người trọn vẹn làm sao Ngài ngự trong con được?” “Sửng sốt quá phải không? Đó là huyền nhiệm của Papa. Đó là quyền năng của Sarayu, linh hồn của ta, thần khí của Chúa, đấng đang khôi phục sự hiệp nhất đã mất từ lâu. Ta? Ta chọn sống từng khoảnh khắc trọn vẹn con người. Ta là Chúa trọn vẹn, nhưng ta là con người trong cốt lõi. Như ta nói, đó là huyền nhiệm của Papa.” Mack đang nằm trong bóng tối, lắng nghe chăm chú: “Ngài đang nói đến một sự ngự trị nội tại thật sự đấy chứ, không phải chuyện thần học hay khái niệm gì phải không?” “Dĩ nhiên,” Jesus trả lời, giọng khỏe mạnh và chắc chắn. “Đó là cốt lõi của mọi thứ. Con người, được tạo thành từ Sáng thế vật chất hữu hình, một lần nữa có thể được ngự trị trọn vẹn bởi đời sống tâm linh, đời sống của ta. Nó đòi hỏi phải có một sự hiệp nhất rất mực tận tình và tích cực.” “Thật không ngờ!” Mack lặng lẽ thốt lên. “Con chẳng biết gì. Con cần suy nghĩ về điều này. Nhưng chắc con còn nhiều câu hỏi nữa.” “Chúng ta có cả quãng đời của con để bàn bạc về chúng,” Jesus cười. “Nhưng, bây giờ như thế đủ rồi. Chúng ta sẽ lại lạc mất trong đêm sao này.” Trong quãng im lặng tiếp đó, Mack cứ nằm im, mặc cho không gian bao la và ánh sáng róc rách bao phủ mình, mặc cho những nhận thức của mình bị thu phục bởi ánh sao và bởi ý tưởng rằng mọi thứ đều liên quan đến mình... liên quan đến nhân loại... rằng tất cả vạn vật này là dành cho chúng ta. Sau một đỗi chừng như rất lâu, chính Jesus phá đi sự yên lặng. “Ta không bao giờ chán nhìn cảnh này. Kỳ quan vạn vật - sự hoang phí của tạo hóa , như một trong những người anh em của chúng ta đã gọi. Thật thanh tao, thậm chí giờ đây vẫn tràn đầy khát khao và vẻ đẹp.”

“Ngài biết đó,” Mack đáp, đột nhiên lại choàng tỉnh bởi sự vô lý của cảnh huống này; nơi chốn này, con người cạnh mình. “Đôi khi Ngài nói chuyện thật là... ý con là, con đang nằm đây cạnh Chúa Toàn năng thế mà Ngài lại nói chuyện thật là...” “Con người?” Jesus mớm lời. “Lại khó nghe?” Nói đoạn Ngài bắt đầu cười, ban đầu còn lặng lẽ và kiềm chế, nhưng sau vài cú nấc thì tiếng cười bắt đầu phá ra. Như bị lan truyền, Mack cũng thấy mình bị cuốn theo, từ thăm thẳm đáy hồn. Anh đã không cười trong sâu thẳm như thế lâu rồi. Jesus giang tay ôm choàng lấy anh, lắc anh theo từng tràng cười, và Mack cảm thấy tinh khiết, sống động và an nhiên hơn hẳn kể từ lúc... mà anh cũng chẳng nhớ nổi từ lúc nào. Sau hết, họ cùng lắng lại và sự yên ắng của màn đêm lại trỗi dậy một lần nữa. Dường như cả những con ếch cũng đã ngưng bặt. Mack nằm đó nhận thức mình đang cảm thấy tội lỗi vì đã vui hưởng cho bản thân, vì đã cười, và ngay cả trong bóng tối anh vẫn cảm nhận được nỗi đau tràn đến phủ lên anh. “Chúa Jesus?” anh thì thào vì giọng đã nghẹn lại. “Con cảm thấy mất mát quá.” Một bàn tay đưa ra nắm chặt lấy bàn tay anh và không rời. “Ta biết, Mack. Nhưng điều đó không đúng đâu. Ta đang ở bên con và ta không mất mát. Ta rất tiếc con cảm thấy như thế, nhưng hãy nghe ta cho rõ. Con không mất mát.” “Con hy vọng Ngài đúng,” Mack nói, sự căng thẳng dịu đi bởi những lời từ người bạn mới của mình. “Nào,” Jesus cất lời, đứng dậy rồi chìa tay xuống cho Mack. “Con có một ngày quan trọng trước mặt. Ta đưa con về ngủ thôi.” Ngài choàng vai Mack rồi họ sóng bước bên nhau quay về căn nhà gỗ. Mack chợt thấy kiệt sức. Ngày hôm nay là một ngày dài. Có lẽ anh sẽ thức dậy tại nhà trên chiếc giường của mình sau một đêm mơ sống động, nhưng đâu đó trong lòng anh hy vọng mình sai.

• 8 • BỮA ĐIỂM TÂM CỦA NHỮNG KÌ THỊ Trưởng thành nghĩa là đổi thay và đổi thay bao hàm sự mạo hiểm, dấn bước từ nơi đã biết về miền chưa biết. — KHUYẾT DANH Khi về đến phòng, Mack phát hiện ra quần áo của mình, vốn bỏ lại trên xe, đã được xếp lại đặt trên tủ nhỏ hoặc treo trong tủ áo. Anh ngạc nhiên nhìn thấy một cuốn Kinh Thánh của Gideon trên tủ kệ đầu giường. Anh mở rộng cửa sổ để không khí đêm tràn vào, một hành vi mà Nan chẳng bao giờ đồng ý ở nhà vì nàng sợ nhện và bất kể con gì ngọ nguậy. Cuộn mình như một chú bé vùi trong chăn lông, anh chỉ đọc được vài đoạn thì cuốn kinh đã rời khỏi tay, đèn đã tắt và ai đó đã hôn lên má anh, và anh nhẹ nhàng nhấc mình lên cao trong một giấc mơ bay bổng. Những ai chưa bao giờ bay như thế có lẽ sẽ nghĩ rằng những kẻ tin vào điều đó là gàn dở, nhưng thực tâm có lẽ ít nhất họ có chút gì ghen tị. Đã nhiều năm rồi, anh không nằm mơ bay bổng, kể từ khi nỗi đau giáng xuống, nhưng đêm nay, Mack đã bay cao trong bầu trời đầy sao, trong không gian trong lành và mát lạnh mà không khó chịu. Anh bay liệng qua những chiếc hồ và dòng sông, vượt qua một bờ biển và nhiều hòn đảo vách đá san hô. Nói ra nghe thật lạ, Mack đã học trong những giấc mơ cách bay như thế này; cách nhấc mình lên không trung một cách chơi vơi - không có cánh, không có máy bay gì cả, chỉ có chính mình. Những chuyến bay đầu tiên thường chỉ giới hạn có vài tấc, hầu như do sợ hãi, hoặc chính xác hơn là do sợ rơi. Nâng tầm bay lên một vài bộ rồi cuối cùng cao hơn nữa khiến anh thêm an tâm, cũng như khi anh phát hiện ra việc rơi không hề đau đớn mà chỉ là một cú tâng nhẹ nhàng. Rồi dần dà, anh học được cách bay lên mây, bay đi xa và đáp xuống nhẹ nhàng. Khi bay vút qua những rặng núi hiểm trở và những bờ biển trắng xóa lấp lánh, nỗi kỳ thú của những chuyến bay trong mơ chợt bộc lộ, đột nhiên một

cái gì đó chộp lấy cổ chân anh và lôi tuột anh ra khỏi bầu trời. Trong nháy mắt, anh bị lôi xuống từ trên cao và quẳng một cách thô bạo xuống một con đường hết sức lầy lội. Sấm vang rền mặt đất và mưa đột nhiên như trút nước. Và rồi điều đó lại đến, ánh chớp chiếu sáng gương mặt con gái anh trong lúc nó thét lên tắt nghẹn “ Bố ơi! ” rồi xoay người chạy biến vào trong bóng tối, chiếc váy đỏ chỉ thấp thoáng trong vài ánh chớp rồi biến mất. Anh cố hết sức chống chọi để thoát ra khỏi bùn lầy và nước, nhưng rồi càng bị lún sâu hơn. Và ngay khi bị hút xuống thì anh choàng tỉnh trong hơi thở hổn hển. Tim đập dồn và trí tưởng tượng còn đang dính chặt với những hình ảnh của cơn ác mộng, Mack mất một lúc để nhận ra đó chỉ là một giấc mơ. Nhưng mặc dù cơn mơ đã tan, những cảm xúc vẫn còn đó. Giấc mơ đã khuấy động nỗi đau và trước khi bước xuống giường, anh lại một lần nữa chống chọi với nỗi tuyệt vọng đã tàn phá bao tháng ngày của mình. Anh nhăn nhó nhìn quanh phòng trong cái xám xịt của bình minh ló dạng còn lẫn trong màn sáo cửa. Đây không phải phòng ngủ của anh; chẳng có thứ gì trông hoặc cảm thấy thân thuộc. Anh đang ở đâu? Suy nghĩ đi, Mack, suy nghĩ đi! Rồi anh nhớ ra. Anh vẫn còn đang ở căn chòi với ba nhân vật thú vị ấy, cả ba người đều nghĩ họ là Thiên Chúa. “Không thể như thế này được,” Mack vừa càu nhàu vừa lồm cồm ra khỏi giường và ngồi trên mép giường ôm đầu. Anh suy nghĩ lại ngày hôm trước và một lần nữa có cảm giác sợ rằng mình sắp mất trí. Vì anh không phải là một người đầy cảm tính, Papa - hay bất kỳ ai trong vai đó - đã làm anh lo âu và anh không hiểu về Sarayu. Anh phải tự thú nhận rằng mình rất thích Jesus, nhưng Ngài là người ít giống Chúa nhất trong ba người. Anh thở ra một tiếng dài sượt. Mà nếu có Chúa ở đây thật, sao Ngài không dẹp cơn ác mộng cho anh? Anh thấy ngồi bối rối như thế chẳng lợi lộc gì nên lần mò vào buồng tắm và ngạc nhiên thấy mọi thứ cần dùng để tắm đã được cẩn thận bày sẵn cho anh. Anh nhẩn nha trong làn nước nóng, rồi cạo râu và quay trở vào phòng ngủ để thong thả thay quần áo. Mùi thơm táo tợn và cuốn hút của cà phê khiến mắt anh chú mục vào chiếc tách đang bốc khói chờ sẵn ở đầu bàn cạnh cửa ra vào. Nhấp một

ngụm, anh mở rèm sáo và đứng bên khung cửa sổ nhìn ra hồ, chiếc hồ mà đêm qua chỉ thấp thoáng như một vệt sẫm. Thật hoàn mỹ, mặt hồ phẳng như gương, ngoại trừ thỉnh thoảng cá hồi phóng lên khỏi mặt nước sau bữa điểm tâm, làm cho sóng lăn tăn trên mặt hồ xanh thẳm cho đến khi tắt lịm trên mặt nước rộng lớn. Anh ước tính bờ hồ bên kia cách chừng nửa dặm. Sương lấp lánh khắp nơi, những giọt sương sớm như kim cương phản chiếu tình yêu của mặt trời. Ba chiếc xuồng nằm cách nhau bình lặng dọc theo cầu tàu trông rất mời gọi, nhưng Mack dẹp ngay ý nghĩ ấy. Xuồng chẳng phải đồ chơi nữa rồi. Quá nhiều ký ức đau buồn. Cầu tàu gợi cho anh nhớ lại đêm trước. Có thật là anh đã nằm đó với Đấng tạo dựng vũ trụ? Mack lắc đầu, người lặng đi. Chuyện gì đang diễn ra ở đây? Họ thật sự là ai và muốn gì ở anh? Dù họ muốn gì thì anh cũng biết chắc là mình chẳng có. Mùi trứng và thịt muối trộn với thức ăn luồn vào phòng, làm anh gián đoạn ý nghĩ. Mack quyết định đã đến lúc bước ra và lên tiếng. Khi bước vào gian phòng chính, anh nghe âm thanh một giai điệu quen thuộc của Bruce Cockburn vang trong bếp và giọng nữ cao của người phụ nữ da đen hát theo khá hay: “Ôi tình yêu đã hun đúc mặt trời, hãy giữ cho ta nồng cháy.” Papa hiện ra mỗi tay cầm một chiếc chảo đựng bánh rán và khoai tây chiên với rau. Ngài đang vận một bộ trang phục thướt tha của châu Phi, đầu buộc dải băng nhiều màu sinh động. Trông Ngài rực rỡ - gần như đang tỏa sáng. “Con biết đó,” Ngài thốt lên, “Ta thích bản nhạc trẻ con ấy! Ta đặc biệt thích Bruce, con biết đấy.” Ngài nhìn Mack đang ngồi tại bàn. Mack gật đầu, càng lúc anh càng muốn ăn. “Ừ,” Ngài tiếp lời, “ta biết con cũng thích anh ta.” Mack mỉm cười. Đúng vậy. Cả nhà đều say mê Cockburn bao nhiêu năm nay, trước tiên là anh, rồi đến Nan, rồi đến mấy đứa nhỏ không nhiều thì ít. “Sao, con?” Ngài hỏi, tiếp tục bận rộn với công việc đang làm. “Giấc mơ đêm qua của con thế nào? Những giấc mơ đôi khi quan trọng, con biết

đó. Cũng giống như mở tung cửa sổ để tống gió độc ra ngoài.” Mack biết đây là lời mời để mở khóa cánh cửa bước vào những nỗi kinh hoàng của anh, nhưng ngay lúc này anh chưa sẵn sàng mời Ngài bước vào đó với mình. “Con ngủ ngon, tạ ơn Ngài,” anh đáp rồi lảng nhanh sang đề tài khác. “Ngài say mê anh ta à? Bruce ấy?” Ngài dừng lại nhìn anh. “Mackenzie, ta chẳng say mê ai cả; ta chỉ đặc biệt thích anh ta thôi.” “Dường như Ngài đặc biệt thích rất nhiều người,” Mack quan sát một cách ngờ vực. “Có ai đó mà Ngài không đặc biệt thích không?” Ngài ngẩng đầu lên rồi đảo mắt như thể trong tâm trí đang dò danh sách mọi sinh linh đã từng được tạo ra. “Không, ta chẳng tìm được ai. Có lẽ cách của ta là như thế.” Mack quan tâm. “Ngài có bao giờ nổi giận với ai trong số họ không?” “Ối chà! Bố mẹ nào mà không chứ? Có rất nhiều thứ để nổi giận về những gì con cái ta gây ra và những gì chúng đang chìm ngập trong đó. Ta không thích rất nhiều sự lựa chọn của chúng, nhưng cơn giận dữ đó - nhất là đối với ta - đều là một sự thể hiện tình thương như nhau thôi. Ta yêu thương như nhau những kẻ làm ta cảm thấy tức giận hay không.” “Nhưng,” Mack dừng lại. “Còn cơn thịnh nộ của Ngài thì sao? Con thấy rằng hình như nếu Ngài muốn đóng vai Chúa toàn năng thì cần phải giận dữ hơn nữa.” “Giờ đây thì không à? “Con nghĩ vậy. Ngài đâu có tiêu diệt mọi người mọi lúc như trong Kinh Thánh. Trông Ngài chẳng giống vậy.” “Ta hiểu con cảm thấy mọi thứ rối rắm như thế nào, Mack. Nhưng kẻ duy nhất đóng vai ở đây là con. Ta là ta. Ta không cố để giống ai cả.” “Nhưng Ngài đòi con phải tin Ngài là Chúa, mà con thì không thấy...” Mack không biết làm sao để nói cho trọn câu nên bỏ lửng. “Ta không đòi con phải tin điều gì cả, nhưng ta nói cho con biết rằng, con sẽ thấy mọi chuyện dễ dàng hơn nếu đơn giản chấp nhận thay vì cố

gắng áp đặt vào những khái niệm định kiến của con.” “Nhưng nếu Ngài là Chúa, thì cũng chính Ngài đang làm đổ tung cái thố thịnh nộ và đẩy mọi người vào biển lửa còn gì?” Mack cảm nhận cơn tức giận sâu thẳm trong chính mình lại trào dâng, làm bật ra những câu chất vấn, và anh hơi thất vọng với sự mất tự chủ của mình. Nhưng dù sao thì anh cũng đã hỏi: “Con hỏi thật lòng nhé, Ngài không thích thú trừng phạt những kẻ làm Ngài thất vọng sao?” Lúc ấy, Papa dừng tay và xoay về phía Mack. Anh nhìn thấy được một nỗi buồn sâu thẳm trong mắt Ngài. “Ta không phải như con nghĩ đâu, Mackenzie. Ta không cần trừng phạt con người vì tội lỗi. Bản thân tội lỗi là một sự trừng phạt rồi, tàn phá chính các con từ bên trong. Mục đích của ta không phải là trừng phạt; niềm vui của ta là hóa giải nó.” “Con không hiểu...” “Con nói đúng. Con không hiểu,” Ngài nói với một nụ cười đượm nét buồn. “Nhưng vấn đề là chúng ta chưa bàn xong mà.” Vừa khi ấy, Jesus và Sarayu cười vang và bước vào từ cửa sau, góp vào câu chuyện. Jesus ăn vận cũng gần giống như hôm trước, chỉ có quần jean và một chiếc áo sơmi xanh làm nổi bật đôi mắt nâu sẫm. Sarayu, ngược lại, lại ăn vận diêm dúa và điệu đàng đến độ trang phục như thể dập dờn trước một làn gió nhẹ hay ngôn từ phát ra. Mỗi cử chỉ của Ngài đều lung linh ánh cầu vồng. Mack thắc mắc liệu Ngài bao giờ thôi lay động hoàn toàn không. Anh khá hoài nghi điều đó. Papa hạ người xuống ngang tầm mắt với Mack. “Con đã nêu lên một số câu hỏi quan trọng và chúng ta sẽ bàn, ta hứa. Nhưng bây giờ chúng ta ăn sáng trước đã.” Mack gật đầu, một lần nữa hơi bối rối khi hướng sự chú ý vào thức ăn. Dù gì anh cũng đói và có nhiều thứ để ăn. “Tạ ơn Ngài về bữa điểm tâm,” anh nói với Papa trong khi Jesus và Sarayu ngồi vào bàn. “Cái gì?” Ngài nói trong sự sửng sốt một cách giễu nhại. “Con không cúi đầu và nhắm mắt nữa à?” Ngài bắt đầu đi về phía bếp, vừa đi vừa càu nhàu: “Chậc, chậc, chậc. Thế giới này đang đi về đâu nhỉ? Không có chi

đâu, con,” Ngài ngoái đầu nói với. Chốc sau, Ngài lại xuất hiện với một chiếc thố nữa nghi ngút một món bốc mùi thật thơm ngon và mời mọc. Mọi người chuyền nhau thức ăn và Mack mê hoặc ngắm nhìn và lắng nghe khi Papa tham gia câu chuyện với Jesus và Sarayu. Chuyện bàn về hòa hợp một gia đình ly gián, nhưng Mack bị cuốn hút không phải bởi nội dung câu chuyện, mà là cách thức mọi người đề cập. Anh chưa bao giờ thấy ba người nói chuyện một cách đơn giản và sinh động như thế. Mỗi người dường như hiểu biết về người khác còn hơn cả chính mình. “Thế, con nghĩ thế nào, Mack?” Jesus hỏi, hướng ánh nhìn về phía anh. “Con không biết các Ngài đang nói gì,” Mack nói trong lúc miệng ngậm đầy rau rất ngon lành. “Nhưng con thích cách các Ngài nói chuyện.” “Chao ơi,” tiếng thốt của Papa, người vừa vào bếp mang ra một món nữa. “Cứ ăn thong thả, anh bạn trẻ. Món này ăn không cẩn thận thì phiền đấy.” “Được rồi,” Mack đáp. “Con nhớ mà,” anh vừa nói vừa với lấy món ăn trong tay Ngài. Rồi xoay người về phía Jesus, anh nói tiếp: “Con thích cái cách các Ngài đối xử với nhau. Rõ ràng không phải cách con hình dung về Chúa.” “Con nói sao?” “Con nói là các Ngài là một và là tất cả, và các Ngài có ba người. Nhưng các Ngài đối đáp với nhau thật khoan dung. Không một ai có địa vị cao hơn hai người kia sao?” Ba người nhìn nhau như thể họ chưa bao giờ nghĩ đến một câu hỏi như vậy. “Ý con là,” Mack vội tiếp lời, “Lúc nào con cũng nghĩ rằng Chúa Cha là đấng chỉ huy và Jesus là người thừa hành mệnh lệnh, tức là tuân thủ. Con không biết chắc Đức Thánh Linh thể hiện ra sao. Ngài... ý con là...” Mack cố không nhìn vào Sarayu trong lúc lắp bắp tìm từ. “...Dù gì đi nữa - Linh thể bao giờ cũng có vẻ là một...” “Một linh thể tự do?” Papa gợi ý.

“Chính xác - một linh thể tự do, nhưng vẫn theo sự dẫn dắt của Đức Cha. Như thế có lý không?” Jesus nhìn sang Papa, rõ ràng đang cố gắng để giữ lấy cảnh huống rất trang trọng này. “Điều đó có hợp lý với Ngài không, Abba? Thật tình, ta không biết người này đang nói về điều gì.” Papa cau mặt lại như thể đang rất tập trung. “Không, ta vẫn đang cố gắng để theo dõi câu chuyện, nhưng xin lỗi, ta không nắm được ý của anh ta.” “Các Ngài biết con đang nói chuyện gì mà.” Mack hơi bị ức chế. “Con đang nói về chuyện người nắm quyền. Các Ngài không có một chuỗi cấp bậc à?” “Cấp bậc? Nghe thật là sợ!” Jesus lên tiếng. “Ít ra để ràng buộc,” Papa thêm vào và cả hai cùng bật cười, rồi Papa quay sang Mack cất tiếng hát: “Dù chuỗi ấy bằng vàng, cũng là chuỗi như nhau mà thôi.” “Đừng bận tâm với hai vị ấy,” Sarayu ngắt ngang, với tay sang động viên và trấn an anh. “Các vị ấy đùa với anh thôi. Đây đúng là một chủ đề chúng ta quan tâm.” Mack gật đầu, nhẹ người và hơi thất vọng khi thấy mình lại một lần nữa đánh mất sự kiềm chế. “Mackenzie, chúng ta không có khái niệm quyền uy tối thượng trong chúng ta, chỉ có sự hợp nhất. Chúng ta là một chu trình quan hệ, chứ không phải là một chuỗi cấp bậc hay  ‘một chuỗi tôn vị’ như tổ tiên của con đã gọi. Những gì con nhìn thấy ở đây là một mối quan hệ không chồng lấp quyền uy. Chúng ta không cần quyền hành đối với nhau vì chúng ta luôn hướng đến sự mỹ mãn. Cấp bậc không có nghĩa gì với chúng ta. Thật sự, đây là vấn đề của các con chứ không phải của chúng ta.” “Thật vậy sao? Như thế nào?” “Con người thật lạc lối và tha hóa đến mức đối với các con thì hầu như không thể hiểu được con người có thể làm việc và sinh sống với nhau mà không có ai đó nắm quyền.”

“Nhưng mọi định chế của con người mà con hình dung được, từ chính trị đến kinh doanh, thậm chí đến hôn nhân, đều được vận hành theo tư duy đó; nó là cái mạng của cơ cấu xã hội,” Mack quả quyết. “Thật là lãng phí!” Papa nói, cầm lấy chiếc đĩa trống không đi vào bếp. “Đó là một lý do tại sao các con khó đạt được một mối quan hệ thật sự,” Jesus nói thêm. “Một khi có thứ bậc, các con cần quy tắc để bảo vệ và quản trị, rồi các con cần luật pháp và hành pháp cho điều luật, rồi sau cùng các con đi đến một chuỗi cấp bậc hoặc hệ thống thứ bậc làm hủy hoại mối quan hệ thay vì củng cố nó. Các con hiếm khi nào chứng kiến hoặc trải nghiệm mối quan hệ tách rời khỏi quyền lực. Thứ bậc sẽ áp đặt luật lệ và các con sẽ bỏ mất điều kỳ diệu của quan hệ mà chúng ta đã định ra cho các con.” Mack dựa người vào ghế, đáp một cách châm biếm: “Chắc chắn chúng con dường như đã cải biến nó một cách khá là ổn thỏa.” Sarayu đáp ngay: “Đừng lầm lẫn sự biến cải với mục đích, hay là sự cám dỗ với thực tại.” “Vậy thì... à, Ngài cho con xin thêm chút rau kia nữa nhé. Vậy thì, chúng con đã bị cám dỗ bởi định kiến về quyền lực?” “Đúng, về một nghĩa nào đó!” Papa đáp, đưa đĩa rau cho Mack nhưng tay không rời, chờ cho anh lấy hai lần. “Ta quan tâm đến các con.” Sarayu tiếp lời: “Khi chọn sự độc lập thay vì quan hệ, các con đã trở nên một mối hiểm họa của nhau. Những người khác trở nên đối tượng bị thao túng hoặc điều khiển để các con tìm lấy hạnh phúc cho chính mình. Quyền lực, như con vẫn nghĩ, chỉ là cái cớ để kẻ mạnh dùng mà buộc kẻ khác làm theo ý họ.” “Nhưng ngăn chặn mọi người xung đột không ngừng với nhau và bị tổn thương không phải là điều tốt sao?” “Đến khi. Nhưng trong một thế giới ích kỷ thì nó cũng được dùng để gieo rắc nguy cơ lớn hơn.” “Nhưng các Ngài không dùng nó để khắc chế cái xấu sao?”

“Chúng ta chăm chút tôn trọng sự lựa chọn của các con nên chúng ta hành động trong khuôn khổ của các con kể cả trong lúc tìm cách giải thoát các con khỏi điều đó,” Papa tiếp. “Sự sáng tạo đã diễn ra theo một con đường rất khác với điều chúng ta mong muốn. Trong thế giới của các con, giá trị của cá nhân luôn được cân nhắc so sánh với sự tồn tại của hệ thống, dù là về chính trị, kinh tế, xã hội hay tôn giáo - bất kể hệ thống nào. Trước tiên là một con người, rồi sau đó là một vài người, rồi cuối cùng là thêm nhiều người nữa dễ dàng bị hy sinh cho lợi ích và sự tồn tại tiếp nối của hệ thống ấy. Dưới hình thức này hay khác, điều này tồn tại đằng sau mọi cuộc tranh đấu vì quyền lực, mọi thành kiến, mọi cuộc chiến tranh, và mọi sự lạm dụng mối quan hệ. Ý chí mưu cầu quyền lực và sự độc lập đã trở nên phổ quát đến độ giờ đây được xem như bình thường .” “Không phải như thế à?” “Đó là một khuôn mẫu theo kiểu của con người,” Papa góp lời khi mang thức ăn trở lại. “Giống như nước đối với cá, quá bình thường đến mức nước không còn được nhìn thấy nữa và không còn bị tranh cãi nữa. Đó là một cái ma trận; một mưu đồ ác nghiệt mà các con bị mắc vào một cách tuyệt vọng trong khi thậm chí không hề biết đến sự tồn tại của nó.” Jesus góp vào cuộc đối thoại. “Như vinh hiển của Đấng Tạo hóa, các con được tạo dựng trong hình hài của chúng ta, không bị trói buộc bởi cấu trúc và tự do hiện diện trong mối quan hệ với ta và với nhau. Nếu các con thật sự biết xem trọng những mối quan tâm của nhau như của chính mình, sẽ chẳng cần đến thứ bậc.” Mack ngồi dựa trên ghế, chao đảo bởi ý nghĩa của những gì đang nghe thấy. “Vậy là Ngài đang nói rằng mỗi khi con người chúng con tự bảo vệ mình bằng quyền lực...” “Thì các con đã lùi bước trước cái ma trận ấy, chứ không phải trước chúng ta,” Jesus kết lời. “Bây giờ thế này,” Sarayu thốt lên, “chúng ta đã đi trọn một vòng, quay trở lại với định đề lúc ban đầu của ta: Con người thật lạc lối và tha hóa đến mức đối với các con thì hầu như không thể hiểu được mối quan hệ có thể tồn tại tách rời khỏi quyền lực. Cho nên con nghĩ rằng Thiên Chúa cũng có thứ bậc bên trong như các con. Nhưng chúng tôi không hề có.”

“Nhưng làm sao chúng con có thể thay đổi điều đó? Con người sẽ lợi dụng chúng con.” “Hẳn là như thế. Nhưng chúng ta không yêu cầu con làm thế với mọi người. Chúng ta đang yêu cầu con làm thế với chúng ta. Đó là nơi duy nhất có thể khởi đầu. Chúng ta sẽ không lợi dụng con.” “Mack,” Papa lên tiếng một cách mạnh mẽ đến độ khiến anh phải lắng nghe một cách chăm chú, “chúng ta muốn chia sẻ với con tình yêu và sự hân hoan và tự do và ánh sáng mà chúng ta đã biết đến trong chúng ta. Chúng ta đã tạo ra con, con người, để trực diện quan hệ với chúng ta, để hòa nhập với chúng ta trong quỹ đạo của tình thương yêu. Nói ra điều này rất khó hiểu đối với con, nhưng vạn sự đã xảy ra đều đang diễn biến đúng theo mục đích này, mà không hề trái với sự lựa chọn hay ý chí.” “Làm sao Ngài có thể nói như vậy khi thế giới này đầy khổ đau, đầy chiến tranh và thảm họa hủy hoại hàng ngàn con người?” Giọng của Mack dịu xuống như một lời thì thào. “Thế thì giá trị là đâu khi một đứa bé gái bị sát hại bởi một kẻ bệnh hoạn quái gở?” Lại động đến nữa rồi, câu hỏi luôn thiêu đốt trong tâm hồn anh. “Các Ngài có thể không gây ra những chuyện này, nhưng rõ ràng các Ngài không ngăn chặn.” “Mackenzie,” Papa trả lời dịu dàng, dường như chẳng phật ý chút nào bởi lời cáo buộc của anh, “có hàng triệu lý do để chấp nhận sự đau đớn và khổ sở cũng như đọa đày thay vì trừ diệt chúng, nhưng hầu hết các lý do đều chỉ có thể hiểu được trong câu chuyện của mỗi người. Ta không xấu xa. Các con là những người mang lấy sự sợ hãi, đau khổ, quyền lực và quyền hạn vào trong các mối quan hệ. Nhưng sự lựa chọn của các con cũng không mạnh mẽ hơn mục đích của ta, và ta sẽ tận dụng mọi sự lựa chọn của các con cho lợi ích tối thượng và kết quả tràn đầy yêu thương nhất.” “Con thấy đó,” Sarayu thốt lên, “con người tha hóa đã đặt trọng tâm cuộc sống của họ vào những yếu tố dường như tốt đẹp với họ, nhưng điều đó cũng chẳng khỏa lấp hay giải thoát cho họ. Họ nghiện quyền lực, hay là cái ảo giác của sự an lành mà quyền lực mang đến. Khi xảy ra thảm họa, chính những con người ấy sẽ quay mặt lại với thứ quyền lực giả mà họ đã tin cậy. Trong cơn thất vọng, hoặc họ trở nên mềm yếu đối với ta hoặc họ sẽ trở nên mạnh mẽ hơn trong sự độc lập. Giá mà con thấy được mọi

chuyện như thế sẽ kết thúc ra sao và chúng ta sẽ đạt được những gì mà không trái với ý chí con người - thì con sẽ hiểu. Một ngày kia con sẽ hiểu.” “Nhưng cái giá phải trả!” Mack chao đảo. “Hãy nhìn cái giá - bao nhiêu đau đớn, bao nhiêu khổ sở, mọi thứ thật quá kinh khủng và xấu xa.” Anh dừng lại rồi nhìn xuống bàn. “Hãy nhìn cái giá các Ngài phải trả. Có đáng không?” “Có!” cả ba người đồng thanh đáp lại trong hân hoan. “Làm sao có thể nói vậy được?” Mack buột miệng. “Tất cả giống như mục đích biện minh cho phương pháp, rằng để đạt được mục đích các Ngài sẽ làm mọi cách, thậm chí nếu phải trả giá bằng hàng tỉ sinh mạng con người.” “Mackenzie.” Lại giọng của Papa, thật nhẹ nhàng và dịu dàng. “Con thật sự chưa hiểu đâu. Con cố gắng để hiểu thế giới mà con đang sống dựa trên một bức tranh rất nhỏ và không hoàn hảo về thực tại. Giống như quan sát một cuộc diễu hành qua một chiếc lỗ khóa tí xíu của khổ sở, đau đớn, vị kỷ và quyền lực, và nhủ lòng tin rằng mình đang đơn độc và vô nghĩa. Tất cả những điều này đều chứa đựng sự dối trá ghê gớm. Con nhìn thấy nỗi đau và chết chóc như những điều xấu xa tột bực và Thiên Chúa là kẻ phản bội tột cùng, hoặc có lẽ, nhẹ nhất, thì về căn bản cũng không đáng tin cậy. Sai lầm thật sự trong cuộc đời con, Mackenzie, là con không nghĩ rằng ta tốt đẹp. Nếu con biết rằng ta tốt và mọi thứ - mọi phương tiện, mục đích, và mọi chu trình của những đời sống cá nhân - đều được bao trùm trong phép lành của ta, thì mặc dù có thể không hiểu ta đang làm gì, con vẫn sẽ tin ta. Nhưng con đã không tin. “Con không tin?” Mack chất vấn, nhưng đó chẳng phải là một câu hỏi thật sự. Đó là câu khẳng định một sự việc mà anh đã biết. Những vị kia dường như cũng biết và cả bàn yên lặng. Sarayu lên tiếng: “Mackenzie, con không thể tạo ra lòng tin cũng như con không thể ‘làm ra’sự khiêm nhường. Hoặc là có hoặc là không. Tin cậy là kết quả của một mối quan hệ mà trong đó con biết mình được yêu thương. Vì con không biết rằng ta yêu con, con không thể tin cậy ta.”

Lại một sự im lặng, rồi sau cùng Mack nhìn lên Papa và nói. “Con không biết làm thế nào để thay đổi điều đó.” “Con không thể, nhất là tự mình. Nhưng cùng nhau chúng ta sẽ chứng kiến đổi thay ấy sẽ diễn ra. Còn bây giờ, ta chỉ muốn con ở cùng với ta để khám phá rằng quan hệ của chúng ta không phải là câu chuyện về hành vi hay con phải làm đẹp lòng ta. Ta không phải kẻ ép buộc, cũng không phải thần thánh ích kỷ và yêu sách nhất định đòi phải theo ý mình. Ta nhân lành và ta mong muốn chỉ những gì tốt nhất cho con. Không thể tìm thấy điều đó trong sự sai trái hay luận phạt hay áp bức, chỉ có thể tìm thấy trong một tương quan của tình yêu. Và ta yêu con.” Sarayu đứng dậy và nhìn thẳng vào Mack. “Mackenzie,” Ngài ngỏ lời, “nếu con quan tâm, ta muốn con đi phụ ta ngoài vườn. Có những việc ta phải làm ngoài đó trước buổi lễ ngày mai. Ta có thể nói tiếp câu chuyện này ở ngoài ấy, được không?” “Được chứ,” Mack đáp và xin phép đứng dậy. “Một câu cuối cùng,” anh nói thêm, xoay người lại. “Có điều con không hình dung được một kết cục nào để biện minh cho mọi chuyện này.” “Mackenzie.” Papa đứng dậy rồi đi vòng qua bàn đến siết lấy anh. “Chúng ta không biện minh. Chúng ta đang cứu chuộc.”

• 9 • NGÀY XỬA NGÀY XƯA TRONG MỘT KHU VƯỜN XA XĂM Cho dù có tìm được một vườn địa đàng khác, chúng ta cũng chẳng xứng đáng để tận hưởng nó một cách mỹ mãn hay là lưu trú nơi ấy mãi mãi. — HENRY VAN DYKE Mack đi theo Sarayu ra cửa sau rồi đi dọc theo lối đi qua hàng cây linh sam. Đi đằng sau một linh thể như vậy cũng như dò theo ánh sáng mặt trời. Ánh sáng dường như tỏa ra từ Ngài và rồi phản chiếu sự hiện diện của Ngài ở nhiều nơi cùng lúc. Trạng thái của Ngài khá siêu trần, đầy những hình thái và sắc màu lay động. “Thảo nào biết bao người không diễn tả được Ngài,” Mack nghĩ. “Rõ ràng Ngài không phải là người mà ta có thể tiên định.” Mack chuyển sang chú mục vào việc đi theo con đường. Khi đi vòng qua hàng cây, lần đầu tiên anh nhìn thấy một khu vườn cây trái rực rỡ nằm trong một mảnh đất không lớn hơn một mẫu. Vì một lý do gì đó, Mack đã hình dung một khu vườn kiểu Anh được cắt tỉa chăm chút và gọn gàng. Cái này thì không! Một sự hỗn độn về màu sắc. Mắt anh cố gắng một cách thất bại để tìm kiếm một sự ngăn nắp trong khung cảnh um tùm lộn xộn này. Những khóm hoa rực rỡ nở trên những vạt cây cỏ trồng ngẫu nhiên, những loài thực vật mà Mack chưa bao giờ thấy. Thật là rối rắm, choáng ngợp và vô cùng tươi đẹp. “Nhìn từ trên cao như một bức tranh phân hợp ,” Sarayu ngoái đầu nói một cách hài lòng. “Một gì?” Mack hỏi một cách lơ đãng, tâm trí anh vẫn còn đang cố níu giữ lấy hình bóng và chuyển động của màu sắc. Mỗi bước anh đi lại làm thay đổi những gì mà anh tưởng đã nhìn thấy, và mỗi thứ lại mỗi khác. “Một bức phân hợp ... là một thứ được xem là đơn giản và trật tự nhưng thật ra được tập hợp bởi những mô hình lặp lại cho dù chúng có được

phóng lớn đến đâu. Một sự phân hợp là một phức hợp hầu như vô tận. Ta thích sự phân hợp, nên ta bày ra khắp nơi.” “Con thì trông thấy chúng như một sự hỗn độn,” Mack thì thầm qua hơi thở. Sarayu dừng lại quay sang Mack, khuôn mặt Ngài sáng ngời. “Mack! Cám ơn con! Thật là một lời khen tuyệt vời!” Ngài nhìn quanh khu vườn. “Nó chính là như vậy - một sự hỗn độn. Nhưng...” Ngài nhìn lại Mack rồi nói: “Nhưng nó vẫn là một sự phân hợp.” Sarayu đi thẳng đến một khóm cây, ngắt vài đọt rồi xoay lại Mack. “Đây,” Ngài nói, giọng nghe giống như âm nhạc hơn cả. “Papa không nói đùa trong lúc điểm tâm đâu. Con cứ nhai mấy đọt này một lúc đi. Nó sẽ hóa giải “hành động” tự nhiên của những con người mà con quá nương phục trước đây, chắc con hiểu ý ta.” Mack cười thầm khi đón nhận và cẩn thận bắt đầu nhai. “Vâng, nhưng mấy cọng rau ấy ngon thật!” Bụng anh bắt đầu quặn một chút, và sự choáng ngợp trước khung cảnh hoang dã xanh tươi này chẳng giúp ích gì. Hương vị của loài thảo mộc ấy không khó chịu: một chút của bạc hà và một chút của những gia vị khác mà anh có lẽ đã từng nếm trước đó nhưng không nhận ra được. Trong lúc đi quanh, cơn sôi trong bụng anh từ từ dịu đi, rồi anh chợt nới lỏng nắm tay không biết đã siết chặt từ lúc nào. Không nói một lời, anh cố đi theo Sarayu khắp nơi trong khu vườn, nhưng vẫn thấy mình dễ dàng bị xao lãng bởi những hòa quyện sắc màu; màu đỏ nho với màu thần sa, màu quả quýt với màu lục nhạt ngăn cách bởi màu bạch kim và màu hoa vân anh, cũng như vô số sắc độ của lục và nâu. Tất cả là một sự choáng ngợp và ngất ngây đến kỳ diệu. Sarayu đường như đang chú tâm rất mực vào một việc nào đó. Nhưng giống như tên của Ngài, Ngài lướt vòng quanh như một cơn gió lốc và anh chẳng lúc nào biết được Ngài đang thổi về hướng nào. Anh cảm thấy khá vất vả để theo kịp Ngài. Anh chợt nhớ đến những lúc cố gắng đi theo Nan trong siêu thị. Ngài di chuyển trong khu vườn để cắt tỉa hoa cỏ rồi trao cho Mack. Lẵng hoa ngẫu hứng càng lúc càng lớn dần, một khối mùi hương sực nức. ẳ

Những hương thơm pha trộn với nhau chẳng giống một thứ gì anh đã từng ngửi, và mùi hương đậm đà đến mức anh tưởng chừng có thể nếm được. Họ đặt lẵng hoa cuối cùng vào trong khung cửa của một lán nhỏ trong vườn mà nãy giờ Mack không chú ý. Túp lán giấu mình trong tàn cây cỏ hoang vu rậm rạp đầy dây leo mà Mack tưởng là cỏ dại. “Xong một việc,” Sarayu tuyên bố, “còn một việc nữa.” Ngài trao cho Mack một cái xẻng, một cái cào, một lưỡi hái và một đôi găng rồi lướt về phía con đường rậm rịt dường như chạy về phía cuối khu vườn. Trên đường đi, thỉnh thoảng Ngài chậm bước để chạm vào cây này hoặc hoa kia, miệng ngâm nga suốt một giai điệu ám ảnh mà Mack đã bị mê hoặc buổi tối hôm trước. Anh ngoan ngoãn bước theo, tay cầm mớ dụng cụ được trao và cố gắng dõi theo hình bóng Ngài trong lúc không ngớt ngạc nhiên với khung cảnh xung quanh. Khi Ngài dừng lại, Mack suýt đâm sầm vào vì mải lơ đãng ngắm nhìn xung quanh. Bằng cách nào đó Ngài đã thay trang phục, giờ đây là một bộ quần áo lao động: quần jean và chiếc áo sơmi làm việc, với găng tay. Họ đang ở một khu vực có thể là vùng cây ăn quả, nhưng không hẳn. Dù gì thì nơi họ đứng cũng là một khu vực quang đãng được vây quanh ba phía bởi những cây đào và anh đào, còn ở giữa là một dòng thác những bụi hoa tím xen vàng làm anh suýt nghẹt thở. “Mackenzie,” Ngài chỉ thẳng vào phía mảng hoa tím vàng kỳ sắc. “Ta muốn con giúp dọn sạch toàn bộ vạt này. Có một thứ quan trọng mà ta muốn trồng vào ngày mai, và ta cần chuẩn bị sẵn sàng.” Ngài nhìn Mack và với tay lấy chiếc lưỡi hái. “Ngài nói nghiêm túc chứ? Vạt này đẹp quá và lại nằm ở chỗ khuất nẻo.” Nhưng Sarayu dường như không chú tâm. Không giải thích gì thêm, Ngài quay người bắt đầu tàn phá bức tranh hoa nghệ thuật. Ngài cắt gọn, và bắt đầu cào mớ tàn tích lại thành đống. Anh cố gắng theo kịp. Có lẽ đối với Ngài chẳng phải là quá sức nhưng đối với anh quả là một kỳ công. Hai mươi phút sau, cây cối đã được cắt gọn sạch tận gốc, và mảnh đất trông như một vết thương trong khu rừng. Cẳng tay Mack đầy vết cứa bởi những cành cây anh gom lại thành đống. Anh thấy hụt hơi và vã mồ hôi, mừng vì đã xong việc. Sarayu đứng nhìn mảnh đất, xem xét thành quả công việc.

“Phấn khích chứ?” Ngài hỏi. “Con thì phấn khích theo những cách ho hay hơn,” Mack đáp lại một cách châm biếm. “Ồ, Mackenzie, giá mà con biết được. Không phải là công việc, mà chính mục đích đã làm cho việc này trở nên đặc biệt. Và,” Ngài mỉm cười với anh, “đó là thứ duy nhất ta làm.” Mack tựa người vào chiếc cào và nhìn quanh khu vườn rồi nhìn những vết đỏ trên cánh tay. “Sarayu, con biết Ngài là Đấng Tạo hóa, nhưng Ngài cũng tạo ra những loài cây độc, những bụi gai và muỗi nữa, đúng không?” “Mackenzie,” Sarayu đáp, dường như chuyển động cùng với gió, “một tạo vật chỉ có thể dựa trên những gì đã có để từ đó tạo nên một thứ khác.” “Vậy ý Ngài đang nói là Ngài...” “...tạo ra mọi thứ thật sự hiện hữu, kể cả những gì con xem là xấu xa,” Sarayu nói dứt câu. “Nhưng khi ta đã tạo ra nó, chỉ có Tốt lành thôi, vì ta là như thế.” Ngài dường như khẽ nhún người trước khi tiếp tục công việc. “Nhưng,” Mack nói tiếp, chưa thỏa mãn, “vậy thì tại sao quá nhiều thứ ‘tốt’ lại trở nên ‘xấu’?” Giờ thì Sarayu dừng lại trước khi trả lời. “Con người các con, thật nhỏ nhoi trong ánh mắt. Các con thật sự mù quáng với nơi chốn của mình trong Sáng thế. Chọn lấy con đường độc lập một cách hủy hoại, các con không hiểu rằng chính mình đang kéo theo cả Sáng thế cùng với mình.” Ngài lắc đầu và gió thở dài qua những thân cây gần đó. “Thật rất đáng buồn, nhưng mọi chuyện sẽ không như thế này mãi.” Họ lặng im chốc lát trong khi Mack nhìn lại bao nhiêu cây cối từ nơi họ đang đứng. “Vậy thì, có cây cối nào trong khu vườn này là độc không?” anh hỏi. “Ồ, có chứ,” Sarayu thốt lên. “Đó là một trong những thứ ta thích nhất. Một số nguy hiểm cả khi chạm vào, như cây này.” Ngài chìa tay chạm vào một khóm cây gần kề rồi ngắt lấy một đoạn trông như cành khô có vài chiếc lá tí hon đang nảy lộc. Ngài trao cho Mack, trong khi giơ hai tay lên để tránh chạm vào.

Sarayu cười. “Có ta đây mà, Mack. Có những lúc chạm vào an toàn, và có lúc phải cẩn trọng. Đó là sự kỳ thú và phiêu lưu của khám phá, một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 7

Đang tải bình luận...