Nước Nhật mua cả thế giới

phần còn lại của thế giới”.

phần còn lại của thế giới”.

phần còn lại của thế giới”. Những tuyên bố của Jacques Calvet, chủ tịch hãng xe hơi PSA có ảnh hưởng trong giới kinh doanh. Chính ông cũng lên giọng cứng rắn. Trên trang nhất báo Le Monde, ông ta tuyên bố: “Châu Âu là pháo đài cát”. “Thế giới hiện nay như đang chia thành ba khu vực kinh tế riêng biệt: hai khu vực đã là những pháo đài vững chắc, đó là thế giới Bắc Mỹ và thế giới

Nhật Bản, khu vực thứ ba là châu Âu, vừa ủy mị vừa hơi ngây thơ, chỉ nghĩ đến việc bù đắp sự chậm trễ của mình bằng cách thiết lập cũng một thực thể kinh tế vững chắc như của Bắc Mỹ và Nhật Bản”. Theo ông, sự thách đố của Nhật Bản có luật chơi rất rõ ràng: “Người Nhật hơn bất kỳ ai khác, hiểu rằng nều mậu dịch quốc tế giống như một trận quyền anh mà luật chơi là ra đòn và không bao giờ nhận đòn”. Trong lĩnh vực xe hơi, cuộc chiến đấu đặc biệt là không cân sức: “Năm 1988, thị trường chung châu Âu (CEE) nhập 1.212.000 xe Nhật; trong cùng thời gian đó. Nhật Bản chỉ nhập 111.500 xe của châu Âu”. Ông ta nói tiếp: “Nhật Bản, một nước tự do mậu dịch, lại nhập của cả thế giới một số xe ít hơn cả số lượng họ xuất sang nội nước Pháp, vốn là một nước được “bảo hộ” với một quota hạn chế việc nhập xe Nhật”. Jacques Calvet cho rằng các loại xí nghiệp phi địa phương hóa của các xí nghiệp Nhật Bản nằm ở giữa châu Âu chính là hiểm họa đối với các nhà chế tạo châu Âu. “Nếu trong thập kỷ tới 1.500.000 xe hơi Nhật được chế tạo ở châu Âu theo mức đầu tư đã được công bố, thì điều đó theo logic “toán học” là một trong sáu nhà chế tạo xe hơi của châu Âu sẽ tiêu vong (Fiat, Volkswagen, PSA, Ford châu Âu, Opel-Vauxhall hay Renault)”. Chủ hãng Peugeot lại lập luận: Người Nhật đến châu Âu không tạo thêm công ăn việc làm. Ngược lại, họ tạo ra sự thất nghiệp. Điều mà Jacques Calvet yêu cầu là sự hòa hợp châu Âu chứ không phải là sự tự do-mậu dịch không cân xứng với Nhật Bản. Cho nên, châu Âu phải áp dụng chế độ hạn ngạch trong việc nhập xe Nhật vào CEE bao gồm trước hết là xe từ Nhật Bản và cả xe chế tạo ở các xí nghiệp của Nhật Bản tại châu Âu. Những hạn ngạch này phải được duy trì trong một thời gian chuyển tiếp ít nhất là 10 năm, đủ cho nền công nghiệp xe hơi của châu Âu có thể tổ chức lại và có sức đề kháng. Và ông ta kết luận: “Không nên bối rối, chúng ta mạnh, chúng ta chủ trương sự cạnh tranh và chúng ta thực hiện điều đó hàng ngày. Nhưng sẽ là tự sát nếu mở rộng sự cạnh tranh với những nhà doanh nghiệp mà bản thân họ không muốn có cạnh tranh, vì họ có nền văn hóa riêng của họ. Đối với họ, cần nhân danh những nguyên tắc của chúng ta”.

Jacques Delors, chủ tịch cộng đồng châu Âu cũng không còn giữ nổi sự dè dặt. Trong cuộc tranh luận trên tạp chí Alternatives Economiques vào đầu tháng 10/1990, ông đã cho rằng châu Âu đã thất thế khi đối mặt với Nhật Bản vì sự chia rẽ giữa các nước trong khối CEE vốn không có một đối sách chung trước sự cạnh tranh của Nhật Bản. Bằng lập luận đanh thép của một luật sư, ông nói thêm: “Đối với người Nhật, cần phải biết tấn công, trong giới hạn sự lịch sự cho phép. Không có cách nào khác”. Một số quan chức trong bộ công nghiệp và thương mại quốc tế Nhật Bản (MITI) đang theo đuổi “cuộc chiến tranh Thái Bình Dương đằng sau bàn giấy của họ” và “áp đặt một hình thức thống trị ở châu Âu mà chúng ta phải đối đầu”. Edith Cresson: Nước Nhật đang làm bá chủ Cuộc phỏng vấn bà Edith Cresson diễn ra tại phòng làm việc của bà trên đại lộ Raymond-Poincaré ở Paris, lúc đó bà còn là Bộ trưởng phụ trách các vấn đề châu Âu. Bà tiếp tôi rất nhiệt tình. Nước Nhật là một đề tài bà say mê. Cuộc đấu tranh hàng ngày của bà rất dũng cảm và đáng kính phục: Huy động toàn châu Âu hợp nhất để chống lại áp lực của nền công nghiệp Nhật Bản. Về điều đó, bà không hề sợ bị quấy rầy. Với sự ủng hộ ngầm của tổng thống F.Mitterrand – ông không bao giờ nhắc nhở bà phải “trở lại trật tự”, bởi bà rất gần gũi với F.Mitterrand trên bình diện chính trị - bà không ngần ngại bày tỏ công khai những điều mà nhiều người khác có thể e ngại, chỉ dám suy nghĩ thầm kín. Ngày 10/1/1990, bà tuyên bố: “Rõ ràng là giờ đây Nhật Bản là một đối thủ không tuân theo luật chơi và đang nuôi quyết tâm thống trị thế giới. Thật ngây thơ và mù quáng nếu không ý thức được điều đó”. [85] Ngày 30/4/1990, bà dự định thành lập ở Pháp một “Bộ chỉ huy tối cao của cuộc chiến tranh kinh tế” để đối đầu với sự chiến tranh của Nhật Bản và Hoa Kỳ [86] . Ngày 8/7/1990, chỉ vài ngày trước chuyến viếng thăm chính thức Nhật Bản của Thủ tướng Pháp, bà đã khuyến cáo Michel Rocard không được “hạ mình” trước người Nhật và tuyên bố rằng đối mặt với mối hiểm họa Nhật Bản ngày càng tăng: “Tôi cho rằng chúng ta đã bước đến gần thảm họa quốc gia ở một số ngành công nghiệp và chúng ta đã “buông

xuôi hai tay rồi” [87] . Sự rời bỏ chính quyền của bà, coi như một sự từ chức, đã được thông báo ngày 2/10/1990. Hôm sau, bà tuyên bố trên đài phát thanh rằng bà muốn từ chức là vì bà có cảm giác “nói vào khoảng không”. Ngồi trước “người đàn bà sắt” của nước Pháp (danh hiệu đó chắc chắn không phải để vui lòng bà), tôi trao lại cho bà bản sao những cuộc trao đổi của tôi ở Nhật Bản. Edith Cresson rõ ràng rất vui khi biết rằng cũng có những người Nhật chia sẻ quan điểm của bà. Gương mặt bà bỗng rạng rỡ một nụ cười thông cảm và bà rời bàn giấy đến ngồi cạnh tôi. Ở Nhật Bản những tuyên bố của bà gây chấn động lớn. Ở châu Âu, hành động của bà là nhằm thống nhất châu Âu vào năm 1992. Song liệu bà có được châu Âu lắng nghe hay không ? “Ồ, có chứ, tôi tin như thế. Hơn nữa tôi đã nhận được nhiều thư, không chỉ ở Pháp, mà từ nhiều nước ở châu Âu, có cả những người đã tiếp xúc, quan hệ làm ăn với người Nhật. Tôi tin rằng những điều tôi phát biểu phản ánh điều nhiều người đã nghĩ đến mà không nói ra, ít nhất là theo những gì họ đã viết cho tôi. Tôi luôn ngạc nhiên thấy rằng người ta không nói ra điều mình suy nghĩ, nhất là khi họ giữ những trọng trách trong chính trường. Trong lĩnh vực chính trị, đương nhiên người ta không thể nói hết những điều người ta suy nghĩ. Nhưng tôi cho rằng cần phải bày tỏ quan điểm trên những vấn đề trọng đại, nếu những lời nói đó không gây ra những tác động cho chính sách đối nội, không làm cho thất cử. Tôi không thể hiểu tại sao những nhà chính trị có trách nhiệm lại không lên tiếng báo động chính phủ họ. Tôi nghĩ họ được trả lương vì nhiệm vụ đó và đó là vai trò của họ”. Tôi hỏi bà Bộ trưởng liệu những đồng sự của bà có chia sẻ ý kiến của bà về mối đe dọa của Nhật Bản không ? “Có những nước vấn đề ấy không được đặt ra. Ví dụ như Irlande mà mãi gần đây còn giữ chức chủ tịch Cộng đồng châu Âu. Vấn đề Nhật Bản đối với họ hầu như không đặt ra. Càng có nhiều xe Nhật đến Irlande, càng cạnh tranh thì giá càng hạ; đối với giới trung lưu Irlande, như vậy tốt hơn. Họ không nhìn xa hơn. Tôi nói với họ “Khi các ông có thêm hàng trăm ngàn người thất nghiệp trong Cộng đồng châu Âu thì chúng tôi có thể sẽ

giảm mức đóng góp cho quỹ cứu trợ của Cộng đồng châu Âu dành cho những vùng khó khăn của Irlande”. Thế nhưng đó là một khía cạnh của vấn đề mà họ không hề nghĩ đến. Người khác thì nghĩ đến điều đó ngay. Và cũng có người có tư duy chính trị. Tôi lấy ví dụ như người Hy Lạp, nền kinh tế Hy Lạp giống Irlande, là không có công nghiệp xe hơi. Nhưng người Hy Lạp là những nhà chính trị; họ chia sẻ quan điểm của tôi trong cộng đồng Âu châu. Còn người Anh, người ta đã biết đến lập trường của họ, họ cũng không có công nghiệp xe hơi, họ đang cố xây dựng công nghiệp đó. Ngoài ra tôi cũng khẳng định những ý kiến phản đối của người Anh nhấn mạnh đến việc: tất cả lợi nhuận đều được chuyển về Tokyo. Như vậy, một số nơi đã có ý thức. Người Đức, bao giờ cũng vậy, quan điểm của họ hàm hồ hơn. Những nhà chế tạo Đức rất sợ sự xâm nhập của Nhật Bản; họ phát biểu điều đó trong những cuộc gặp riêng, còn chính phủ của họ thì cứ nói chẳng có gì phải sợ hãi. Thói thường xưa này ở Đức vẫn nói: “Chúng tôi không sợ gì cả vì chúng tôi mạnh hơn và không gì có thể cưỡng lại chúng tôi”. Đó là một lập luận hơi phi lý, vì khi khó khăn xảy đến thì có thể đã quá chậm. Tuy nhiên, như vẫn thường xảy ra ở châu Âu. chúng tôi cũng đã có được một thỏa thuận tổng quát về một lập trường phù hợp trong vấn đề xe hơi. Và đặc biệt giới chức trách Đức cũng đã cảm thấy mối đe dọa thực sự đang tồn tại. Tôi cho rằng cảm giác đó đã được chia sẻ kha khá”. Người Nhật cũng có cuốn sách Mein Kampf của họ [88]

Nếu như châu Âu đã thỏa thuận được với nhau rồi thì tại sao lại còn có quá nhiều thái độ dè dặt đối với chính phủ Nhật Bản ? Tại sao lại im hơi lặng tiếng như vậy ? “Đó là điều tôi không sao hiểu nổi. Tại sao người ta không nói ra điều đó ? Tôi không có câu trả lời. Có phải là một thứ lịch sự không đúng lúc không ? Bà Cresson đề cập đến một tác phẩm của ông chủ hãng Sony. Akio Morita, và của nghị sĩ cánh hữu, Shintaro Ishihata, Nước Nhật có thể nói “không”. Cuốn sách đó kêu gọi nước Nhật trở nên hùng mạnh để cuối cùng trả lời “không” trước các yêu sách của nước Mỹ, ông ta đề cập đến siêu đẳng về chủng tộc của người Nhật. Edith Cresson nói tiếp: “Rốt cuộc thì người Nhật cũng viết cuốn “Mein Kampf” của họ, Nước Nhật có thể nói “không”, điều đó giống hệt như cuốn Mein Kampf thật. Cuốn sách ấy đã mô tả tất cả những gì sẽ xảy ra. Hồi đó cuốn Mein Kampf còn được dịch ra tiếng Pháp. Người Pháp nào không muốn đọc nó thì không cần đọc. Ông thấy đấy, khi người ta không muốn nhìn thấy điều gì thì người ta không cần nhìn nó. Cuốn Mein Kampf không được dịch ra một cách chính thức. Nhưng cuối cùng những bản dịch lén lút vẫn xuất hiện, những người “thạo tin” sẽ có sách đọc”. Để ngăn chặn những quyết định bất lợi cho họ, hoặc để sửa lại những quyết định một khi đã được ký, người Nhật quả là những nhà vô địch trong thủ đoạn vận động giới lãnh đạo Mỹ. “Những người ở chỗ chúng tôi gọi là “thạo tin”, thì có tất cả các văn bản mà đại diện thương mại của chúng tôi ở Washington gởi về - chẳng hạn như tài liệu về hoạt động hành lang của người Nhật. Họ biết rõ cách thức mà người Nhật đã tiến hành để “mua” người như thế nào. Thô thiển như là với một tấm séc. Nhưng cũng có những thủ đoạn tinh vi hơn. Một giáo sự đại học hào phóng nào đó thành lập một tổ chức. Rồi tổ chức này gặp khó khăn. Thế là, người ta trợ cấp cho nó v.v... Tất cả điều đó được giải thích rất hợp tình hợp lý. Khắp nơi đều như thế cả, chúng tôi quá biết rõ”. Bà Bộ trưởng phản ứng công khai chống lại người đồng sự của bà thời đó là ông Roger Fauroux, Bộ trưởng Bộ công nghiệp. Đối với ông ta, nếu công nghiệp xe hơi Pháp không đương cự được với công nghiệp Nhật Bản thì đó là vì xe Nhật tốt hơn xe Pháp.

“Khi tôi nghe ai đó trong giới chức trách của nước Pháp nói: “Đó là lỗi của chúng ta, vấn đề là phải làm tốt hơn”, thì tôi cho rằng nói như thế chưa đủ. Không phải là hoàn toàn sai. Đúng là chúng ta phải làm tốt hơn. Nhưng ở Pháp và ở châu Âu, việc phân tích cặn kẽ chiến lược của Nhật Bản mới chỉ được tiến hành trong một phạm vi rất hạn hẹp”. Điều đó có nghĩa là ông Fauroux không hiểu gì về ý đồ thực sự của người Nhật ? “Đúng vậy ! Ông ta tỏ rõ điều ấy mỗi ngày. Đặc biệt là trong vấn đề xe hơi giữa Pháp và Nhật Bản. Ông có biết là hãng Mazda đã sử dụng điều ông ấy nói trong quảng cáo của họ như thế nào không ? Ai đã báo cho tôi biết điều đó ? Chị bạn tôi là bà Anne Marie Lizin, người Bỉ, Bộ trưởng châu Âu 1992, chị gởi cho tôi mẫu quảng cáo của hãng Mazda. Điều đó có nghĩa là ở cộng đồng châu Âu, trong đó có nước Bỉ, là nước không sản xuất xe hơi – đã tỏ rõ thái độ phản đối trước cái quan điểm vừa ngây thơ vừa rất vô trách nhiệm như vậy”. Đường lối chiến tranh, chiến lược chinh phục Trước bao mức độ cảm nhận khác nhau ở châu Âu, liệu CEE có thể tiến hành một chiến lược chung không ? “Tất nhiên là được. Chúng tôi sẽ thỏa thuận được với nhau thôi. Trước hết là về vụ xe hơi. Một thỏa ước đang gút lại. Có một thiểu số chủ trương phong tỏa mạnh gồm Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp cũng đã đứng về phía chúng tôi. Ngoài ra, một số nước có lập trường cực kỳ mềm dẻo, đó là Bỉ và Đan Mạch, nói chung là họ có xu hướng giống như Đức là giao cho cộng đồng châu Âu. Ông Andreissen, người đại diện đàm phán của châu Âu, sắp ký với Nhật Bản một thỏa ước hạn chế việc thành lập các xí nghiệp Nhật Bản ở châu Âu”. Edith Cresson nói thêm: “Nhưng trường hợp xe hơi là một trường hợp riêng. Tôi cho rằng không nên đặt vấn đề Nhật Bản chỉ trên cơ sở vụ xe hơi. Người Nhật theo đuổi chiến lược chiến tranh và chinh phục. Họ có khả năng mua một phần thị trường bằng cách chịu thua lỗ trong một thời gian nào đó. Họ có khả năng tiến hành một chính sách tài chính, tiền tệ bằng cách hạ giá đồng yên và lại

đẩy giá lên theo từng đợt tấn công liên tục. Bởi lẽ các nhà kinh doanh ngân hàng Pháp giải thích rất rõ cho chúng tôi: mỗi cuộc biến động của đồng yên đều diễn ra trước một đợt tấn công mới được tính toán kỹ lưỡng đối với tất cả các sản phẩm. Đó thực sự là một đường lối chiến tranh mà người ta buộc người dân Nhật phải chịu đựng bằng một mức sống như thời chiến. Dân tộc Nhật chấp nhận chiến lược chinh phục đó với một thái độ thụ động mà người phương Tây không thể hình dung nổi. Bởi vậy, chúng ta phải cư xử với họ theo cách của họ. Họ không như chúng ta. Họ có một triết lý sống khác chúng ta và chúng ta phải chú ý đến điều đó. Quả là ở Âu châu, vì ngây thơ, vì quyền lợi trước mắt mà một số người không nhận thức được điều đó. Nhưng tôi tin rằng một lần nữa sứ mệnh của một chính khách là phải nói ra điều đó”. Tuy nhiên, người ta còn nhớ là vào những năm 60, đầu tư của Hoa Kỳ lúc đó cũng bị la ó. Một bộ phận dư luận đã lên án Hoa Kỳ và những công ty đa quốc gia hàng đầu là tiến hành chủ nghĩa thực dân mới về kinh tế. Tuy nhiên, cuối cùng, khi xem xét tình hình một vài năm sau đó, thì tư bản Hoa Kỳ lại đã có vai trò cứu tinh, vì nó thúc đẩy nền kinh tế Âu châu. Edith nhất trí nhận định này: “Vâng, đúng là vậy. Trong những năm 60, bản thân tôi chưa hề chống lại đầu tư của Hoa Kỳ. Nhưng Mỹ và Nhật là chuyện không giống nhau. Người Mỹ có chiến lược của một tập đoàn công nghiệp mạnh nhằm chiếm lĩnh thị trường. Nhưng cái Targeting tức là xác định mục tiêu để tiêu diệt đối phương bằng cách chọn một khâu yếu, một mắt xích mỏng manh trong chuỗi xích, sau đó mở rộng và chuyển sang các mục tiêu khác, điều đó người Mỹ không làm. Họ không làm bởi vì điều đó không nằm trong nền văn hóa của họ. Đầu tư của Hoa Kỳ không gây ra vấn đề gì, thường họ hợp tác với hệ thống sản xuất tại chỗ. Nhưng khi tôi xem xét các thống kê về công nghiệp xe hơi Nhật ở Mỹ, tôi phát hiện thấy dưới hình thức gia công đặt hàng, các xí nghiệp Nhật Bản mua của các công ty Nhật Bản một tỷ trọng cực lớn hoặc nhập khẩu từ Nhật Bản, hoặc từ các công ty Nhật Bản tại chỗ. Điều đó có nghĩa là, kể cả dưới hình thức gia công đặt hàng, tức là một hình thức làm ăn bao quát nhất, người Nhật vẫn chỉ làm ăn giữa họ với nhau. Điều đó là rõ. Ở đây có một chiến lược không hề giống chút nào với chiến lược của người Mỹ”.

Nhật Bản, kích thích tố cứu nạn ? Nhật Bản có thể đóng vai trò một kích thích tố nhằm đánh thức một lục địa già nua đang ngủ yên trên những chiến tích huy hoàng của nó chăng ? Edith đồng ý. “Chắc chắn như vậy. Cuộc tiến công của Nhật Bản có thể và phải đóng vai trò kích thích tố. Nhưng, muốn cho vai trò đó có hiệu quả, thì châu Âu và trước hết là nước Pháp, phải được tổ chức lại. Việc tổ chức lại đó, tôi xin nói ra ngay là chưa diễn ra. Chừng nào nó còn chưa diễn ra thì mọi việc còn hỏng bét”. Đúng là thảm kịch ! Các chính phủ châu Âu lại chưa nhận thức đầy đủ về tính chất nghiêm trọng của tình thế. “Trong dư luận đã nhận thức được rồi. Nhưng, như thói thường, dư luận ở Pháp lại nói: “Ồ, ta thua ở hệ PAL và hệ SECAM rồi thì lại cũng sắp thua trong lĩnh vực truyền hình có độ nét cao thôi”. Cái lối nói liên tục như vậy chỉ có thể bị chặn lại khi chính phủ nhận thức được điều đó, nhưng hiện nay chưa có được điều đó, mặc dù tôi đã cố gắng hết sức. Chừng nào mà còn chưa có được sự nhận thức ở cấp nhà nước, thì theo tôi, là còn tai họa (...) Ở Pháp, chúng ta đang nằm trong một cơ chế mà trong đó bộ máy hành chính lãnh đạo, cả các bộ trưởng và ở đó người ta không nói thẳng sự việc. Bởi vì điều đó không tốt, bởi vì điều đó thiếu chính trị. Tôi sẽ ngạc nhiên nếu có một cựu sinh viên trường hành chính nào đó nói công khai một điều có thể gây khó chịu, hoặc chỉ đơn giản là gây hoài nghi”. Khi được hỏi, người Nhật thường trả lời rằng chính sách bảo hộ mậu dịch của châu Âu là vũ khí của kẻ yếu. Bà Bộ trưởng nghĩ gì về ý kiến này ? “Quả đúng vậy. Tuyệt đối đúng. Chính sách bảo hộ mậu dịch là vũ khí của kẻ yếu. Và tôi xin nói thêm: đó chỉ có thể là tạm thời. Nhưng nếu chúng ta ở vào thế yếu so với người Nhật thì: - Một là, bởi vì người Nhật có một hệ thống chính trị, một nền văn hóa khác hẳn chúng ta. Chúng ta ở trong thế yếu, là bởi vì chúng ta không vận động theo cách như họ. Từ nhiều thập kỷ nay, chúng ta không chuẩn bị điều kiện cho việc đọ sức với một hệ thống khác hẳn.

- Hai là, bởi vì cũng giống như hệ thống chính trị của chúng ta, chính phủ chúng ta, “giới tri thức ưu tú của chúng ta” còn chưa nhận thức được mối hiểm họa, để từ đó tự tổ chức lại. Chúng ta yếu kém tới hai lần. Ông thấy đấy chẳng vui thú gì khi phải đi giải thích cho người Đức tại bàn hội nghị ở Bỉ rằng chúng ta còn phải mất nhiều năm nữa. Trong khoảng thời gian đó, tôi biết người Đức họ nghĩ gì. Điều đó chẳng làm tôi thích thú gì. Tôi muốn có thể tuyên bố như ông Helmut Haussman (Bộ trưởng Bộ Kinh tế Đức): “Chúng tôi không sợ bất cứ ai”. Ngay cả khi theo ý tôi ông ta sai lầm, kể cả trong bảo vệ quyền lợi của chính người Đức”. Nước Anh, thuộc địa của Nhật Bản ở châu Âu. Khi đề cập đến trường hợp nước Anh, Edith Cresson trở nên gay gắt. Liệu có thể nói đến một sự khởi đầu của chủ nghĩa thực dân về kinh tế của Nhật Bản ? “Vâng, đúng vậy”. Tôi có thể viết thêm điều đó trong tập sách chứ ? “Được chứ ! Cứ nói: họ coi chúng ta là những con chó xù ! Ông cứ nói thẳng như vậy. Đó là khởi đầu của chủ nghĩa thực dân về kinh tế, và bởi vậy cũng là chủ nghĩa thực dân về chính trị. Hai tính chất ấy không bao giờ tách biệt. Sức mạnh kinh tế đi đôi với sức mạnh chính trị. Ngoài ra, tôi chờ đợi ngày người Nhật giữ vị trí siêu cường thứ nhất, kể cả họ không mong muốn điều đó, bất kể sự nghèo khổ của những nước thế giới thứ ba. Song, đơn giản là họ sẽ được đưa đến đó. Trong cuộc chạy đua vào vũ trụ, họ cũng sẽ có mặt. Hãy xem. thỏa ước giữa Mitsubishi và Daimler; Daimler ra vẻ như ông thánh, song lại chỉ chờ chực để la tướng lên mình là một người khổng lồ ở châu Âu. Tốt thôi, nhưng, như người ta thường nói, đó là những cái đáng “đặt vấn đề” với chúng ta (Bà Edith Cresson phá lên cười). Đúng. Tôi nghĩ rằng, đối với những chuyện như vậy, có những nỗi kinh sợ dưới dạng tiềm ẩn và cần phải cố lý giải chúng. Chúng ta cần phải có con mắt tinh tường hơn, và thường phải tự hỏi: “Người ta đang làm gì ?”. Chúng ta cần xây dựng cả một hệ thống đáp trả lại. Ta có đủ thông minh và tiền bạc đề làm điều đó”. Chủ nghĩa thực dân cực đoan.

Khi quan sát nước Nhật, người ta đều quả quyết rằng nước Nhật không thay đổi và sẽ không bao giờ thay đổi. Tôi lưu ý bà Bộ trưởng rằng những nhận xét đó là sai lạc và sẽ thiệt cho kẻ nào nhục mạ nước Nhật. Bởi vì nước Nhật thích nghi rất giỏi với những chuyến biến của thế giới. Và hơn nữa, đây là một trong những sức mạnh hàng đầu của Nhật Bản. Liệu Nhật Bản có thể thích nghi với một hệ thống tự do-mậu dịch hay không ? Liệu đó có thể là một trong những vấn đề lớn của tương lai không ? Edith Cresson vặn hỏi lại: “Khi nào hệ thống phi mậu dịch-tự do còn là một bộ phận gắn bó thiết thân với bản chất của Nhật Bản, thì tôi tin rằng họ có thể thay đổi trên nhiều lĩnh vực. Ngoài ra, Nhật Bản thay đổi dần dần theo đà người Nhật đi ra nước ngoài và mọi người sống khác đi. Chúng ta thấy rõ là điều đó làm họ thèm thuồng. Phụ nữ sau khi tốt nghiệp đại học, không còn muốn trở thành những thứ trang điểm ở bàn giấy, mà muốn tiến tới nhận những trọng trách. Nhiều người trước đây sống khác, giờ cũng đang ước vọng một điều mới mẻ. Có thể xã hội sẽ đổi thay. Nhưng còn hệ thống bảo hộ mậu dịch của Nhật Bản vốn đã bắt rễ sâu, thì quả là tôi rất ngạc nhiên nếu như nó thay đổi. Hơn nữa, họ đã tích tụ được một ưu thế nhờ chính sách bảo hộ mậu dịch, đến mức họ có thể bề ngoài làm ra vẻ ít “bảo hộ” hơn trên một số mặt hàng được chọn lựa ký, như là mặt hàng cao cấp, hàng sang trọng. Và họ có thể tiếp tục hoạt động nhằm mục tiêu vĩ đại của họ mà có lần họ đã giải thích cho một trong số cộng tác viên của tôi, là xây dựng những xí nghiệp hoàn toàn tự động hóa không có công nhân, cắm ở khắp thế giới và điều khiển từ xa, từ nước Nhật. Đó là chủ nghĩa thực dân cực đoan ! Điều đó quả chưa ai hình dung nổi, ngay cả trong những tiểu thuyết viễn tưởng loại Le Meilleur des mondes”. [89] Tuy nhiên, người Nhật hầu như đều đồng một giọng điệu rằng họ không có khả năng thống trị thế giới. Thời đại “bá quyền” đã qua rồi. Thay vào đó là thời đại của sự tương thuộc. Bà Bộ trưởng không chút ngập ngừng đáp lời: “Đúng, nhưng trong sự tương thuộc, bao giờ cũng có một kẻ lệ thuộc nhiều hơn vào kẻ kia. Chắc chắn là người Nhật không thống trị hoàn toàn thế giới trên mọi lĩnh vực. Điều đó là tất nhiên. Đơn giản là vì họ không

cần có mặt ở khắp nơi. Họ thống trị trên những lĩnh vực then chốt. Đứng ở đầu nguồn, họ bán những hợp chất cần cho công nghiệp theo lối nhỏ giọt, tùy thích. Họ thống trị bằng cách như vậy đấy. Họ thực hiện một vài cử chỉ tượng trưng như mua trung tâm Rockefeller hay tranh của Van Gogh. Họ có quá nhiều tiền để làm lóa mắt thiên hạ, họ khéo rót tiền vào những nước nghèo và những nước có thể đột nhiên trở thành những điểm nóng đối đầu cho họ. Ai nói rằng ngày nào đó, như họ đã viết trong cuốn sách Nước Nhật có thể nói “không”, họ không nắm lấy nguồn tài nguyên của Sibérie ? Trong tình hình Liên Xô và Sibérie hiện nay, đó phải chăng là tưởng tượng ra ?”. Châu Âu phải bảo vệ các giá trị của mình Ngoài việc bảo vệ nền kinh tế của từng nước hay cả châu Âu, vấn đề căn bản phải chăng là bảo vệ lối sống và những giá trị tinh thần ? “Chúng ta đấu tranh không chỉ để bảo vệ các xí nghiệp. Đấu tranh là để bảo vệ lối sống và những giá trị tinh thần. Bảo vệ xã hội là không để xảy ra những trường hợp tử tự chỉ vì có một điểm xấu ở trường học, là nỗ lực đạt đến sự công bằng hơn, tất cả những gì đeo đuổi, chính là bảo vệ nền văn hóa của chúng ta. Chúng ta không muốn người ta đưa các cụ già của chúng ta đến một nơi cách xa 22.000 cây số, chết ở đó không người thân, không có gì hết, bao quanh chỉ toàn hàng hóa Nhật”. Bà Edith Cresson lại cười vang trong phòng. Cái dự án đưa người già đến nơi “lầu son gác tía” để an dưỡng cuối đời tận bên kia góc trời nhằm tiết kiệm của người Nhật, đã khơi lên ở bà một sự công phẫn sâu sắc. “Thật là ghê tởm ! Hoàn toàn vô nhân đạo ! Châu Âu không thể làm thế. Nước Pháp không thể làm thế. Đó là cái đáng nôn mửa ! Không chỉ bác bỏ mà là nôn mửa !” Dẫu sao, nước Nhật cũng có cái gì hấp dẫn chứ, thưa bà Bộ trưởng ? “Nghệ thuật. Tất nhiên có một số họa sĩ, một số nhà trí thức. Cả điện ảnh nữa. Đó là những con người biết đặt ra những vấn đề nghiêm chỉnh. Tôi tin rằng ở Nhật Bản có nhiều người đã đặt vấn đề về tương lai của một dân tộc, một dân tộc mà người ta đã nhồi nặn thành một thứ tổ mối và mù quáng khi muốn nuốt chửng cả thế giới. Vì lẽ gì ? Tôi thấy điều đó gây

nguy hiểm cho thế cân bằng của thế giới. Người Nhật phải tự hỏi. Chính họ chẳng đã có lần phải chịu đau khổ vì chính cái chủ nghĩa cực đoan của họ đó sao ? Không thể để người Nhật đau khổ thêm một lần nữa. Bởi vì chắc chắn thế giới không để bị người Nhật thống trị, nô dịch. Chắc chắn là không. Tôi tin chắc như vậy. Đơn giản là vì nếu có xung đột thì điều đó sẽ thật tệ hại, tệ hại riêng cho người Nhật. Tôi tin nhiều người Nhật, giới trí thức Nhật đã bắt đầu tự đặt ra vấn đề đó”. Edith Cresson hơi nổi giận, vì bà vừa nhớ lại một vụ tình báo công nghiệp từng gây phẫn nộ: “Thật không thể tha thứ được. Lúc tôi bàn về dược phẩm với những nhà công nghiệp Thụy Sĩ, họ vốn không phải là những người táo bạo, cũng không phải là hạng quá khích, họ nói với tôi rằng khi một nhà nghiên cứu châu Âu làm việc cho viện Hoffman-Laroche, hay một viện bào chế nào đó có một phát minh mới, thì ông ta liền cho công bố bằng tiếng Anh trên các tạp chí quốc tế. Người Nhật không để mất một phút. Họ vồ lấy phát minh đó. Tất nhiên, họ không có quyền sử dụng nó trong công nghiệp. Phát minh được công pháp quốc tế bảo vệ. Nhưng họ đưa nó trở lại phòng thí nghiệm, rồi từ đó họ hoàn thiện và tìm cách kinh doanh nó. Không phải là tôi bịa ra điều đó ! Để xác minh điều này cũng rất khó, vì chuyện ấy diễn ra trong phòng thí nghiệm. Chính người Thụy Sĩ nói: “Chúng tôi không có khả năng tự bảo vệ để chống lại hành động kẻ cướp như vậy. Chúng tôi trả thù lao cho người của chúng tôi khá tốt và họ rất vui lòng. Nếu có cách tự bảo vệ được thì những người ăn lương Thụy Sĩ sẽ hạnh phúc hơn”. Về vấn đề này, bà Bộ trưởng có lý. Bản thân tôi đã tìm được bản thông báo ngày 16/8/1990 về vụ án hình sự của Thụy Sĩ đối với hai người Thụy Sĩ, gồm một nhà hóa học và một cố vấn thương mại bị tình nghi đã bán cho các nhà công nghiệp Nhật Bản những thông tin kinh tế, trong đó có các phương pháp công nghệ, đáng giá nhiều triệu quan Thụy Sĩ. Gần đây lại có một hồ sơ khác: Một kỹ sư ở Los Angesles bị bắt và đã bán cho hãng Mitsubishi, Nissan và Toshiba những bí mật quân sự và công nghiệp của Hoa Kỳ [90] . Có vô số những ví dụ về tình báo công nghiệp nhằm phục vụ cho quyền lợi của Nhật Bản. Bà Cresson tiếp:

“Thụy Sĩ là một nước nhỏ, nhưng có vị trí trong trường quốc tế nhờ chất lượng sản phẩm tuyệt vời của họ. Người ta đã giết chúng tôi khi giết mặt hàng đồng hồ Thụy Sĩ. Họ giết chúng ta. Tôi cố ý không muốn nêu ví dụ về nước Pháp. Nước Nhật đang giết và đang có giết nền công nghiệp dược phẩm của chúng ta. Vốn đầu tư của chúng ta vào ngành đó cuối cùng sẽ mất hết. Mọi nỗ lực sẽ tiêu ma. Tôi cho đó là lường gạt. Ở châu Âu, những người vô trách nhiệm lại nói “Nói thế là quá đáng. Không nên nói như thế”. Phần tôi, tôi cho rằng những người đó không am hiểu vấn đề gì cả”. Năm 1945, người Mỹ đã phạm sai lầm Có thể rút ra kết luận gì từ sự tiến công của người Nhật ? “Tôi cho rằng người Nhật phải dè chừng đấy. Tôi nghĩ rằng có điều gì đó trong nền văn hóa Nhật Bản mà ta phải xem chừng. Ngược lại với người Đức (tôi không nói là vấn đề nước Đức đã được giải quyết), người Nhật không bao giờ tự xét lại mình. Sau chiến tranh chỉ vì có quả bom nguyên tử ấy, người Mỹ theo tôi đã sai lầm và họ cảm thấy có tội. Tại sao ? Nói cho cùng quả bom nguyên tử cũng không đến nỗi tệ hại như những cuộc ném bom thành phố Dresde. Tôi nói người Mỹ đã lầm và đã thấy mình có tội. Họ đã bố trí ở Nhật Bản ông Mac Arthur tốt bụng, có đủ các đức tính, trừ một bản lĩnh chính trị, trong đầu ông ta lúc đó chỉ có một ý nghĩ: phục hồi nước Nhật ! Nhất thiết phải giúp đỡ các dân tộc đang ở trong một tình trạng bi thảm. Nhưng cả trên bình diện tâm lý và đạo đức, tôi nghĩ người Mỹ phải tự hỏi về những điều họ đã làm. Phải có trách nhiệm. Tại sao và bằng cách nào đã để xảy ra bao nhiêu lỗi lầm như vậy ? Thế là, cái tang đó vẫn chưa chấm dứt”. Bà Bộ trưởng nói thêm: “Trên bình diện tâm lý, tôi nghĩ rằng hôm nay chúng ta phải trả giá cho đường lối chính trị của Mac Arthur, là đã vực dậy nước Nhật từ trong hố thẳm hoang tàn, tất nhiên là để chống lại người Nga và Bắc Triều Tiên, bởi lúc đó là thời kỳ chiến tranh lạnh. Về chiến tranh lạnh, vấn đề trách nhiệm thuộc về ai thì hoàn toàn bị che lấp. Còn trách nhiệm của người Nhật thì không bao giờ họ đặt thành vấn đề, trừ một vài nhà trí thức. Không bao giờ

người Nhật tự vấn về trách nhiệm khủng khiếp của họ trong chiến tranh, đối với phương thức họ tàn sát các dân tộc trong những điều kiện thật ghê tởm. Và vì lẽ đó, người Nhật lại tự coi mình là nạn nhân !”. Edith Cresson bỗng cười phá lên: “Thói đời, bao giờ cũng có những kẻ tốt bụng lại đã tiếp sức truyền đi điều như thế trong các quốc gia ở châu Âu. Rốt cuộc, lại như thể chính những nạn nhân ấy, nhờ lao động của mình, đã tự giải thoát khỏi tình trạng khủng khiếp mà chúng ta dồn họ vào. Vậy thì phải chăng những nạn nhân này đương nhiên có quyền ngẩng cao đầu ? Liệu đó có phải là nội dung cần nói ? Đó là một nội dung mà từ cơ bản đã lệch lạc”. Có một vấn đề cuối cùng mà tôi muốn đề cập với bà Bộ trưởng: sự tự mãn của nước Pháp trên thế giới, và, với những vinh quang đã có, nước Pháp thực ra đã bỏ quên châu Á và bây giờ nước Pháp phải trả giá. “Quả đúng như vậy ! Chính De Gaulle đã nói như thế về những nhà buôn bán linh kiện bán dẫn. Tôi muốn nói rằng, trong đường lối chính trị truyền thống của nước Pháp đang tồn tại một khuyết điểm nghiêm trọng kéo dài cho đến nay. Khuyết điểm đó cho rằng kinh tế đúng là rất quan trọng, nhưng truy cho cùng, mọi việc đều được giải quyết trong các hội nghị quốc tế lớn. Nước Pháp luôn đọc những bài diễn văn hùng hồn. Bởi vậy, người ta cho rằng sức nặng của nền ngoại giao và của những người nước Pháp như thế là đủ rồi”. Nụ cười của bà Edith Cresson chuyển thành tiếng cười ngất. Bà trở thành chua chát: “Tất cả là một trò tầm phào ! Quả là mọi người đều vỗ tay tán thưởng. Nhưng chỉ có người Pháp là chưa nhận ra điều đó mà thôi”. Roger Fauroux: Không thể phân tâm dân tộc Nhật Khi tôi xin được gặp Bộ trưởng Bộ công nghiệp thì Roger Fauroux, người chủ cũ của Saint-Gobain đồng ý tiếp tôi không mấy khó khăn. Cuộc nói chuyện này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì ông và bà Edith Cresson có quan điểm khác hẳn nhau về nước Nhật, nếu không nói là hoàn toàn đối nghịch nhau. Là người thân cận của Thủ tướng Michel Rocard, Roger

Fauroux ủng hộ việc đầu tư của Nhật Bản vào nước Pháp và để cho sản phẩm Nhật tự do cạnh tranh với sản phẩm của châu Âu, song tất nhiên là rất cần tránh những va chạm có hại cho những lĩnh vực dễ bị tổn thương. Ngày 10/1/1990, nhân chuyến thăm Pháp của Thủ tướng Nhật Toshiki Kaifu, cũng là lúc bà Edith Cresson tuyên bố Nhật Bản đã tiến hành cuộc chinh phục thế giới, thì Roger Fauroux lại quả quyết ngược lại rằng sở dĩ xe hơi Nhật Bản thâm nhập được vào các thị trường “là vì có lẽ xe hơi của chúng ta không tốt bằng”. Ông ta nói thêm “không thể trách người Nhật là giỏi hơn chúng ta. Xe hơi Pháp chưa sánh được bằng với xe hơi Nhật”. Chưa bao giờ trong nội bộ chính phủ Pháp lại biểu hiện rõ rệt quan điểm khác nhau về vấn đề Nhật Bản như vậy. Những lời tuyên bố như thế đã tác động đến giới chế tạo xe hơi Pháp ? Một số vị lãnh đạo không giấu cảm nghĩ của họ: “Nếu như ông Bộ trưởng Bộ công nghiệp Pháp không muốn hạ uy tín xe hơi Pháp trước mặt người tiêu thụ, thì ông ta đã không làm như vậy”. Vài ngày sau, trả lời các nhà báo, Michel Ricard lúng túng nói: “Mỗi vị Bộ trưởng đều có lý của họ”. Hôm tiếp tôi, Roger Fauroux vừa họp Hội đồng Bộ trưởng xong. Thoải mái và nhiệt tình, ông lưu ý tôi rằng vấn đề nước Nhật không phải là chuyên môn của ông. Ông không có nhiều thì giờ, và tôi đề cập ngay đến vấn đề nóng bỏng: theo ý ông, liệu sau khi đã xua tan sự bại trận về quân sự, nước Nhật lại đang tìm cách phản kích về mặt kinh tế ? Ông trả lời ngay: “Không ! Điều đó thật vô lý. Xin lỗi, nhưng tôi cho cách hiểu như vậy là kỳ cục. Sự việc không phải như vậy. Đánh giá như vậy là muốn nhân cách hóa nước Nhật. Vả lại “nước Nhật” đâu phải là “ông Nhật”. Con người đó không tồn tại. Kiểu nói kích động ấy đã xưa như trái đất. Thật ra, những “ông” Nhật già bị thua trận năm 1945 không hề có ý tưởng đó, họ chỉ nghĩ thế này: “Ta sẽ chỉ ra cho người Mỹ khả năng ta có thể làm gì được”. Điều đó thì tôi chấp nhận. Tuy nhiên, anh cần biết rằng một khi mà anh muốn làm một cuộc “phân tâm tập thể” đối với một dân tộc, thì anh chỉ có thể nói những điều ngu xuẩn !”. Nước Nhật đã quên cuộc bại trận của mình Ông Bộ trưởng nói tiếp:

“Tôi không hiểu nước Nhật. Nhưng nhiều người am hiểu đất nước này đã nói với tôi rằng sự thua trận đối với họ đã lùi vào quên lãng. Có một hiện tượng rất lạ: người Đức càng nói nhiều về chiến tranh bao nhiêu thì người Nhật càng ít nói. hay không hề nói gì về chiến tranh. Làm như họ không bao giờ tiến hành chiến tranh. Những ông già Nhật 70 tuổi ấy ! Hồi đó họ ở đâu ? Đó là thời kỳ họ đã vùi chôn. Những người am hiểu nước Nhật nói người Nhật oán trách quân đội và hệ thống quân sự, vì đã dẫn họ đến sự tủi nhục. Đúng, đó là một dân tộc hùng mạnh, thông minh, khéo léo. Không có nguyên liệu, thì nước Nhật thực hiện vai trò một dân tộc mạnh. Như người Đức. Cả người Pháp cũng đang muốn làm như vậy”. Nhưng làm sao có thể tin người Nhật, khi trở thành những nhà tư bản kếch xù, họ lại không nghĩ đến một hình thức thống trị nào đó về kinh tế ? Roger Fauroux đáp: “Thống trị ư ? Nói thế là quá đáng. Đó chỉ có nghĩa là họ tiến hành chính sách công nghiệp của nhà tư bản. Nước Nhật là một nước nghèo, rất nghèo. Một nước nhỏ, hẹp, không có tài nguyên, không có dầu hỏa. Người Nhật có sự nhạy cảm khác xa với

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 58

Đang tải bình luận...