Indonesia
Cuộc sống sang chảnh ở một hòn đảo thiên đường hẳn là mơ ước của bất kỳ ai. Mỗi tội Allan Karlsson chưa bao giờ là bất kỳ ai, và một-trăm-lẻ-một tuổi đời không phải lúc để cụ bắt đầu việc ấy.
Rảnh rang ngồi một lát dưới tán dù, thích uống nước màu gì thì kêu màu đó kể cũng khoái. Nhất là khi có người bạn thân duy nhất, tay trộm vặt thành thần Julius Jonsson, ngồi ngay bên cạnh.
Nhưng chẳng mấy chốc Julius già và Allan già khú cũng đâm chán chuyện ăn không ngồi rồi và tiêu vung vãi hàng triệu từ cái vali mà họ “tình cờ” mang theo sang từ Thụy Điển.
Chi tiền phóng tay một chút thì không có gì sai. Có điều làm thế đơn điệu quá. Julius đã thử thuê một chiếc thuyền buồm dài 45 mét, đầy đủ phục vụ để ngồi buông cần cùng cụ Allan trên boong trước. Đó hẳn đã là một dịp nghỉ xả hơi khoan khoái nếu họ thích câu cá. Hoặc ít ra là thích ăn cá. Khốn nỗi, trong chuyến du ngoạn đó, đôi bạn già lại khoái diễn lại trên boong thuyền đúng những việc họ đã quen làm trên bờ. Cụ thể là không làm gì.
Về phần mình, Allan đã đón được Harry Belafonte từ Mỹ sang để hát ba bài trong sinh nhật của Julius - tiền thì nhiều chứ việc có bao nhiêu. Harry thậm chí còn nán lại ăn tối dù không được trả thêm tiền. Tóm lại, sự kiện ấy đã mở màn cho một buổi tối khác kiểu với nhịp sinh hoạt thường ngày của họ.
Giải thích việc lựa chọn Belafonte chứ không phải ai khác, Allan cho rằng Julius khoái kiểu nhạc mới mẻ trẻ như vậy. Julius đánh giá cao nghĩa cử của cụ, lờ tịt sự thật vị nghệ sĩ này đã hết trẻ trung từ hồi cuối Thế Chiến II. Tất nhiên, so với cụ Allan thì ông ta vẫn là trẻ con thôi.
Mặc dù chuyến viếng thăm Bali của vị siêu sao chỉ như nét chấm phá màu mè vào quãng đời nhá nhem xam xám của Allan và Julius, nó vẫn tác động đến họ khá lâu sau đó. Nguyên nhân không xuất phát từ giọng hát hay màn trình diễn của Belafonte, mà là vật ông ta đã mang theo và hết lòng khoe khoang vào bữa sáng trước khi lên đường về nhà. Đó là một thứ công cụ mờ ám. Một vật phẳng lì đen thui, mặt bên này có hình quả táo cắn dở, mặt bên kia là một màn hình sáng lên khi chạm vào. Ngón tay Harry cứ quẹt lấy quẹt để. Chốc chốc gã lại lầu bầu. Cười khúc khích. Rồi lại lầu bầu thêm chặp nữa. Allan xưa nay vốn không phải kiểu người tọc mạch, nhưng cái gì cũng có giới hạn.
“Tò mò chuyện riêng của anh Belafonte trẻ tuổi đây có lẽ không phải việc của tôi, nhưng tôi bạo gan dám hỏi vậy chứ anh đang làm gì... Có chuyện gì trong cái... ờ, cái đó vậy?”
Harry Belafonte nhận ra Allan chưa từng trông thấy máy tính bảng nên vui vẻ chỉ dẫn. Cái bảng có thể cho người ta thấy chuyện gì đang diễn ra trên đời, chuyện gì đã xong xuôi và cả những thứ sắp ập tới. Tùy xem cụ chạm vào đâu, sẽ có những hình ảnh và video về đủ thứ trên đời xuất hiện. Có cả những thứ người thường khó mà hình dung nổi nữa. Nếu cụ nhấn vào nút khác là nhạc nổi lên. Sang nút khác nữa thì cái bảng còn bắt đầu nói. Có vẻ đây là một “cổ” tên Siri.
Sau bữa sáng và màn hướng dẫn, Belafonte xách cái vali nhỏ, cái máy tính bảng màu đen cùng tấm thân mình tiến ra sân bay để về nhà. Allan, Julius và tay quản lý khách sạn vẫy tay từ biệt. Taxi chở tay nghệ sĩ chưa kịp khuất bóng thì Allan đã quay sang người quản lý và nhờ kiếm ngay cho cụ một cái máy tính bảng giống như Harry Belafonte đang dùng. Nội dung phong phú bên trong nó đã hút hồn ông một-trăm-tuổi, thế thôi là quá đủ rồi.
Người quản lý mới đi Jakarta dự một hội nghị về khách sạn, nơi ông ta được biết bổn phận của nhân viên khách sạn không phải là làm được mà còn phải làm hơn. Vì các ông Karlsson và Jonsson là hai vị khách hạng nhất trong lịch sử ngành du lịch Bali, nên không có gì lạ khi ngay hôm sau, tay quản lý đã có luôn một chiếc máy tính bảng sẵn sàng phục vụ Karlsson. Lại có thêm cả một chiếc điện thoại di động làm quà tặng kèm.
Allan không muốn tỏ ra vô ơn nên tránh nhắc tới chuyện cụ không dùng điện thoại; tất cả những người cụ có thể gọi điện để hàn huyện đều đã ra thiên cổ ít cũng năm chục năm rồi. Tất nhiên là trừ Julius. Ông này thì chả có điện thoại để mà trả lời. Tuy nhiên điểm này thì có thể xử lý được.
“Cậu đây rồi," Allan bảo bạn. “Cái này thực ra là một món quà của ông quản lý cho tôi, nhưng tôi không có ai để gọi ngoài cậu, và đến tận lúc này cậu vẫn không có phương tiện để trả lời.”
Julius cảm ơn nhã ý của cụ. Và bác cũng không đả động chuyện Allan vẫn không thể gọi cho mình, nhưng vì lý do ngược lại.
“Nhớ đừng làm mất đấy,” Allan dặn. “Trông nó có vẻ đắt. Như lúc trước vẫn hay hơn, điện thoại được gắn trên tường với một sợi dây điện để ta biết nó dùng vào việc gì.”
*
Cái máy tính bảng đen trở thành tài sản quý giá nhất của Allan. Đã thế, cụ lại còn có thể dùng vô tư vì tay quản lý khách sạn đã dặn nhân viên cửa hàng máy tính ở Denpasar cài đặt đủ loại chuông và âm báo cho chiếc máy tính bảng cũng như điện thoại. Cùng với đó, thẻ SIM của các thiết bị cũng được liên kết với số thuê bao của khách sạn, khiến tổng hóa đơn điện thoại cao gấp đôi mà không ai hiểu tại sao,
Khi ông-một-trăm-tuổi đã thành thạo cách thiết bị này vận hành, ngày nào mở mắt ra, việc đầu tiên cụ làm cũng là ngó qua xem trong đêm đã xảy ra chuyện gì. Những tin tức tươi vui nho nhỏ đổ về từ khắp ngõ nghách của thế giới là thứ khiến cụ thích nhất. Kiểu như một trăm bác sĩ và y tá ở Naples lần lượt đăng ký khám cho nhau để không ai phải làm gì mà vẫn được trả lương. Hoặc tin Romania có nhiều quan chức chính phủ bị bỏ tù vì tham nhũng quá nên nhà tù cả nước đã chật cứng. Thế là các quan chức chưa bị bắt bèn đưa ngay giải pháp cho vấn đề: Hợp pháp hóa tham nhũng để khỏi phải xây thêm nhà tù.
Buổi sáng của Allan và Julius bây giờ có thêm thủ tục mới. Thủ tục cũ là bữa sáng luôn bắt đầu bằng việc Allan cằn nhằn bạn cụ ngáy to quá, cách một bức tường mà vẫn nghe thấy. Thủ tục mới cơ bản vẫn thế, nhưng thêm tiết mục Allan thuật lại những gì cụ mới tìm được trên máy tính bảng của mình kể từ sau bữa sáng hôm trước. Mới đầu, Julius thấy khoai khoái việc cập nhật tin tức này, chủ yếu vì nó khiến vụ ngủ ngáy của bác không còn bị xoi mói nữa. Bác vui ngay với chuyện Romania biến thứ phi pháp thành hợp pháp. Thử nghĩ mà xem, làm một tay trộm vặt trong xã hội kiểu ấy dễ dàng hơn biết bao nhiêu.
Nhưng cụ Allan đã nhanh chóng khiến bác tỉnh mộng, vì nếu trộm cắp vặt được hợp pháp hóa, nó sẽ không còn được coi là trộm cắp nữa. Julius, đang định rủ Allan rời Bali sang Bucharest, liền cụt hứng ỉu xìu. Cái hay của việc ăn cắp vặt tất nhiên là ở chỗ lừa lấy được cái gì đó của ai, tốt nhất là những kẻ đáng bị thế hoặc ít ra cũng không khổ sở quá vì thế. Nếu lừa đảo mà không bị coi là lừa đảo nữa thì còn ra cái gì?
Cụ Allan an ủi bác ngay bằng thông tin ở Romania, người ta đã đồng lòng phản đối dự định này của giới chính trị gia cùng các quan chức. Một người Romania bình thường lại có cách nghĩ khác với giới cầm quyền đầy một bụng chữ đang lãnh đạo mình. Anh/Cô ta lý luận rằng những đứa ăn trộm cần phải bị gô cổ, bất kể chức vụ hay địa vị hay người ta còn đủ chỗ để nhốt chúng hay không.
Các bữa sáng trong khách sạn ở Bali rốt cuộc đều khép lại bằng chủ đề giờ Julius và Allan nên đi đâu khi nơi chốn này đã trở nên buồn tẻ quá rồi. Khi tin tức quan trọng trong bản tin sáng cho hay nhiệt độ ở Bắc Cực đã ấm hơn bình thường 20 độ, Allan tự hỏi liệu nơi ấy có phải là một lựa chọn không.
Julius tọng đầy mì xào vào mồm, nhai nuốt xong đâu đấy rồi mới nói rằng bác không nghĩ cực Bắc là nơi phù hợp với mình và cụ Allan. Đặc biệt nếu băng sắp tan. Cứ ướt chân là Julius lại cảm lạnh. Chưa kể ở đó còn có gấu Bắc Cực, loài động vật mà như Julius được biết thì con nào con nấy đều khó ở từ lúc lọt lòng. Dù gì thì rắn ở Bali còn biết sợ người.
Cụ Alan nói rằng cũng không có gì lạ nếu một con gấu Bắc cực nổi khùng khi băng dưới chân nó tan ra. Trước khi mọi thứ hỏng hẳn, con gấu ấy khôn hồn thì nên lăn vào đất liền cho mau. Tốt nhất là lăn đến Canada, vì Mỹ đã lại có tổng thống mới rồi - cụ Allan đã kể vụ này cho Julius nghe chưa nhỉ: Mà, trời ạ, tay mới lên ấy sẽ không cho ai đi qua biên giới đầu.
Đúng, Julius có nghe nói về Trump rồi. Tên ông ta như vậy. Gấu Bắc Cực dù trắng thật đấy nhưng rõ rành rành chỉ là ngoại bang. Vậy nên cơ bản là chúng không có cửa.
Tin tức trong cái máy tính bảng đen của cụ Allan có cái thói lạ đời là vừa to lại vừa nhỏ. Phần lớn là to, tới độ khó chịu. Cụ muốn tìm thứ gì be bé dễ thương, rốt cuộc lại quàng thêm cả mớ cồng kềnh. Chẳng khác nào mò kim đáy bể.
Trong một trăm năm đầu đời, cụ Allan chưa từng thấy bức tranh toàn cảnh thế giới. Giờ thì cái đồ chơi mới của cụ đang nói với cụ rằng bức tranh ấy nom thê thảm lắm. Nó cũng nhắc cụ vì sao, từ ngày xưa lắm rồi, cụ đã đúng đắn khi chọn cách quay lưng với thế sự và chỉ nghĩ về mình.
Cụ nhớ lại những năm thơ ấu chạy việc vặt trong nhà máy thuốc súng ở Flen. Nơi đó, một nửa số công nhân dành thời gian rảnh để mơ về cuộc cách mạng đỏ, trong khi nửa còn lại phát hoảng vì những đe dọa từ Trung Quốc và Nhật Bản. Hiểu biết của của họ về Hiểm họa Vàng đã được nuôi dưỡng bằng những pho tiểu thuyết và các tập sách nhỏ vẽ ra kịch bản thế giới da trắng bị xơi tái bởi người da vàng.
Allan không quan tâm tới những huyễn tưởng đó, cụ vẫn cứ đường cũ mà đi sau Thế Chiến II - khi hội áo nâu của Hitler đã khiến màu sắc này thành ra xấu nhất trong các màu. Cụ thờ ơ với nó như cách cụ phớt lờ ý thức hệ tiếp theo. Lần này, người ta thèm muốn gì đó chứ không phải chối bỏ nó. Hòa bình đã đến với trên trái đất, tương tự những chiếc xe buýt VW hoa hòe - thường là hoa cần sa.
Ai cũng yêu ai, chỉ trừ cụ Allan chẳng rung động vì ai hay thứ gì ngoài con mèo của cụ. Chả phải cụ hận đời gì đâu: cụ bẩm sinh đã thế rồi.
Kỷ nguyên hoa hòe kéo dài cho tới khi Margaret Thatcher và Ronald Reagan lên nắm quyền. Quan điểm của họ là ai nấy tự yêu lấy mình thì sẽ tốt hơn. Không cần phải nhất quyết thù ghét ai đó - chủ yếu là vì thế giới khi ấy tạm thời không còn mối đe dọa nào nữa. Thế nên chả có lý do gì để hóng hớt chuyện thiên hạ cả; nội việc phải chịu đựng họ thôi cũng đủ lắm rồi. Và dân tình đã làm thế cho đến khi gió lại đổi chiều một lần nữa.
Có lẽ cũng hơi bất ngờ, nhưng tư tưởng áo nâu đã tìm được đường quay lại. Lần này nó không bắt đầu từ Đức, đầu tiên và quan trọng nhất là thế. Thứ hai và quan trọng vừa cũng vậy. Nhưng nó đã xảy ra ở một vài nước khác. Mỹ không đầu têu, nhưng chẳng mấy chốc đã lọt bảng vàng nhờ vị tổng thống mới đắc cử. Khó nói thái độ của ông ta với tư tưởng này như thế nào, bởi niềm tin của vị tổng thống thay đổi theo ngày. Câu ngạn ngữ cũ răn người ta muốn việc xảy ra đúng y ý mình thì tự xắn tay mà làm vẫn là chưa đủ: Giờ là lúc tấn công vào những mối đe dọa từ bên ngoài đến cuộc sống phương Tây da trắng chúng ta xứng đáng được hưởng.
Tất nhiên cụ Allan muốn coi cái máy tính bảng màu đen như một công cụ thuần giải trí, nhưng lại gặp khó trong việc che chắn bản thân trước lượng thông tin khổng lồ mình bắt đầu hấp thụ. Cụ nghĩ đến chuyện bỏ cái máy tính bảng xuống. Vứt xó nó nguyên một ngày. Rồi một ngày nữa. Chỉ để thừa nhận rằng đã quá muộn. Người đàn ông từng bàng với mọi sự trên đời hơn bất cứ ai đã bắt đầu quan tâm đến những việc ấy.
“Mình sẽ bị nguyền rủa,” cụ lẩm bẩm một mình.
“Chuyện gì vậy?” Julius thắc mắc.
“Không có gì. Trừ cái tôi vừa nói."
“Bị nguyền rủa á?”
"Ừ.”