phần lớn mọi người nghĩ tớ là một người cao ngạo và hướng nội. Mà cũng có thể là họ có lý… - Chắc chắn rồi, cậu quá đẹp, tôi nói. Cô rút một điếu thuốc, tôi vội châm một que diêm. - Cậu thấy tớ thật sự đẹp à? - Phải. Chắc người ta nói mãi với cậu điều đó rồi, nhưng… Cô cười. - Không hề. Tớ thích nghe cậu nói thế. Nói thật tình là tớ không thích mặt tớ lắm. Dù thế nào đi nữa, chắc chắn là thông thường phụ nữ không thích tớ. Thật là không may. Tớ không quá quan tâm đến việc người ta khen ngợi vẻ đẹp của tớ. Tớ thường xuyên tự nhủ rằng mình thích được là một người phụ nữ bình thường, có nhiều bạn bè như mọi người khác. Cô chìa tay, chạm nhẹ vào tay tôi đang đặt trên mặt quầy bar. - Dù thế nào đi nữa, tớ rất mừng vì được gặp lại cậu. Cậu hạnh phúc, thế là tốt rồi. Tôi không trả lời. - Cậu hạnh phúc, đúng không nào, cô nằn nì. - Tớ không biết. Ừ, thì tớ không bất hạnh, và tớ cũng không cô độc… Thỉnh thoảng, tôi nói thêm sau một lúc im lặng, tớ tự hỏi không biết giai đoạn hạnh phúc nhất của đời mình có phải là khi chúng ta cùng nghe những cái đĩa nhạc đó, cậu và tớ trong phòng khách của bố mẹ cậu. - Cậu biết không, tớ vẫn giữ chúng đấy. Nat King Cole, Bing Crossby, Rossini, Peer Gynt, và tất cả những cái đĩa khác. Tớ đã giữ chúng để tưởng nhớ bố tớ. Tớ vẫn rất cẩn thận gìn giữ, không có đến một vết xước đâu. Cậu còn nhớ tớ cẩn thận với mấy cái đĩa thế nào chứ? - Bố cậu mất rồi à? - Năm năm rồi, ung thư ruột. Một cái chết đau đớn. Mà bố tớ từng rất khỏe mạnh đấy chứ.
Tôi nhớ lại bố của Shimamota-san. Nhìn bên ngoài trông ông khỏe khoắn như cây thông mọc trong vườn nhà ông vậy. - Còn mẹ cậu có khỏe không? - Tớ nghĩ là khỏe. Điều gì đó trong giọng nói của cô làm tôi thấy ngạc nhiên. - Cậu không hòa thuận với mẹ à? Shimamoto-san uống hết ly Daiquiri, đặt nó xuống măt quầy, gọi người phục vụ. Rồi hỏi tôi: - Cậu thử nói xem nào, có loại cocktail đặc biệt của nhà hàng không? - Có chứ, có vài loại độc đáo lắm. Nổi tiếng nhất là loại mang tên quán, cocktail Robin’s Nest. Chính tớ đã nghĩ ra đấy. Pha từ rượu rum và vodka. Uống ngon lắm, nhưng khá nặng. - Chắc là rất tuyệt để quyến rũ các cô gái. - Có vẻ cậu không biết, nhưng cocktail sinh ra là để làm chuyện đó đấy. Cô cười. - Thế thì tớ muốn uống một cốc. Khi ly rượu đã được đặt trước mặt, cô chăm chú nhìn màu sắc của nó, chạm môi vào, rồi nhắm mắt một lúc để cho mùi vị tan chảy trong miệng. - Vị tuyệt quá, cô nói. Không quá ngọt, cũng không đắng. Hơi chua và mát, nhưng có một dư vị khó tả lắm. Tớ không biết cậu tài năng như thế đâu nhé. - Tớ không biết cách lắp giá, hay thay dầu. Thậm chí tớ còn không biết cách dán một con tem cho thẳng. Lúc nào tớ cũng nhầm lẫn khi bấm số điện thoại. Nhưng tớ lại thành công với các loại cocktail độc đáo. Tớ khá có tiếng trong lĩnh vực này đấy. Cô đặt ly xuống, ngắm nhìn một lúc. Khi cô nghiêng nó, màu đèn trên trần hơi ánh lên bên trong ly. - Đã lâu lắm rồi tớ không gặp mẹ, cô nói. Cách đây mười năm, tớ và mẹ tớ có vài bất hòa, những vấn đề khá phức tạp, và từ đó tớ không gặp
lại bà nữa. À, có, tớ có gặp vào dịp đáng tang bố, nhưng chỉ có thế thôi. Nhóm tam tấu vừa chơi xong một bản blues độc đáo, và đàn piano bắt đầu chơi đoạn dạo đầu bản Star-Crossed Lovers. Khi tôi có ở quán, người chơi dương cầm thường chơi bản balad mà tôi rất thích này. Đó không phải là một trong những bản nhạc nổi tiếng nhất của Ellington, và không có kỷ niệm riêng tư nào của tôi đặc biệt gắn kết với nó nhưng, kể từ lần đầu tiên nghe, lúc nào nó cũng làm tôi bị mê hoặc. Khi tôi còn là sinh viên, hay ngay cả sau đó khi đã làm nghề biên tập sách giáo khoa, tối đến, tôi lại đặt đĩa nhạc Such Sweet Thunder của Duke Ellington vào máy và nghe đi nghe lại bản nhạc và bài solo lừng danh của Johnny Hodges, một kết hợp giữa sự tinh tế và khéo léo kỹ thuật. Khi nghe giai điệu đẹp và nhẹ nhàng của nó, tôi luôn nhớ đến giai đoạn đó của đời mình. Không thể nói rằng khi đó tôi hạnh phúc. Thế nhưng, ký ức về thời ấy lại làm tôi thấy ngập tràn tiếc nuối. Tôi trẻ hơn, đói khát hơn, cô độc hơn hiện nay. Nhưng tôi thật sự là mình. Thời đó, tận sâu trong tim tôi cảm nhận được từng nốt nhạc mà tôi nghe, từng dòng chữ trong sách mà tôi đọc, như thể chúng đi vào thật sâu trong tôi. Những sợi dây thần kinh của tôi chĩa lên tua tủa như những đầu đinh, mắt tôi tràn ngập một thứ ánh sáng xuyên suốt qua những người trò chuyện với tôi. Và từ đó, mỗi lần nghe bản Star-Crossed Lovers, tôi lại nhớ đến cái ánh mắt mà tôi có vào thời đó, như thể đang nhìn hình phản chiếu của mình trong gương. - Thật tình là vào năm học lớp chín, một hôm tớ đã đến chỗ cậu. Tớ thấy cô đơn quá, cảm thấy một nỗi buồn không sao chịu đựng nổi. Tớ đã thử gọi cho cậu nhưng không có người trả lời điện thoại. Thế là tớ đã lấy tàu đi đến nhà cậu. Nhưng tấm biển trên cửa mang một cái tên khác. - Hai năm sau khi cậu đi khỏi, nhà tớ cũng chuyển, vì công việc của bố tớ. Bọn tớ đến sống gần Enoshima, tớ ở đó cho đến khi vào đại học. Khi đi, tớ đã gửi cho cậu một tấm thiệp ghi địa chỉ mới, cậu không nhận được à? Tôi lắc đầu. - Nếu nhận được, tớ đã trả lời. Thật lạ, hay là cậu ghi nhầm địa chỉ? - Hoặc có thể chỉ đơn giản là chúng ta không gặp may. Chúng ta luôn đi qua nhau. Nhưng thôi, nói về cậu đi. Về cuộc đời cậu cho đến hôm nay.
- Không hấp dẫn lắm đâu. - Nhưng tớ quan tâm. Tôi kể đại khái cho cô những gì tôi đã trải qua. Tôi thú nhận với cô tôi đã làm tổn thương người bạn gái thời trung học của mình một cách sâu sắc, nhưng không đi vào chi tiết. Tôi chỉ giải thích rằng tôi đã làm một việc không tốt với cô gái ấy, và đồng thời cũng làm điều không tốt với chính tôi. Rồi tôi nói với cô về công việc đầu tiên. Sự cô đơn của tôi. Tôi nói tôi chưa từng bao giờ có một người bạn thật sự nào. Nói với cô về những cô gái của các cuộc phiêu lưu, nhưng không hề mang cho tôi hạnh phúc. Kể bằng cách nào mà, sau khi học trung học, tôi không thật sự yêu ai hết, cho đến khi gặp Yukiko khi đã gần ba mươi tuổi, và sau đó lấy cô làm vợ. Thú nhận với cô tôi đã nghĩ đến cô, Shimamoto-san, nhiều đến thế nào. - Tớ sẵn sàng vứt đi tất cả để có thể gặp và nói chuyện với cậu chỉ trong một giờ đồng hồ. Điều đó làm cô mỉm cười. - Cậu thường xuyên nghĩ đến tớ à? - Phải, lúc nào cũng nghĩ. - Tớ cũng hay nghĩ đến cậu. Có vẻ như cậu là người bạn duy nhất mà tớ từng có. Cô đặt một khuỷu tay lên mặt quầy bar, má tựa lên tay, hai mắt nhắm hờ, như thể đang hoàn toàn phiêu lãng, không một chút sức lực. Cô không đeo cái nhẫn nào, nhẫn cưới cũng không. Thỉnh thoảng, điều duy nhất mà tôi thấy là mí mắt cô phập phồng. Sau một lúc, cô chậm rãi mở mắt, nhìn đồng hồ. Tôi cũng nhìn đồng hồ của tôi: đã gần nửa đêm. Cô lấy túi, xuống khỏi ghế một cách thận trọng. - Chúc ngủ ngon. Rất vui vì gặp lại cậu. Tôi đi cùng cô ra đến cửa. - Cậu muốn tớ gọi taxi không? Trời mưa thế này sẽ khó tìm đấy. Cô lắc đầu. - Không, đừng lo. Tớ tự xoay xở được.
- Thật không, cậu không thất vọng chứ? Tôi hỏi. - Về cậu? - Phải. - Không hề, đừng lo, cô cười, nói. Cậu có thể yên tâm. Nhưng bộ comple, cậu có chắc là không phải đồ Armani không? - Chính vào lúc đó tôi nhận ra là cô không đi khập khiễng. Cô đi không nhanh lắm và, khi quan sát thật kỹ, có thể nhận thấy là cô sử dụng một kỹ thuật bước đi; cách đi hơi cứng của cô hơi thiếu một chút tự nhiên, nhưng rất khó nhận ra. - Tớ đã phẫu thuật cách đây bốn năm, cô nói như thể muốn xin lỗi. Không thể nói rằng đã chữa được hoàn toàn cái tật, chỉ là đỡ hơn trước thôi. Đó là một phẫu thuật khá phức tập, nhưng đã không xảy ra chuyện gì; người ta đã phải cắt đi khá nhiều xương, phải nẹp lại,… - Cậu đã làm đúng, bây giờ không thể nhận ra nữa đâu. - Phải, tớ tin là tớ đã làm đúng. Có thể là tớ chỉ mắc sai lầm duy nhất là đã chờ đợi quá lâu. Tôi lấy áo măngtô của cô ở phòng để quần áo, giúp cô mặc. Đứng cạnh tôi, cô không có vẻ cao lắm. Tôi thấy lạ, vì nhớ rằng khi mười hai tuổi cô cao bằng tôi. - Tớ sẽ gặp lại cậu chứ? Tôi hỏi. - Có thể. Một nụ cười thoáng qua hiện trên khóe môi cô, như một làn khói chầm chậm bay lên trong một ngày không gió. Có thể…. Cô mở cửa đi ra. Năm phút sau tôi lại leo lên cầu thang dẫn ra bên ngoài. Tôi lo lắng với ý nghĩ cô không tìm được taxi. Bên ngoài, trời vẫn mưa, nhưng Shimamoto-san không còn ở đó. Đại lộ vắng tanh, chỉ có ánh đèn pha ôtô phản chiếu mơ hồ trên mặt đường loáng nước. “Nhỡ đó là một ảo giác thì sao?” đột nhiên tôi tự hỏi. Tôi đứng im lìm nhìn mưa rơi trên hè phố một lúc lâu. Tôi đã trở lại là một cậu bé mười hai tuổi. Khi còn nhỏ, tôi rất thích không làm gì, chỉ nhìn mưa rơi. Cơ thể tôi khi đó sẽ dần dần được thả lỏng, có vẻ như là thế giới thật tan biến đi dưới ẳ
những giọt nước. Hẳn là trong cơn mưa phải có một lực đặc biệt thôi miên người ta. Ít nhất đó là điều tôi từng tin vào hồi đó. Nhưng tôi đã không mơ: khi quay lại quán, tôi tìm thấy trên quầy bar, trước chỗ Shimamoto-san vừa ngồi lúc nãy, một cái ly không và một gạt tàn đựng nhiều đầu mẩu thuốc lá còn mới, với vết son môi ở trên. Tôi ngồi lên chiếc ghế bên cạnh, nhắm mắt lại. Tiếng vọng của những nốt nhạc dần giãn ra xa, tôi ngồi lại một mình. Trong bóng tối mềm mại tôi đang ở trong, mưa rơi không ngừng.