Nước Nhật mua cả thế giới

Phần lớn xe hơi Nhật Bản đã được sản

Phần lớn xe hơi Nhật Bản đã được sản

Phần lớn xe hơi Nhật Bản đã được sản xuất dưới nhãn hiệu nước ngoài. Nhưng từ nay, Nhật Bản không còn cần đến nó nữa.

Hệ số biến đổi trong các chỉ số sản xuất chính 1960 1970 Sản xuất công nghiệp 100 373 Sản xuất gang thép 100 410 Sản xuất hóa chất 100 424 Sản xuất máy móc (bao gồm cả xe hơi) 100 579 Sản xuất hàng dệt 100 226 Ở nước ngoài, các sản phẩm của Nhật Bản đã chinh phục hết thị trường này đến thị trường khác. Nước Nhật nhanh chóng trở thành nước dẫn đầu thế giới trong một số lĩnh vực như đóng tàu, máy ảnh, vô tuyến truyền hình, tơ sợi nhân tạo và xe hơi. Xuất khẩu của Nhật Bản đã nhảy vọt lên phía trước. Từ chỉ số 43,9 vào năm 1960 rồi 100 vào năm 1965, nó đã vượt qua 200,8 vào năm 1970. Nhập khẩu cũng tăng với chỉ số biến động từ 56,6 vào năm 1960 rồi leo đến 100 vào năm 1965 và 224 vào năm 1970. Đặc biệt, lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa chất đã đạt những kỷ lục với chỉ số từ 29 vào năm 1960, lên đến 100 vào năm 1965 và 280 vào năm 1970. Lĩnh vực sản xuất máy móc (bao gồm xe hơi) cũng có những chỉ số tương ứng là 26, 100 và 263. Hàng xuất khẩu của Nhật Bản đã thâm nhập vào tất cả các thị trường. Năm 1970, Hoa Kỳ chiếm khoảng hơn 30% thị trường xuất khẩu của Nhật Bản, Tây Âu: 15% và Đông Nam Á: 15%. Năm 1960, GNP của Nhật Bản chỉ mới chiếm 2,9% GNP toàn thế giới với 43 tỉ đô la (215 tỉ franc). Con số này đã tăng lên 6,2% vào năm 1970 với 200 tỷ đô la, 8,6% vào năm 1973 với 411 tỷ đô la, 8,4% vào năm 1976 với 574 tỷ đô la (2870 tỷ franc). Cuộc khủng hoảng dầu hỏa đã tác động đến nước Nhật. Năm 1978 con số này lại tăng lên đến 9,5% với 836 tỷ đô la (4180 tỷ franc). Trong vòng 18 năm, Nhật Bản đã nhân GNP của mình lên hơn 19 lần ! Giải thích kết quả này như thế nào ? Những công thức của một sự thành công vô tiền khoáng hậu

Trước hết, đó là nhờ lợi tức và năng suất tăng một cách ổn định trong công nghiệp. Xét theo GNP thực tế thì năng suất của Nhật Bản đã tăng trung bình 9% trong thời kỳ 1964-1973. Trong lúc đó, con số này ở Hoa Kỳ là 1,9%, Anh: 3,2%, CHLB Đức: 4,7%. Từ năm 1976 đến năm 1979, sự gia tăng này có hạ thấp nhưng vẫn giữ ổn định mức 4% trong khi ở các nước công nghiệp khác, con số này tụt xuống còn rất thấp. Diễn biến của năng suất so với GNP (Tỷ lệ: GNP thực tế/số lao động) 1964-1973 1976-1979 Nhật Bản 9,0 3,9 Hoa Kỳ 1,9 0,7 CHLB Đức 4,7 3,0 Anh 3,2 1,4 Nguồn: OCDE Chính phủ và các ngành công nghiệp hàng đầu của Nhật Bản đã đầu tư để hiện đại hóa trang thiết bị với một nhịp độ chưa từng có trên thế giới. Trong khi các ông chủ Hoa Kỳ tự cho phép mình những mức lương kếch xù và các cổ đông bỏ túi những

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 8

Đang tải bình luận...