36
Lúc sẩm tối, tôi đến quán Lai Mộng.
Gió lạnh vù vù thổi, cây cành run rẩy, lá rụng đây đường. Bầu trời vẫn âm u lạnh giá, trông như sắp có tuyết rơi. Trái với cảnh sắc u ám này, phố phường vẫn hết sức náo nhiệt chuẩn bị chào đón Giáng sinh. Khắp nơi đầy những cây thông được trang hoàng rực rỡ, trung tâm mua sắm tràn ngập màu sắc cùng giai điệu bài hát Jingle Bells.
Phụ huynh dắt tay con, các bà mẹ hoặc học sinh đi xe đạp, những cặp tình nhân trẻ… Có lẽ do tôi tưởng tượng thôi, nhưng mọi người trên đường đều có vẻ lo lắng, bất an. Tôi dựng cổ áo lên, thọc sâu hai tay vào túi, vừa nhìn xuống mặt đường vừa cắm cúi bước đi.
Đã một tháng không đến, bên trong quán Lai Mộng vẫn giữ được sự tĩnh lặng như mọi khi, tách biệt hẳn với vẻ nhộn nhịp bên ngoài. Chỉ có một thanh niên mặc áo jacket da màu đen đang ngồi bên bàn kê sâu trong góc.
“Hoan nghênh quý khách!” Giọng chủ quán cũng hệt như trước.
“Một cà phê.” Tôi nói rồi ngồi xuống chiếc bàn sát cửa sổ.
Chủ quán là người quen cũ của Kakeba, nên có lẽ anh ta cũng biết nỗi bất hạnh của gia đình tôi. Nhưng lúc bưng tách cà phê đến, anh ta không nhắc câu nào, chỉ nói, “Đã lâu không gặp cậu… Trời trở lạnh rồi đấy…” Tôi thật lòng cảm kích.
Hiếm thấy dịp nào quán lại mở bài hát tiếng Nhật như hôm nay. Tôi nhấp cà phê đắng ngắt, lặng lẽ ngồi, mắt lim dim.
Đầu óc trống rỗng. Khỏi cảm rồi nhưng tôi hiểu rất rõ, sức lực mình đã bị rút cạn.
Vẫn như xưa, biển người đông đảo
Ai ai cũng nở nụ cười tươi
Nhưng tại sao
Tại sao thành phố này
Lúc nào cũng cô đơn như vậy…
Tôi không chú tâm nghe nhưng lời bài hát cứ văng vẳng lọt vào tai. Giọng nữ hơi khàn. Hòa âm nghe như nhạc blues nhưng giai điệu lại trong trẻo kỳ lạ.
Thành phố cô đơn? Đúng, nó vẫn luôn cô đơn. Không những thế, đôi khi, nó còn vô cùng đáng sợ.
Ý nghĩ này bỗng chảy tràn trong tôi.
Vô số ánh mắt từ mọi phía.
Vô số ánh mắt của những người ngoài cuộc dán chặt vào tôi không rời, bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu. Tôi tưởng tượng ra đủ thứ thái độ đằng sau, chế nhạo, khinh khỉnh, gườm gườm đối địch.
Mọi người tràn ra lối đi bộ, những hàng xe chen chúc tắc nghẽn… Sự đông đúc của thành phố luôn dẫn dụ tôi bước vào bóng tối vô tận. Chỉ chừng đó linh hồn thôi cũng đủ khiến mọi thứ ngột ngạt. Hẳn nơi đây vẫn có chút yêu thương, nhưng chắc chắn đa phần chỉ là thù hận. Tất cả đan xen chằng chịt khó bề tháo gỡ, tất cả tụ thành một hồ nước đen kịt. Ở đó, tôi chôn vùi đôi mắt đỏ ngầu của mình trong bất hạnh.
“Chào anh Hiryu!” Bỗng có người gọi, tôi bất giác mở mắt.
“Chào anh, anh còn nhớ em không?”
“Cô là…” Khi nhận ra cô gái mặc áo khoác màu lục sẫm đang đứng bên bàn, tôi kinh ngạc. “Em là… Michizawa thì phải?”
“Trí nhớ anh rất tuyệt! Thật khéo quá…” Michizawa Kisako nghiêng đầu nhìn tôi, “Em ngồi đây được không?”
“Đương nhiên là được. Mời em!”
Kisako cởi áo khoác, rồi ngồi xuống ghế đối diện với tôi. Dù trời lạnh, cô vẫn gọi một cốc trà đá.
“À, cảm ơn em chuyện hôm trước…” Tôi căng thẳng, chật vật nói. “Vì em đã đến viếng má tôi.”
“Vâng. Mới chỉ gặp nhau một lần nên em cũng thấy hơi ngại…” Kisako mặc áo len màu xanh nhạt, đôi mắt to tròn nhìn thẳng vào tôi. “Anh không sao chứ? Anh hãy mạnh mẽ lên. Anh Kakeba rất lo cho anh đấy.”
“Mấy hôm trước, cậu ấy cũng gọi điện cho tôi, rủ đến phòng nghiên cứu chơi, bảo đừng âm thầm ngồi nhà mãi… À, em có thường xuyên đến quán này không? Đã phải quay lại trường chưa?”
“Hôm nay là Chủ nhật mà.” Kỉsako mỉm cười, “Trường em cũng cho nghỉ rồi.”
“Nghỉ đông à?”
“Đúng ra từ ngày 20 mới chính thức được nghỉ.” Kisako tủm tỉm, “Nhưng các thầy cô đều lẳng lặng cho nghỉ sớm hơn.”
“À, ra thế.”
“Chủ nhật nào em cũng đến một trung tâm gần chùa Ngân Các để dạy thêm. Hôm nay xong việc, trên đường trở về em mới nhìn thấy quán này và nhớ ra anh Kakeba từng nhắc đến. Ngẫu nhiên thôi, nhưng lại khéo trùng hợp.”
“Cậu ấy vẫn ổn chứ?”
“Vẫn thế. Anh cứ thử đến phòng nghiên cứu mà xem, ba lần thì hai lần ngủ gật. Nhưng anh ấy luôn tự tin nói mình là nhà xã hội học. Đám học trò của anh ấy hóa ra lại dễ chịu! Thực ra, gần đây anh ấy rất phấn chấn, nói cuối năm sẽ đi du lịch.”
“Du lịch… đi trượt tuyết gì đó hả?”
“Làm gì có.” Cô cười, “Anh không cảm thấy anh ấy không thích hợp với trượt tuyết à? Chắc anh ấy sẽ đến vùng có suối nước nóng.”
Khi Kisako cười, má bên phải hiện ra lúm đồng tiền rất rõ, trông thật đáng yêu. Tôi ngượng nghịu nhìn ngắm mãi.
“Khu vực này gần đây hay xảy ra mấy chuyện đáng sợ.” Kisako đặt ống hút vào cốc trà đá vừa được đem ra, “Anh có xem bản tin hôm qua không? Lại thêm một vụ trẻ em bị sát hại ở khu Sakyo.”
“Thế à?” Tôi không đọc báo, căn phòng đang ở cũng không đặt ti vi, nên không biết tin này.
“Nghe nói lần này họ phát hiện ra cái xác ở khu rừng Yoshidayama gần trường bọn em. Đứa bé ấy cũng bị bóp cổ chết.”
“Vẫn là do một tên hung thủ gây ra sao?”
“Có vẻ như thế.”
Về sau, tôi đã tìm được tờ báo hôm thứ Bảy để xem. Nạn nhân là một bé trai học lớp Hai, tên là Horii Yoshihiko, mất tích từ sẩm tối thứ Hai, ngày mùng 7. Nguyên nhân tử vong là ngạt thở. Hung khí có dạng sợi nên được cho là bị thắt cổ.
“Nếu em nhớ không nhầm, vụ án mạng thứ hai xảy ra vào hạ tuần tháng Chín. Cảnh sát nhận định đó một vụ giết người hàng loạt nên đã gây chấn động ghê gớm. Vì thế, mọi người đều rất cảnh giác, hung thủ không thể tiếp tục ra tay. Cảnh sát cũng cho là như thế. Nào ngờ…” Kisako phồng má ra chiều phẫn nộ. Cô nói tiếp, “Anh Kakeba có vẻ cũng hứng thú với các môn học về hành vi lệch lạc chuyên nghiên cứu những tội phạm như vậy. Nói chuyện cũng toàn mấy bài phân tích. Nhưng em chẳng chịu nổi. Anh Hiryu nghĩ thế nào?”
“Tôi nghĩ thế nào ư?”
“Anh nghĩ thế nào về tên hung thủ? Em không thể hiểu đầu óc kẻ đó ra sao mà đi giết hại trẻ con vô tội, đúng là đồ thú vật, bệnh hoạn.”
“Quả là tàn nhẫn.”
“Nếu em là mẹ nạn nhân, em sẽ đích thân bắt hắn rồi giết phăng đồ khốn nạn ấy!”
Tôi bỗng liên hệ đến cảnh ngộ buồn thảm của mình và cúi đầu im lặng.
“Em xin lỗi nhé…” Kisako nhận ra tâm trạng của tôi, “Em đã gợi ra những điều nặng nề.”
Rồi cô tế nhị chuyển sang đủ thứ chuyện khác. Dường như cô rất thông cảm với tôi nên mới cố gắng khích lệ như vậy. Hai chúng tôi cứ nói chuyện mãi, rồi không biết từ lúc nào, tôi bị cuốn vào bầu không khí tràn đầy sức sống mà cô đem lại.
Chúng tôi nói về cuộc sống trong trường đại học, về quê hương của mình (Kisako, tôi, và Kakeba đều là đồng hương Shizuoka), chuyện về đám học trò ở trung tâm dạy thêm, bản nhạc đang phát trong quán cà phê.
Tôi vui vẻ lắng nghe, lim dim mắt ngắm nhìn khuôn mặt tươi vui của Kisako, thỉnh thoảng gật gù đồng ý hoặc hỏi đôi câu. Nỗi u ám trĩu nặng trong lòng dần tan biến.
Chính tôi cũng lấy làm lạ và ngạc nhiên với chính mình, tôi vốn rất sợ trò chuyện cùng các cô gái trẻ như Kisako kia mà?
Thật khó tin, tôi đang tận hưởng cuộc chuyện trò với tâm trạng thanh thản mà gần đây, đúng hơn là mấy năm nay tôi không có được.