Chương 1
Sương trắng
Sương mù dày đặc. Gió thổi ào ào. Do sự thay đổi của hướng gió và sức gió, sương mù cũng phô bày nhiều chuyển động phức tạp. Lúc như kẹo bông gòn uốn éo không ngừng trên đất, lúc ngưng tụ một chỗ, lúc bị thổi loãng ra nhảy múa tự do... Tuy nhiên, mọi chuyển động dường như đều chung một khuynh hướng, là luôn xoay vòng, quẩn quanh con đèo, dứt khoát không tách xa.
Giữa màn sương, một chiếc xe đang ì ạch chạy. Xe nội địa màu đen, kiểu dáng cồng kềnh so với độ chật hẹp của đường, động cơ lại yếu so với độ gập ghềnh. Cầm lái là một thanh niên tầm 25 tuổi, mặc sơ mi dài tay màu lam nhạt cùng quần bò đen bạc phếch. Trên xe không còn ai khác. Sương cuồn cuộn bệch bạc, tương phản với nền rừng thẫm xung quanh. Thanh niên nhoài người tới trước, mắt chong chong nhìn đường qua kính chắn gió. Bất chợt một ý nghĩ vụt qua...
Mai này thế giới diệt vong, mọi thành tựu của văn minh nhân loại sẽ tiêu tan, chính con người cũng bị xóa sổ. Xe cộ huyên náo, đèn đường, hình ảnh, âm thanh, khúc nhạc đan kết nhờ sóng điện từ... tất thảy đều biến mất. Sương dày lạnh lẽo tràn lên mặt đất, bao trùm vạn vật, chôn vùi phồn hoa thịnh vượng một thời. Màn sương trước mặt chính là thế chăng? Nó đang ùn ùn tràn ra từ một kẽ nứt không-thời gian chẳng ai hay ở nơi thâm sơn cùng cốc này? Lạnh lẽo, mỏng nhẹ, đợi đến tận thế thì sẽ...
Hai chùm đèn pha không soi được bao xa. Đang ban ngày mà tầm nhìn chỉ độ vài mét, không thấy rõ đường. Thanh niên thận trọng giữ chân ga. Chạy xe trong sương đã gần một tiếng, thật lòng không đoán được bao giờ mới qua đèo. Sương... Thanh niên nắm chặt vô lăng, lại miên man với ý nghĩ ban nãy. À phải…
… đợi đến tận thế thì sẽ vùi lấp đống đổ nát không thể khôi phục của nền văn minh.
Nghĩ linh tinh một hồi, cảm nhận về thực tại vốn đã xa vời lại càng mờ nhạt, thậm chí quên bằng đây là đâu, mục đích của mình là gì. Không ổn! Cậu tự nhắc nhở. Lúc này cần tập trung lái xe kẻo nguy hiểm. Đường thì đường núi, xe thì xe thuê, lạ đường lạ xe còn gặp sương mù, đã mấy lần phải giậm phanh gấp vì tới sát khúc cua mới nhận ra. Hai tay đẫm mồ hôi, lần lượt phải buông vô lăng để chùi vào đầu gối quần. Cậu nhìn thẳng ra trước, hít thở thật sâu mà nghe lại như thở dài, bụng bảo dạ, trước lúc lên đèo có thấy sương đâu nhỉ, tại sao...
Trời cao vời vợi, không khí mát lành, hạ tuần tháng Chín rồi mà tiết trời còn rất trong xanh, dù dấu hiệu giao mùa đang le lói. Sắc xanh trên tán cây rừng đã nhạt bớt, gió mát lùa qua cửa sổ xe cũng man mác buồn. Ngay cả tiếng chim chóc côn trùng, bóng mây, hay dáng vẻ của người người nhà nhà ở làng nhỏ ban nãy đi ngang qua... thảy đều mang vị chớm thu. Đúng là vừa hay, chuyến đi này vốn để giải tỏa, giúp cậu lãng quên phiền muộn tích tụ trong lòng bấy nay.
“Lên đèo Vọng phải cẩn thận sương mù. Mùa này vẫn nhiều sương lắm.” Lúc cậu ghé vào hỏi đường, chủ tiệm tạp hóa làng I đã cảnh báo. Bấy giờ tuy đáp “Vâng ạ”, trong bụng cậu lại chủ quan “Làm gì có chuyện”. Trời nắng chang chang thế này, lấy đâu ra sương dày tới mức phải cẩn thận, thế mà...
Sương... Sương trắng mịt mù như tràn ra từ kẽ nứt không-thời gian hậu tận thế...
Thanh niên miên man nghĩ về màn sương trước mặt. Suy nghĩ kiểu này hễ manh nha là sẽ bám riết trong đầu. Đã bao lần cậu cố xua đi mà không thể. Cảm nhận về thực tại càng lúc càng nhạt nhòa. Ý thức bị hút dần vào vòng xoáy của màn sương... Không được! Cậu vội lắc đầu. Hiện thực, bao gồm tình huống hiện tại, trải nghiệm quá khứ... luôn tồn tại trên một bình diện có liên kết, là một thực thể không suy suyển. Thanh niên cật lực chống đỡ, cố khẳng định “bình diện” của mình.
Đây là Nhật Bản năm 1991. Mình đang ở vùng núi huyện Y, tỉnh Kumamoto, miền Trung Kyushu. Hôm nay là thứ Hai, 23/9. Thu phân. Hiện tại hơn 1 rưỡi chiều. Còn nữa... Mình là Kawaminami. Kawaminami Takaaki. Sinh ngày 7/11/1964 tại Shimabara, Nagasaki. Sau theo gia đình chuyển tới Beppu, Oita, rồi tới Kumamoto. Năm nay 26 tuổi. Độc thân. Cao 1m72. Nặng 62 kg. Nhóm máu B. Tốt nghiệp thạc sĩ Công nghệ Đại học K. Làm biên tập viên NXB Tổng hợp Kitansha ở Tokyo đã hơn hai năm. Ngoài ra... Mình đang đi đâu? Làm gì? Sao lại lái xe một mình? À, thì đấy... Thì đấy gì cơ? Chẳng lẽ hiển nhiên tới mức không cần phải hỏi lại à?
Kawaminami lắc đầu, giữ chặt vô lăng, quan sát sương trắng luẩn quẩn trước mặt. Mình biết chính xác điểm đến. Biết rõ muốn đến làm gì... dù chỉ là dự định. Vượt qua đèo, đi thêm một đoạn đường rừng là tới nơi, tới Ám Hắc Quán, dinh thự từng liên quan đến kiến trúc sư quá cố Nakamura Seiji.
Đầu đuôi sự tình khá đơn giản. Mẹ qua đời hồi cuối tháng Bảy. Tháng Chín làm 49 ngày, Kawaminami về Kyushu, tình cờ nghe họ hàng kể, sâu trong rặng núi ở Kumamoto có công trình tên Ám Hắc Quán, kiến trúc kì quái, lại còn phát sinh nhiều sự việc lạ lùng. Đáng chú ý là, Nakamura Seiji từng tham gia quá trình tu bổ. Nghe xong, cậu không sao yên lòng quay lại Tokyo ngay được. Vì đã gặp bao nhiêu bi kịch xoay quanh “Quán của Nakamura Seiji”, một mặt cậu phát ngán, mặt khác lại phấn khích, bụng bảo dạ phải tìm đến nơi, tận mắt chiêm ngưỡng dinh thự ấy bằng mọi giá.
Sương... Sương trắng này... Cứ như đường hầm dị dạng nhất định phải đi qua mới đến được Ám Hắc Quán. Không chừng chính dinh thự trên hồ trong cánh rừng bên kia con đèo là cội nguồn màn sương. Sâu trong dinh thự có kẽ nứt không-thời gian dẫn đến hậu tận thế... Á không! Không được.
Kawaminami có cảm giác rơi vào phòng kín, hai bên tường đang từ từ o ép, xoay xở thế nào cũng mắc kẹt. Không lối ra. Không chạy thoát. Cậu hít thở thật sâu lần nữa, nghe vẫn như thở dài.
Khi nhận ra xe bắt đầu đổ đèo. Kawaminami biết mình đã đi được nửa đường. Sương trắng vẫn cuộn trào, quánh quện khắp không gian như muốn xóa nhòa mọi cảm nhận về thực tại. Kawaminami chịu thua, không cố vùng thoát khỏi ảo giác này nữa, chỉ duy trì chút tập trung còn lại để lái xe. Xuống dốc phải cẩn thận hơn cả lên dốc. Không được phóng nhanh cũng không thể phanh mạnh, kẻo dễ chệch lái, lao xe xuống vực.
Đúng vậy. Chính thế. Trong vạt cây âm u dưới vực sâu kia, nhất định có kẽ nứt không-thời gian dẫn đến hậu tận thế. Mà mình... thân thể, tâm trí, con người, thời gian của mình...
Thình lình, tình hình thay đổi. Sương dày đến nỗi tưởng đâu sắp làm người ta tiêu biến vĩnh viễn bỗng chốc tan đi. Tầm nhìn rộng mở như thể vừa ra khỏi đường hầm chật hẹp. Vạn vật dần dần lấy lại hình thái và màu sắc vốn có. Mặt đường gồ ghề xám xịt, cỏ cây xanh mướt, đất đá đỏ quạch...
Kawaminami buông một tay khỏi vô lăng, vuốt ngực thở phào... nghe không giống thở dài nữa. Cậu không lạc đường, lối ra kia rồi. Hiện thực ở ngay đây, ngay lúc này.
Sương mù mất độ quánh, loãng đi theo gió. Khoảng không lộ ra đã cho thấy sắc trời... không phải sắc xanh sáng! Vai và bắp tay Kawaminami mỏi nhừ. Rõ ràng là do căng thẳng cả về thể chất lẫn tinh thần. Nghỉ một chút vậy, đúng lúc muốn làm điếu thuốc, cổ họng cũng khát khô rồi. Cậu tấp vào lề đường, kéo phanh tay, mở cửa nhưng không tắt máy, để đèn pha cảnh báo cho làn đường đối diện, dù chưa chắc đã có xe đi tới.
Không khí bên ngoài ẩm ướt. Cảm giác lành lạnh, song cũng âm ấm. Kawaminami mở cửa sau, lục túi bóng trên ghế lấy chai nước khoáng mua ở tiệm tạp hóa làng I. Túi áo sơ mi còn sót vài điếu Mild Seven. Kawaminami uống nước cho nhuận họng rồi ngậm thuốc, châm lửa, rít một hơi, khoan khoái cảm nhận vị ngọt. Khói thuốc tan vào sương.
Lúc đi xe không để ý, giờ Kawaminami mới thấy tiếng gió nghe hơi lạ, như thể không thổi ở đây, mà ở dưới vực lên hoặc trên núi xuống. Gió rất mạnh, rừng cây xạc xào. Cả con đèo rì rào như biển động. “Vọng” có một nghĩa là “vang vọng”. Con đèo mang cái tên lạ lùng này, phải chăng vì nơi đây, giữa đại ngàn Kyushu hoang vu, tiếng gió hú nghe lại như tiếng sóng gầm ngoài biển Nhật Bản?
Miệng ngậm thuốc lá, Kawaminami rời khỏi xe chừng một hai bước, ngoảnh nhìn con đường vừa đi qua. Sương mù dày đặc, quyện vào nhau thành một khối đồ sộ y như sinh vật giả tưởng ngoài hành tinh, hấp thu năng lượng mặt đất và cứ thế lớn dần, lớn dần lên. Đồng thời...
Đó là mùa hè năm ngoái nhỉ, cậu chợt nghĩ. Tầm đầu tháng Bảy, Kawaminami đi Hokkaido cùng Shishiya Kadomi, bạn vong niên kiêm tác giả cậu phụ trách. Nhận lời nhờ cậy của nhà sinh vật học Amo Tatsuya, họ tìm đến Hắc Miêu Quán, ngôi nhà do Nakamura Seiji thiết kế. Sáng sớm, họ đi xe từ Kushiro tới Akan, Shishiya cầm lái. Sương đeo bám họ cả quãng đường... Ban nãy ở trong sương như bị phong tỏa, thoát ra rồi, cảm giác và suy nghĩ bình thường trở lại, Kawaminami mới sực nhớ, từ bấy đến nay cậu mới lại gặp sương dày thế này.
Kí ức tiếp tục trôi về ngày hè của một năm hai tháng trước. Kawaminami nhớ lại khoảnh khắc ngôi nhà thấp thoáng hiện ra giữa màn sương giăng kín vạn vật. Cùng là sương dày, chỉ thay đổi địa điểm và tình huống mà ấn tượng khác biệt đến vậy ư?... Tại sao cậu lại tỉnh táo ngẫm nghĩ một chuyện tất nhiên như thế nhỉ? Không chỉ địa điểm và tình huống, bản thân cậu cũng khác trước rồi. Tôi của hiện tại đâu còn là tôi mùa hè năm ngoái. Chuyện bé xé ra to! Thật muốn nói thế rồi bỏ qua, nhưng...
“Này Conan, sương dày phết nhỉ.”
Kawaminami bỗng như nghe thấy tiếng Shishiya. Họ quen biết đã sáu năm, sau lần gặp gỡ cách đây năm năm rưỡi, anh bắt đầu gọi cậu là “Conan” thay vì “Kawaminami”.
Shishiya dong dỏng cao và khẳng khiu hơn cả Kawaminami vốn đã khá gầy. Anh hơn tuổi cậu cả giáp song vẫn độc thân, suốt ngày cau có khó đăm đăm nên bị gọi là “Mephisto đen”, cuồng trinh thám, hay tò mò, ưa lý sự, ngoài ra thích gấp giấy và dễ dàng gấp được “ác ma bảy ngón”. Trước khi xuất bản tác phẩm đầu tay ở Kitansha cách đây ba năm, Shishiya tu lấy lệ tại chùa nhà ở Oita. Giờ anh sao rồi?
“Cẩn thận nhé, Conan.” Shishiya hẳn sẽ nhắc nhở nếu biết mình đến Ám Hắc Quán một mình. “Tôi thấy chúng ta rất có duyên nợ với đám ‘Quán của Seiji’, tốt nhất đừng dại dột lại gần. Nhỡ có lại thì phải chuẩn bị tâm lý ứng phó. Mấy nơi đó mang nguồn năng lượng xui xẻo, bất cẩn là gặp bất trắc ngay.” Phải, Shishiya nhất định sẽ cảnh báo như thế.
Nói vậy chứ anh ta nào có ngoan ngoãn ngồi im. Giả sử biết đến sự tồn tại của dinh thự kia, kiểu gì anh ta chẳng sấn sổ tới ngay, mặc kệ hạn nộp bản thảo đang sát sườn. Luôn miệng chê “xui xẻo”, nhưng e rằng người mê “Quán của Seiji” nhất trên đời chính là Shishiya Kadomi.
“Anh Shishiya.” Kawaminami gọi tên bạn rồi tự nhủ. “Không sao đâu. Tôi đi xem một chút... Chỉ thế thôi.” Cậu vứt đầu mẩu thuốc xuống đất, di mũi giày thể thao đen để dập tắt, lôi từ túi trước quần bò ra một chiếc đồng hồ quả quýt. Đồng hồ cơ cũ mèm, mặt tròn khắc số La Mã. Viền và dây đeo màu bạc đã ngả đen. Đây là chiếc đồng hồ yêu quý của ông ngoại, bốn năm trước, ông qua đời, để nó lại cho cậu. Từ ấy cậu hầu như không dùng đồng hồ đeo tay nữa.
Mặt sau đồng hồ khắc kí tự “T.E.” nho nhỏ. Dĩ nhiên không phải tên viết tắt của Kawaminami Takaaki, mà là hai chữ cái đầu trong tên người ông quá cố: Endo Tomishige.
2 giờ 8 phút chiều. Xem giờ xong, Kawaminami cất đồng hồ vào túi quần, uống nốt chai nước rồi trở lại xe. Giữa tiếng gió rít khắp đèo, dòng suy nghĩ đưa cậu về quá khứ.
Nakamura Seiji là một kiến trúc sư thuộc dạng thiên tài, nổi danh với nhiều thiết kế kì quái, đã sống và chết trên Giác Đảo, hòn nhỏ ngoài khơi phía Đông tỉnh Oita.
Sau khi tốt nghiệp loại ưu ngành Kiến trúc khoa Kĩ thuật Đại học T, Seiji trở về quê nhà Usa. Năm 25 tuổi chuyển ra Giác Đảo, xây dựng tư gia tên Lam Ốc theo phong cách phương Tây độc đáo. Toàn bộ ngôi nhà, từ tường, mái đến trần đều sơn màu xanh lam. Seiji cưới vị hôn thê đính ước từ lâu là Kazue, chẳng bao lâu họ sinh hạ một cô con gái, tên Chiori. Chiori là thành viên Hội nghiên cứu tiểu thuyết trinh thám Đại học K cùng với Kawaminami, học dưới cậu một khóa, quan hệ cũng khá thân thiết. Có thể nói đây chính là khởi đầu cho “duyên nợ” giữa Kawaminami và Seiji.
Năm 19 tuổi, Chiori gặp tai nạn qua đời. Chín tháng sau, hỏa hoạn thiêu rụi Lam Ốc trên Giác Đảo. Seiji (46 tuổi), Kazue và người làm đều thiệt mạng. Biến cố này xảy ra vào tháng 9/1985, cách đây đúng sáu năm.
Tính cả Lam Ốc, các Quán do Seiji thiết kế đều phát sinh nhiều vụ việc kì quái. Đây là sự thật.
Kawaminami và Shishiya vô tình bị cuốn vào các vụ việc đó. Đây cũng là sự thật.
Vụ đầu tiên xảy ra sau hỏa hoạn Lam Ốc khoảng nửa năm, tức mùa xuân năm 1986.
Trên Giác Đảo, Nakamura Seji còn xây một ngôi nhà tên Thập Giác Quán, nhìn từ trên cao sẽ thấy nó có hình thập giác đều. Lửa chỉ thiêu Lam Ốc, Thập Giác Quán còn nguyên nhưng bỏ hoang. Nửa năm sau, một nhóm sinh viên lấy danh nghĩa tập huấn, hăm hở tới đây thám hiểm và rơi vào một án mạng thảm khốc... Đến lượt Thập Giác Quán chìm trong biển lửa.
Kawaminami không tận mắt chứng kiến, không hiểu sao biển lửa ấy lại khắc sâu trong tâm khảm... Quen biết cả nhóm ra đảo, đến giờ cậu vẫn chưa quên được nỗi bàng hoàng sửng sốt khi hay tin toàn bộ tử vong.
Bỏ lại sau lưng tiếng gió hú trên đèo Vọng, xe tiếp tục men theo đường núi ngoằn ngoèo. Sương mù đã tan hết, tầm nhìn thông thoáng hơn, dù vậy trời vẫn u ám. Mây trên cao nhợt nhạt, tưởng đâu là sương ban nãy bay lên. Gió lùa cây chậm rãi ngả nghiêng, lá bợt bạt. Kawaminami có cảm giác mình vừa ra khỏi lằn ranh nào đó, không còn mấy ý nghĩ hão huyền kiểu như kẽ nứt không-thời gian dẫn đến hậu tận thế).
Cảm giác này, cậu đã từng nếm trải vào mùa hè hai năm trước.
Cuối tháng 7/1989, vào làm Kitansha chưa bao lâu, Kawaminami được phân công tham gia dự án đặc biệt của tạp chí CHAOS, và lên đường đến Thời Kế Quán ở Kamakura để lấy tin. Khi taxi rời nội thành; khi những khu dân cư yên tĩnh lùi lại đằng sau và xe ngoặt qua vài ngã rẽ; khi hai bên đường bất ngờ xuất hiện hàng sồi cao lớn; khi xe đi lên triền dốc ẩn dưới bóng cây um tùm... Kawaminami đều có cảm giác này.
Mình vừa ra khỏi lằn ranh.
Mới chớm nghĩ thế, cậu đã thấy bóng dáng Thời Kế Quán thấp thoáng qua cánh rừng rậm rạp. Đó là nơi ép cậu phải nhớ lại nhân vật tưởng chừng đã lãng quên sau vụ Thập Giác Quán: kiến trúc sư Nakamura Seiji. Bên trong ngọn tháp giống chiếc đồng hồ quả lắc khổng lồ ấy cất giấu một bộ sưu tập đồng hồ Đông Tây kim cổ. Ngoài bộ sưu tập, Thời Kế Quán còn chứa 108 chiếc đồng hồ lặng lẽ tính thời gian của họ. Tháp đồng hồ không kim sừng sững giữa rừng, cất giấu một bí mật lớn lao. Chỉ trong ba ngày, hệt như ác mộng, ở đó xảy ra án mạng liên hoàn...
Thời gian đã hết
Ánh cầu vồng rọi chiếu thánh đường
Đây là bài thơ “tiên tri” của Koga Michinori, chủ nhân Thời Kế Quán kiêm cựu chủ tịch Công ty Đồng hồ Koga.
Giữa tiếng gào thét rung trời chuyển đất
Các người có nghe thấy không
Tiếng sụp đổ ầm ĩ lại vang vọng bên tai Kawaminami.
Nữ thần trầm mặc, cất tiếng ngâm nga mỗi một lần
Đó là khúc lâm chung động lòng
Kawaminami liên quan đến hai sự cố Quán của Seiji, là Thập Giác Quán và Thời Kế Quán. Thêm án mạng Hắc Miêu Quán mùa hè năm ngoái là ba. Tính cả hỏa hoạn Lam Ốc là bốn. Thực tế không chỉ có ngần ấy, các Quán khác cũng gặp phải nhiều vụ việc bi thảm.
Ví như Thủy Xa Quán ở sâu trong vùng núi Okayma. Kiến trúc này trông giống lâu đài cổ với ba guồng nước khổng lồ, bên trong lưu giữ toàn bộ tác phẩm của Fujinuma Issei, một danh họa theo phong cách hư ảo. Vào một đêm mưa gió, thảm kịch bất ngờ phát sinh.
Hay Mê Lộ Quán ẩn mình giữa rừng già trên bán đảo Tango. Kiến trúc này là một mê cung dưới lòng đất, mô phỏng mê cung Minos trong thần thoại Hy Lạp, nơi đây cất giữ di sản đồ sộ của văn hào Miyagaki Yotaro. Ngôi nhà không khác gì phòng kín ấy là hiện trường cho một loạt án mạng ly kì.
Shishiya có mặt và phá giải cả hai vụ này. Nghe đâu anh còn tiếp cận vụ án quái đản nào đó tại khu nhà tên Nhân Hình Quán ở Kyoto, nhưng mặc cho Kawaminami gặng hỏi, Shishiya dứt khoát ngậm tăm.
Nhìn chung, đám “Quán của Seiji” nhuốm đầy chết chóc. Xét từ góc độ nào cũng thấy bất thường. Shishiya từng nói đùa rằng, có lẽ chúng được Thần Chết chiếu cố. Ngẫm ra cũng khá có lý, bởi vậy, lời khuyên đừng dại dột lại gần là đúng thôi.
Có điều, Kawaminami thấy lòng đầy mâu thuẫn. Tất nhiên cậu không muốn dính líu tới mấy vụ việc đẫm máu đó, càng không mong phải trải qua tình cảnh tương tự thêm lần nào. Tuy nhiên không thể phủ nhận, cậu luôn hoài niệm về “Quán của Seiji”. Vì không có mặt tại hiện trường Thập Giác Quán và Hắc Miêu Quán, cậu đủ bình tĩnh nhìn lại là điều dễ hiểu. Nhưng trong trường hợp Thời Kế Quán, với tư cách người trong cuộc, chứng kiến các bạn đồng hành bị sát hại, cậu vẫn hoài niệm. Đáng lẽ phải đào sâu chôn chặt vào đáy tim những kí ức kinh hoàng, tàn khốc, bi thương, phẫn nộ ấy chứ? Sao lại hoài niệm?
Không chỉ do thời gian làm nhạt bớt hãi hùng, mà còn do nội tâm thay đổi vì những vấn đề xảy ra gần một năm qua.
Các vụ Quán cùng cách thức tử vong ấy hết sức phi lý và hoàn toàn xa lạ với cuộc sống thường nhật, cậu nghĩ, không thể đánh giá chính xác bằng thước đo thực tế. Nói cách khác, chúng chỉ tồn tại bên kia lằn ranh, tách biệt với bên này. Dù hai bên liền kề, thì vẫn khác nhau. Đó là một thế giới khác, ngăn cách với thực tại bằng bức tường vô hình. Chỉ ở đó mới xảy ra những cách thức tử vong đặc biệt...
Bản thân “tử vong” không có gì đặc biệt. Nó thường trực trong cuộc sống. Ai rồi cũng chết. Đó là lẽ dĩ nhiên, là quy luật tất yếu. Nhưng... à không, bởi thế trước kia cậu chưa từng để tâm nghiền ngẫm, nói khác đi, cậu đã vô thức bỏ qua nó.
Kiểu chết phổ biến nhất trên đời, gắn liền với cuộc sống con người không hề giống các kiểu chết hiếm gặp trong “Quán của Seiji’. Nó không dị thường, cũng không kịch tính. Ở một khía cạnh nào đó, nó mang đặc trưng của con người hiện đại.
Mẹ... Trước mắt Kawaminami chợt hiện lên hình ảnh mẹ nằm trên giường bệnh, ống truyền khắp người. Bên tai văng vằng giọng mẹ trong lần gặp cuối. Cậu hít một hơi thật sâu, lắc đầu xua đi hình ảnh và giọng nói ấy, nhưng vô ích.
“Để tôi chết!” Mẹ thều thào không ra tiếng, mắt trân trân nhìn vào khoảng không vô định. “Quá đủ rồi. Giết tôi đi... Cho tôi thanh thản.” Đó là những lời mẹ nói…
Một buổi chiều nóng nôi cuối tháng Bảy, mẹ qua đời tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Kumamoto.
Bên cạnh mẹ lúc lâm chung, ngoài các y bác sĩ còn có ba người là anh cả (hơn Kawaminami bốn tuổi), chị dâu và dì. Hay tin mẹ hấp hối, ba người tức tốc từ công ty chạy tới bệnh viện, tiếc là không kịp. Kawaminami đang ở Tokyo, bận bịu chỉnh sửa bản thảo sắp đến hạn nộp, bởi vậy chẳng thể gặp mẹ lần cuối.
Tám tháng trước, tầm cuối thu năm ngoái, mẹ bị chẩn đoán mắc bệnh nan y. Đúng đợt ấy Kawaminami đi công tác Kyushu, tiện thể về thăm nhà. Đang cùng ngồi ăn, mẹ bỗng nôn ồng ộc, vẻ mặt đau đớn. Đợi cơn đau của mẹ dịu xuống, hỏi ra mới biết, dạo này thi thoảng mẹ lại gặp tình trạng như vậy. Để tránh gia tăng gánh nặng tâm lý, Kawaminami vội trấn an mẹ đừng lo, không sao đâu, đồng thời vẫn đưa mẹ tới bệnh viện. Kết quả chẩn đoán bi quan đến khó tin.
Mẹ đã 55 tuổi, song chưa từng mắc bệnh gì nghiêm trọng. Còn ấp ủ mai này đợi ba nghỉ hưu, hai người sẽ về thăm Shimabara rồi đi hết các suối nước nóng Nhật Bản. Mẹ cũng từng tự tin tuyên bố mình sẽ sống tới trăm tuổi. Vậy mà...
Nếu không điều trị thì chỉ sống được vài tháng nữa. Mọi người trong nhà buộc phải chấp nhận thông báo tàn nhẫn này, nhưng theo yêu cầu của ba, không ai cho mẹ biết tên căn bệnh, bởi con người mẹ trông qua mạnh mẽ, thực chất lại mong manh. Không cho mẹ biết sự thật là muốn tốt cho mẹ thôi. Ba làm bạn đời với mẹ bao nhiêu năm, nay đã kiên quyết như thế thì anh trai chị dâu hay Kawaminami dù không đồng tình cũng chẳng dám cãi cự.
Kawaminami không muốn hồi tưởng diễn biến về sau, mà thật ra nhiều chi tiết cũng đã phai nhạt.
Mẹ bắt đầu cuộc sống trong bệnh viện. Đầu năm nay, mẹ làm phẫu thuật nhưng kết quả không lạc quan. Khi ấy chắc mẹ đã nhận ra mình mắc bệnh nặng. Giấu giếm đến đâu, cái kim trong bọc vẫn lòi ra. Suy cho cùng, cơ thể ai người đó hiểu nhất. Tuy vậy mẹ không bao giờ lộ vẻ khó chịu hay lo lắng, luôn tươi cười trước mặt cậu con trai năm thì mười họa mới dẹp bớt bận rộn để về Kumamoto thăm mình. Kawaminami thực sự không muốn nhớ lại, thậm chí chỉ muốn quên đi. Tiếc rằng không như ý nguyện. Có vài cảnh tượng cứ khắc sâu vào tâm trí cậu. Một trong số đó là...
Đằng xa, vịnh Shimabara mờ ảo dưới chiều tà. Ở gần, hàng anh đào lác đác nở hoa. Nắng dìu dịu, gió hiu hiu, chiều xuân ấm áp. Đang thần người ngắm khung cảnh ngoài cửa sổ, mẹ bỗng cất tiếng, giọng nghiêm túc.
“Takaaki này, thật ra...” So với lần gặp trước, mẹ có vẻ khỏe hơn, đã ngồi dậy được, còn ăn chút thạch cậu mang đến. “Trước giờ mẹ chưa kể. Có điều, chắc con cũng thấy hai anh em không giống nhau nhỉ?”
Kawaminami hiểu ngay hai anh em ở đây là mình và anh trai. Quả thật, họ không có điểm chung nào dù là diện mạo, vóc dáng hay tính cách. Người ngoài đã nhận xét nhiều lần, chính cậu cũng nhìn ra từ lâu.
Mẹ vẫn ngắm cảnh, liếc thấy Kawaminami gật đầu thì thở dài, “Giống nhau sao được... Có quan hệ máu mủ gì đâu.”
"Dạ?!"
“Takaaki! Con với anh không phải ruột thịt.”
Kawaminami tròn mắt ngạc nhiên. Mẹ tiếp tục trong lúc nhìn ra cửa sổ.
“Con không phải do mẹ sinh, mà là do ba mẹ nhận nuôi.”
Kawaminami nghe rõ từng từ, nhưng không hiểu một từ nào, cũng không biết phản ứng ra sao, đầu óc trống rỗng, tư duy trắng trơn. Mãi cậu mới thốt được, “Không... thể đâu!?”
Mẹ từ từ quay sang, ngắm gương mặt cậu giây lát rồi đưa tay lên sờ gò má xanh xao của mình, khẽ cười. “Sao thế ạ?”
Mặc kệ Kawaminami hoang mang, mẹ cười một lúc rồi nheo mắt, “Đùa thôi.”
"Dạ?"
“Mẹ đùa thôi. Đừng tin.”
“Đùa ấy ạ...”
“Chẳng lẽ đau ốm thì không được đùa nữa?” Mẹ tinh nghịch nghiêng đầu, đánh mắt về phía lịch treo tường. “Hôm nay là ngày nói dối mà.”
Tờ lịch in rõ: Thứ Hai, 1/4...
Đó là chuyện xảy ra vào ngày Cá tháng Tư năm nay. Mẹ lúc ấy, có lẽ muốn tỏ ra mình vẫn ổn, hoặc chỉ đơn giản là muốn hâm nóng bầu không khí khi con trai ở xa lâu ngày về thăm. Thật nhiều hình ảnh không thể nào mà quên được. Tiếp theo là...
Thứ Hai, 3/6. Kawaminami còn nhớ rõ là 4 giờ 8 phút chiều, đấy là lúc khu vực bên kia vịnh Shimabara chịu thiệt hại nặng nề do vụ phun trào núi lửa Unzen Fugen. Thành phố Kumamoto hôm đó mưa to, mưa kéo dài từ hai hôm trước, sấm rền vang khắp trời. Chiều tối mưa ngớt, Kawaminami tranh thủ tới bệnh viện và nghe được thông báo khẩn cấp trên radio taxi.
Tháng Mười một năm ngoái, sau hai trăm năm ngủ say, đỉnh Fugen bất ngờ thức giấc, gây ra vụ nổ dung nham cực mạnh, magma núi lửa lan rộng chưa từng thấy, xuống tận làng mạc ở hai khu vực Kamikoba Bắc và Kamikoba Nam dưới chân núi. Nhiều người mất tích, trong đó có phóng viên và các nhà nghiên cứu núi lửa. Ngoài ra, người bị thương cũng không ít...
Kawaminami tới được bệnh viện thì đã là 6 giờ chiều. Dì đang ở đó. Mẹ dán mắt vào màn hình ti vi cỡ nhỏ đặt cạnh giường, chăm chú xem, quên cả hỏi han đứa con vừa đến. Ti vi đang đưa tin trực tiếp về thảm họa núi lửa. Khí nóng và bụi tro chồm lên nuốt chửng mọi thứ. Cây cối đổ rạp, nhà cửa cháy rụi, người người hoảng loạn chạy trốn... Kawaminami ngó xem mà chết lặng.
Shimabara là nơi cậu sinh ra và trải qua thời thơ ấu. Cậu từng leo lên đỉnh Fugen, ngắm phong cảnh làng quê Kamikoba yên bình không chỉ một lần, hễ nhắc tới dãy Unzen là lại thấy thân thương. Kí ức đó vẫn vẹn nguyên. Vậy mà giờ đây...
“Tội nghiệp quá.” Mẹ thì thầm, rời mắt khỏi ti vi, giọng đều đều, có cảm giác mẹ không còn cả sức để bộc lộ nỗi đau. “Con người, làng mạc, cây cối, núi non... Tất cả đều thật tội nghiệp.”
“Chưa biết tình hình này kéo dài đến bao giờ.” Dì tiếp lời mẹ, giọng cường điệu. “Không khéo cả chỗ chúng ta cũng chịu ảnh hưởng. Núi lở dễ gây sóng thần. Thời Edo từng có vụ tương tự mà.”
Kawaminami lặng lẽ đến bên giường bệnh, cúi xuống nhìn và chào mẹ. So với lần gặp trước, mẹ gầy hơn, má hóp lại, mắt lồi ra. Từ tháng Năm năm nay, bệnh tình mẹ chuyển biến xấu, phải đặt ống thông tĩnh mạch trung tâm dưới xương đòn và ống thở ở mũi. Mỗi lần vào thăm lại thấy dây dợ trên người mẹ nhiều thêm. Mẹ hầu như không ăn được đồ rắn nữa, và chắc chẳng mấy chốc sẽ thôi cả việc tự đi vệ sinh.
“Mẹ thấy trong người sao rồi?”
“Mẹ ổn.” Phải mất một lúc mẹ mới đáp, môi nở nụ cười gượng gạo. “Vẫn ổn... hơn bọn họ.”
“Bọn họ?”
“Những người bị dung nham núi lửa nuốt chửng kia..."
“À! Kinh khủng quá mẹ nhỉ.”
“Xem kìa, Takaaki!” Mẹ chậm rãi giơ tay, trỏ vào ti vi. “Ngọn núi ngày xưa đẹp biết bao...”
Trên ti vi đang giải thích quá trình hoạt động núi lửa một năm trở lại đây, đúng lúc minh họa bằng hình ảnh đỉnh Fugen hồi giữa tháng Năm. Vòm dung nham nhờ nhờ trên đỉnh núi căng dần, nứt toạc và lan rộng ra tựa bông cải trắng. Thật quá lạ lùng. Kawaminami không tin được đó là ngọn núi thuở bé mình từng leo lên.
Phải chứng kiến vùng đất đầy kỉ niệm thay đổi trong chớp mắt, không biết mẹ cảm thấy thế nào. Giờ ngẫm lại, có khi lúc ấy mẹ đang liên tưởng tới cơ thể bị bệnh tật gặm nhấm của mình. Chưa biết chừng câu thở than thương xót của mẹ là dành cho bản thân.
“Không về Shimabara được nữa rồi.” Mẹ lẩm bẩm.
Kawaminami chưa biết trả lời thế nào, dì đã lên tiếng, “Sao lại không! Khi chị khỏi bệnh, chắc núi lửa cũng ngừng phun...”
“Không đâu.” Mẹ khẽ lắc đầu trên gối.
Đêm ấy, mẹ nôn ra rất nhiều máu. Chưa đến nỗi nguy kịch nhưng nghe bảo cấp cứu chậm một chút thôi là mất mạng rồi. Bác sĩ phụ trách thông báo, bệnh mẹ đã vào giai đoạn cuối, và đề xuất một số giải pháp để gia đình lựa chọn.
“Được ngày nào hay ngày ấy. Xin bác sĩ cố gắng.” Ba nghẹn ngào đáp.
Thật ư? Kéo dài là cách hay sao? Kawaminami thấy lấn cấn vô cùng, nhưng nhìn ba đang mím môi nuốt nước mắt, cậu đành im lặng.
Mẹ ơi... Kí ức lại chuyển cảnh.
Lần này là cảnh tượng luôn ám ảnh Kawaminami.
Chiều thứ Bảy, 6/7. Lần cuối Kawaminami nhìn thấy mẹ. Nằm trên giường bệnh, ống truyền chằng chịt quanh người, mẹ không còn tự ăn uống hay đi vệ sinh được, trở mình cũng khó. Khắp phòng xộc lên một mùi khó tả, không rõ là thối, lờ lợ, hay tanh. Trong phòng lúc này chỉ có mình Kawaminami. Cậu ngồi bên giường, ngắm gương mặt tiều tụy của mẹ.
Thi thoảng mẹ lại hé mắt, máy môi lẩm bẩm dưới nạ thở, không rõ là nói gì. Mẹ không ngủ, nhưng do thuốc nên cứ nửa tỉnh nửa mê. Con trai bắt chuyện, mẹ chẳng phản ứng. Mẹ không nghe thấy? Nghe thấy mà không trả lời? Hay muốn trả lời mà không được? Kawaminami còn tự hỏi, liệu mẹ có nhận ra người đang ngồi đây là con trai út mẹ không?
Đột nhiên mẹ mở bừng mắt, nhìn thẳng vào cậu, tay phải dò dẫm đưa lên miệng. Kawaminami liền nhổm dậy hỏi, “Mẹ sao thế? Khó chịu ạ?”
Mẹ nhíu mày rên rỉ.
“Con gọi y tá cho mẹ nhé?”
Mẹ giật mặt nạ thở ra. Kawaminami toan đeo lại giúp thì mẹ chậm chạp lắc đầu. Và...
“Để tôi chết!” Hơi thở mẹ phập phù, giọng thều thào, nhưng Kawaminami vẫn nghe rõ. “Quá đủ rồi! Giết tôi đi... Cho tôi thanh thản.”
Không biết phải làm thế nào, cũng không thể khuyên “Mẹ đừng nói thế” hay “Mẹ lạc quan lên”, Kawaminami đành ngoảnh mặt đi, tránh nhìn mẹ, thần người nghĩ ngợi. Tại sao mẹ phải sống thế này? Sao lại bắt mẹ sống thế này?
Băn khoăn đè nén bấy lâu nổ tung trong đầu, nắm tay siết chặt lạnh tê, ngực đau như bị ép, hít thở khó khăn. Tại sao lại ra nông nỗi này? Tại sao phải làm thế chứ? Tại sao... À đúng, chắc mẹ cũng nghĩ vậy. Mẹ biết rõ kết cục đang chờ đợi mình, do đó mới than “Quá đủ”, mới nài nỉ “Cho tôi thanh thản”.
“Mẹ ơi...” Bây giờ chỉ cần gỡ mặt nạ thở, rút ống truyền, ngắt nguồn thiết bị hỗ trợ... Hoặc đơn giản hơn, đặt đôi tay này quanh cổ mẹ, bóp vào. Chỉ chốc lát thôi. Tất cả sẽ kết thúc. Rất chóng vánh. Nếu làm vậy...
Tiếp theo thế nào, Kawaminami không nhớ rõ. Kí ức từ đây rời rạc... Bản thân loạng choạng lao qua hành lang mờ tối. Y tá ngờ vực ngoảnh nhìn. Cụ già ngồi xe lăn chờ thang máy. Tiếng giày chói tai trên các bậc thang. Còi xe cấp cứu inh ỏi ngoài cửa sổ. Những gương mặt xa lạ nhộn nhạo ở sảnh bệnh viện. Giọng nói trung tính vang qua loa, gọi tên ai đó. Cô bé áo vàng ngồi lẻ loi trên băng ghế trước phòng khám...
Kawaminami lao ra khỏi bệnh viện, đột nhiên khựng lại thở dốc, nước mắt lăn dài trên má.
Trời đổ mưa tầm tã, hệt như ngày núi lửa Fugen phun trào.