Quán (Bộ 7 Tập)

Chương 3Bóng rơi

Chương 3Bóng rơi

Chương 3

Bóng rơi

23/9. Ngày và đêm dài bằng nhau. Vào buổi chiều muộn, trong một căn phòng ở Ám Hắc Quán nhà Urado, tôi thơ thẩn ngắm cảnh ngoài cửa sổ.

Ám Hắc Quán là quần thể gồm bốn ngôi nhà xây trên một đảo nhỏ giữa hồ. Ngôi nhà tôi đang đứng là Nhà Đông, hai tầng, cấu trúc gỗ theo phong cách phương Tây. Từ cổng đảo nhìn thẳng vào là thấy nó, coi như bộ mặt của dinh thự. Dĩ nhiên cửa chính dinh thự cũng ở hướng này. Theo lời giới thiệu của Urado Genji, Nhà Đông ngoài cùng và Nhà Tây trong cùng là hai nhà cổ nhất ở Ám Hắc Quán, xây vào cuối những năm 1910, không chỉ lâu đời mà còn mang phong cách kiến trúc độc đáo hệt như lời đồn. Từ mái, tường, đến cửa sổ cửa lớn đều sơn đen kịt, trông mà rùng mình. Xét tổng thể, dinh thự mang phong cách phương Tây song vẫn khéo léo chấm phá họa tiết và cách thức xây dựng truyền thống, khiến tôi cực kì hứng thú. Ngôi nhà này hẳn cũng đi theo trào lưu Tây hóa vô cùng thịnh hành thời kì Khai hóa văn minh.

Lúc này là 6 giờ 20 phút chiều. Tôi và Genji đang ở tầng hai Nhà Đông, trong căn phòng kiểu Tây mà Genji gọi là “phòng nghỉ”. Cửa sổ có hai lớp, bên trong là kính mờ kéo lên xuống, bên ngoài là cửa chớp màu đen. Cả hai đều đang mở, cho thấy khung cảnh chạng vạng bên ngoài. Dưới hoàng hôn u ám, xa xa sau những bụi cây um tùm thấp thoáng bóng tháp đen. Tháp đứng biệt lập với nhà chính, không cao, chỉ bằng ngôi nhà ba, bốn tầng. Đỉnh tháp có một phần chìa ra, chắc là bao lơn. Ở đó... bỗng có bóng trắng động đậy.

“A!” Tôi vô thức thốt lên. Cái gì thế? Người ư? Thấy lạ, tôi bèn quay mặt vào phòng. Căn phòng cũng sơn đen, từ tường, sàn đến trần, khiến tấm thảm đỏ thẫm trải giữa phòng nổi bật lên. Genji đang ung dung hút thuốc trên ghế bành da, vận cả cây đen (giày, quần, sơ mi, áo len mỏng) rất hài hòa với dinh thự. Bắt gặp ánh mắt tôi, anh hạ cái chân đang gác lên chân kia và hỏi, “Sao thế, Chuya?”

Genji thường gọi tôi bằng tên của nhà thơ trữ tình yểu mệnh ấy. Đã bảo đừng trêu nhau mà anh chẳng nghe nên dần dà tôi cũng quen, còn khoái đội mũ phớt đen để đùa lại.

“Vừa rồi ở ngọn tháp đằng kia, tôi thấy...”

“À, tháp Thập Giác hả? Nếu thích, mai tôi dẫn cậu đi xem.”

“… Có người.”

“Hả?” Genji nghiêng đầu ra chiều chưa hiểu, cầm điếu thuốc hút dở đứng dậy.

“Lạ thật! Đằng kia thực sự...” Tôi ngó ra ngoài cửa sổ, quan sát thật kĩ đỉnh tháp. Quả nhiên ở bao lợn lờ mờ bóng trắng... Đúng là bóng người!

Tiếng giày lan qua thảm gần lại, Genji tiến tới chỗ tôi. Đột nhiên, như để ngăn cản anh... Uỳnh! Tiếng đất rền vọng tới, kéo theo rung lắc va đập. Tôi bám hai tay vào khung cửa sổ, hạ thấp mình xuống. Genji than vãn sau lưng, “Lại nữa?” Đây là lần thứ hai trong hôm nay xảy ra động đất. Lần đầu cách đây hai tiếng. Tình hình lúc ấy và cả bây giờ đều làm tôi nhớ đến vụ núi lửa phun trào gây ra bao thương vong hồi tháng Sáu. Có lẽ núi lửa lại đang phun trào, dẫn đến động đất... Không, không hợp lý. Xét trên quan điểm địa lý, chuyện đó là không thể. Cách đây hai tiếng, tôi từng nghĩ rồi tự bác bỏ như thế.

Mặt đất chao đảo còn lâu hơn lần đầu. Kính cửa sổ, ấm chén trên bàn, đồ trang trí trên kệ tủ kêu lạch cạch. Có cả tiếng răng rắc dị thường. Tôi không thể ngoảnh lại xem Genji thế nào, đành cứ khư khư bám chặt khung cửa, cố giữ mình an toàn. Bất chợt bên ngoài có tiếng hét. Dù chỉ nghe loáng thoáng, tôi vẫn nhận ra là chuyện chẳng lành, vừa duy trì tư thế vừa liếc ra xem, tình cờ bắt gặp bóng trắng ngã nhào khỏi bao lơn.

“Á!” Tôi bật thốt, đúng lúc đồng hồ trên bệ lò sưởi điểm 6 rưỡi. Khi chuông tắt, động đất cũng ngừng.

“Hết chưa?” Genji khẽ hỏi.

Tôi thở dài đứng thẳng dậy.

“Chà chà. Sợ phết! Trận này khéo còn mạnh hơn ban nãy.” Genji nhìn quanh phòng rồi dang tay đùa cợt, ra chiều yên tâm. Áo len không cài khuy, rộng thùng thình xòe sang hai bên như cánh dơi theo cử động của anh. “Nhà cửa coi bộ vẫn yên ổn. Tốt quá!”

Ngọn đèn trần chầm chậm lắc lư. Ngoài vài đồ trang trí trên kệ bị rơi và tranh treo tường hơi lệch thì không có gì hư hại.

“Đúng dịp cậu đến chơi, ngôi nhà quý giá lại sập vì động đất thì chết dở... Ối, hú hồn!” Genji cúi nhặt điếu thuốc cháy dở hẳn là đánh rơi lúc giật mình, di gót giày lên chỗ thảm đã hơi sém lửa. “Hỏa hoạn cũng không đùa được đâu. Nhà này xưa giờ có duyên với lửa lắm. Cháy bao bận rồi. Hồi tôi còn bé, Nhà Bắc từng bị thiêu rụi, phải xây lại gần hết.”

“Genji!” Cuối cùng tôi cũng lên tiếng được. “Có chuyện rồi, ở đằng kia, vừa xong...” Tôi đánh mắt ra ngoài cửa sổ.

Genji nhíu mày ngờ vực, “À ừ, ban nãy cậu bảo bên tháp Thập Giác có người?”

“Người đó ngã lầu.”

“Sao cơ?”

“Chính mắt tôi trông thấy có bóng người rơi trên tháp xuống.”

“Thật á?”

“Tôi còn nghe thấy tiếng hét nữa. Người ta vừa bước ra bao lơn thì động đất...”

“Sau đó mất thăng bằng, ngã nhào xuống?”

“Có vẻ thế...”

“Đi xem sao.”

Dứt lời, Genji bỏ điếu thuốc vào gạt tàn rồi rảo bước ra ngoài. Tôi đuổi theo sau một thoáng ngần ngừ. Tại chiếu nghỉ cầu thang xuống tiền sảnh, chúng tôi gặp một phụ nữ cao gầy mặc đồ Tây đen y hệt đồ tang. Đây chính là người ra cửa đón chào lúc tôi mới tới Ám Hắc Quán, Genji gọi là “dì Tsuruko”, tên đầy đủ là Odagiri Tsuruko. Vào nhà thì một người giúp việc khác, thấp hơn Tsuruko, tuổi chừng ba mươi đến rót trà cho tôi.

Tsuruko chỉ chừng bốn lăm bốn sáu, mới trung niên mà tóc đã bạc phơ như bà lão trăm tuổi. Tóc bạc búi gọn sau gáy, trông lệch với tuổi nhưng lại hài hòa với thần thái nghiêm trang của dì. Thấy chúng tôi vội vã chạy xuống, Tsuruko giật mình dừng bước, áng chừng nhận ra có điều bất thường, dì quan sát với vẻ nghi hoặc, “Cậu Genji!” Genji không đáp mà đi lướt qua. Tsuruko lại hỏi với theo, “Có chuyện gì vậy?”

“Chìa khóa tháp đâu?” Genji đứng lại.

“Hả?”

“Chìa khóa tháp Thập Giác ấy. Cửa tháp luôn khóa mà, phải không?”

“Phải.” Tsuruko liếc tôi rồi lại nhìn Genji. “Tháp làm sao?”

“Có ai lên tháp ấy. Chuya nhìn thấy bóng người rơi khỏi tháp trong lúc động đất.”

"Hả!?"

“Nếu thật thì nguy to, phải đi xem thế nào. Dì...”

“Tôi đi cùng luôn.”

Ba chúng tôi lao ra ngoài. Bốn bề tối om. Trên cột hiên leo lét một ngọn đèn. Trời âm u, lác đác vài ánh sao. Xen giữa những bóng cây là khoảng tối thăm thẳm.

“Phải lấy đèn pin.” Tsuruko đề nghị.

Genji gật đầu, “Vậy nhờ dì, bọn cháu đi trước.” Tsuruko quay vào nhà, Genji liền gọi, “Chuya! Lối này!”

Tôi lẽo đẽo chạy qua vườn theo bóng anh lờ mờ, hướng cổng, được một quãng thì rẽ trái, tiến sâu vào đêm đen, mất một lúc mới đến tháp. Bóng tháp sừng sững đen thẫm dưới ánh sao le lói. Cửa ở mặt trước tháp đang đóng, đúng như mô tả “cửa tháp luôn khóa”. Genji toan tiến đến kiểm tra, nghĩ sao lại dừng bước đổi ý. Anh lẩm bẩm, “Bên kia chăng?” Và xoay người sang trái, hướng Nhà Đông. Anh đi một vòng quanh tháp, tôi dò dẫm theo sau. “Đâu nhỉ? Rơi từ bao lơn xuống thì ở quanh đây thôi...” Genji ngó nghiêng.

Tôi cố tái hiện hình ảnh bóng trắng trong đầu, và mò mẫm tìm kiếm dấu vết.

Loạt soạt! Tiếng động thình lình phát ra, làm chúng tôi không khỏi cảnh giác. Nghe giống tiếng chân giẫm lên cỏ. Có người đang di chuyển.

“Ai?” Genji hét vào màn đêm. “Ai đấy?”

Loạt soạt! Loạt soạt! Tiếng động tiếp tục cất lên. Đúng là tiếng bước chân. Ai đó đang tới chỗ chúng tôi. Cảnh vật bỗng quang quẻ hơn. Tôi ngước lên, gió thổi mây bay, mặt trăng lấp ló, trông như trái chanh vàng thối đã bóc lớp vỏ héo quăn, để lộ thịt quả nát nhũn bu đầy bọ đen.

“Ai đấy?” Genji réo hỏi. Đáp lại là tiếng bước chân càng lúc càng gần. Chẳng mấy chốc, dưới trăng mờ, một bóng người nhỏ thó trồi ra khỏi tán phong tươi tốt cạnh tháp.

"Ai… Ơ, Shinta."

Đó là một thằng nhóc mặc sơ mi cộc tay và quần soóc.

“Em làm gì ở đây thế?”

Thằng nhóc đứng im nhìn chúng tôi rồi lúc lắc cái đầu trọc lốc. Trời tối, không trông rõ mặt song tôi vẫn nhận ra nó đang sợ hãi. “Anh... Genji!” Giọng nó the thé như tiếng kèn lá.

“Sao hả?”

Thằng nhóc đút tay phải vào túi quần, bước lại gần chúng tôi và giơ tay trái về phía bóng cây nó vừa bước ra, “Bên kia... Có người đang ngủ.”

"Ngủ?"

“Bên kia kìa... Trông không quen.”

“Em bảo có người bên kia?” Genji tiến tới gần, gằn giọng làm thằng nhóc run rẩy, lùi một bước như thể phạm lỗi bị mång. "Này! Shinta!"

“... Không biết.” Thằng nhóc lắc đầu rồi xoay người bỏ chạy, tay phải vẫn đút túi quần.

“Kìa! Chờ đã!”

Thằng nhóc chạy ngược lại con đường chúng tôi vừa đi qua, mất hút về phía vườn.

“Nhóc nào đấy?” Tôi hỏi Genji.

"Con chị Shinobu."

"Chị Shinobu?”

“Chị người làm mang trà cho cậu, tên đầy đủ là Hatori Shinobu. Shinta là con chị ấy.” Genji ngừng lại, chọc ngón tay vào thái dương rồi tiếp tục, “Đầu óc nó hơi chậm chạp... Thôi, qua bên kia xem trước đã.”

Genji đánh mắt sang phía cây phong. Tôi gật đầu, đi theo anh. Người mà thằng nhóc bảo đang ngủ chắc là người rơi khỏi tháp. Quả nhiên, vừa cúi mình băng qua tán phong um tùm là thấy... Một người đang nằm sấp cạnh bụi đỗ quyên rậm rạp cao ngang ngực. Trang phục, vóc dáng, kiểu tóc cho thấy đây là nam giới, hơn nữa còn khá trẻ.

Tôi và Genji đến gần, anh ta vẫn nằm bất động. Genji bước tới sát bên, quỳ một gối xuống, khom mình kiểm tra. “Vẫn thở. Mạch vẫn đập. Xem chừng chỉ ngất đi thôi.”

“Anh ta là ai thế?”

Genji không trả lời, nhổm dậy ngó quanh rồi ngẩng đầu lẩm bẩm, “Chà! Chẳng lẽ...”

Đúng lúc này, bên kia cây phong vang lên tiếng gọi, “Cậu Genji.” Tsuruko đã mang đèn pin tới.

“Bọn cháu ở đây!” Genji đứng dậy. “Chỗ này! Mau lên!”

Chẳng mấy chốc, luồng sáng xé toạc bóng đêm, “Cậu Genji!"

“Đèn đâu đưa cháu!”

Tsuruko mang hai ra hai đèn, dì đưa cho Genji một chiếc, cầm chiếc còn lại soi vào thanh niên đang nằm sõng soài. “Người ngã khỏi tháp đây à?”

“Chắc vậy. Cậu ta còn sống. Không bị thương nặng.” Genji bật đèn pin và quỳ một gối xuống như ban nãy. “Dì giúp cháu lật cậu ta lại.”

“Vâng. Cậu Chuya, phiền cậu cầm hộ.” Tsuruko đưa đèn cho tôi rồi cùng Genji xoay thanh niên nằm ngửa ra, thái độ bình tĩnh, động tác nhanh nhẹn.

Tôi rọi đèn pin vào mặt thanh niên. Trạc tuổi Genji, tầm hai lăm hai sáu, mắt nhắm nghiền, gò má và chóp mũi lấm đất lẫn với vết máu, nhưng trông không ốm yếu kiệt quệ gì, cũng không có vẻ bị thương nặng.

“Cậu gì ơi!” Genji vỗ vai thanh niên. “Nghe được không?” Thấy khóe miệng vương máu nhúc nhích cùng tiếng ú ớ, Genji gật đầu, “Tốt,” và soi đèn vào mắt anh ta, kiểm tra phản ứng đồng tử. Không nhiều kinh nghiệm lâm sàng nhưng là cựu sinh viên y khoa, anh biết nên làm thế nào.

Nhìn Genji, tôi sực nhớ lại chuyện cũ. Cách đây năm tháng, tôi 18 tuổi, mới lên Tokyo học đại học. Hôm ấy, trời đổ mưa phùn từ trưa, làm ướt nhẹp những cây anh đào cuối mùa lún phún chồi non. Tất thảy đều như quá khứ xa xôi. Đêm xuân muộn ấy, có lẽ tôi cũng được Genji đích thân chăm sóc thế này. Chính khoảnh khắc đó, tôi...

Tưởng tượng không giúp khôi phục kí ức. Dù cố gắng lục lọi tâm trí đến đâu, tôi vẫn không nhớ gì về ngày hôm ấy. Trong lúc Genji xem xét thanh niên, Tsuruko ở bên cạnh hỗ trợ, thao tác vô cùng thành thạo.

“Ở đây không kiểm tra kĩ càng hơn được.” Cuối cùng, Genji kết luận, “Không gãy xương, di chuyển chắc chẳng sao nên cứ đưa cậu ta vào nhà đã.”

Tsuruko liền đáp, “Ừm.”

“Chuya, khiêng chân cậu ta giúp tôi.” Genji ngước nhìn tôi rồi ra lệnh. “Dì Tsuruko về trước, xem nào, chuẩn bị chăn nệm ở phòng nghỉ kiểu Nhật, rồi gọi bác sĩ Noguchi.”

“Được, tôi đi ngay.”

Tsuruko rời đi. Genji xốc nách thanh niên lên từ phía sau. Tôi giắt đèn pin vào thắt lưng rồi tiến tới nhấc chân anh ta, giờ mới thấy áo khoác màu be anh ta mặc đã nhem nhuốc y chang mặt mũi, quần cũng lấm bẩn, tay trái quấn khăn tay dính máu khô, hẳn là vết thương trước khi ngã lâu. Chúng tôi nâng thanh niên lên, chầm chậm di chuyển. Trên đường về Nhà Đông, tôi lại thắc mắc, “Anh Genji! Người này là ai thế?”

“Tôi cũng muốn biết đây.” Genji ngán ngẩm đáp. “Trông lạ hoắc. Ít nhất không phải người trong nhà.”

“Tức là người ngoài đột nhập?”

“Nhiều khả năng là thế. Mà...” Genji ngoái đầu liếc tháp Thập Giác, “Cậu ta may mắn đấy!”

“Là sao?”

“Bao lơn cách mặt đất bảy, tám mét. Thường thì ngã từ độ cao đó khó mà bình yên vô sự. Có khi chết ngay tại chỗ ấy chứ.”

“Anh nói phải.” Cảnh ngã lâu lại hiện lên trong tâm trí, tôi buột miệng, “Chắc cây phong kia đỡ cho anh ta.”

“Có vẻ thế. Cây phong cao tầm ba, bốn mét. Cậu ta được tán phong và bụi đỗ quyên đỡ lấy rồi mới lăn xuống đất. Dưới đất cỏ mọc um tùm, vừa hay mấy ngày nay mưa liên miên, hôm qua mới ngớt nên mặt đất khá mềm. Tóm lại là số may.” Genji nhìn gương mặt đang hôn mê của người thanh niên, cau mày thắc mắc, “Cậu ta là ai? Từ đâu tới?”

Câu hỏi ấy gợi lại trong tôi nỗi nghi hoặc... Tôi là ai? Một ngày xuân năm tháng trước, tôi đã tự hỏi đi hỏi lại... Sao tôi ở đây? Sao lại nói chuyện với người này?

“Làm thế nào mà cậu ta sang đảo, leo lên tháp được nhỉ? Mong cậu ta sớm tỉnh lại, tôi sẽ tra hỏi cho rõ ràng.”

Trăng lại khuất dạng sau đám mây, bóng đêm càng lúc càng dày. Chúng tôi lặng lẽ rảo bước trên lối nhỏ tăm tối.

Tôi và Genji đặt chân đến dinh thự nhà Urado, chính xác là lên đảo, lúc gần 4 giờ chiều.

Nửa tiếng trước đấy, tôi bắt gặp tấm biển thông báo đã vào địa phận nhà Urado, song vẫn phải đi mất một lúc mới trông thấy đảo nhỏ nổi giữa hồ nước xanh ngắt. Bên hồ có khoảnh rừng phát quang làm bãi đỗ xe. Chúng tôi để xe ở đó, xuống cầu tàu rồi lên thuyền máy cỡ nhỏ ra đảo. Người lái thuyền tên là Hiruyama Takeo, một bác trai 50 tuổi có cái bướu to tướng trên lưng. Chúng tôi tới nơi thì thấy bác đủng đỉnh tiến ra từ ngôi nhà đá nhỏ, chắc bác sống ở đây, vừa gác cổng vừa lái thuyền.

Viền quanh rìa đảo là tường bao bằng đá sừng sững như thành lũy. Đi thuyền gần mười phút mới tới. Sau khi cập bến, chúng tôi leo thêm một đoạn bậc đá xây men tường bao, bước qua cổng lớn màu đen rồi đi theo lối nhỏ xuyên qua vườn um tùm cây lá. Cuối cùng, tôi cũng được chiêm ngưỡng Ám Hắc Quán nãy giờ chỉ thấp thoáng sau tán cây và tường bao.

Dưới sắc trời u ám, thoạt nhìn dinh thự giống hệt cái bóng. Như thể nó vốn nằm ở nơi khác, chỉ đổ bóng xuống đây. Giữa đại ngàn heo hút, dinh thự đen ngòm tách biệt hẳn khung cảnh xung quanh, tỏ thái độ cự tuyệt, phủ nhận tất thảy. Hoặc có thể nói...

Nó vô cùng tham lam, ráo riết hấp thu toàn bộ ánh sáng sắc màu trên thế giới, để rồi biến thành một màu đen hỗn độn. Thế giới này sa vào bóng đêm vô hạn tạo ra từ màu đen ấy. Không chừng nó còn làm trung tâm, xoay chuyển cả thế giới, đảo lộn từ trong ra ngoài.

“Chuya, cậu thấy thế nào?” Câu hỏi của Genji kéo tôi khỏi luồng suy tư mộng mị. Tôi vội lắc đầu, chớp chớp mắt, ngắm dinh thự trước mặt. Tất nhiên đây là Ám Hắc Quán thật chứ không phải cái bóng nào cả, đơn giản là tường, cửa sổ, mái nhà, ống khói, đều sơn đen mà thôi...

“Ồ, nhà anh độc đáo.” Tôi vờ bình thản đáp.

“Đặc biệt là tường kìa.”

“Tường? Hừm.”

“Không phải bằng gỗ hay đá đâu.”

“Bằng gạch à?” Tôi quan sát thật kĩ. Mặt tường là những viên gạch vuông đen xếp khít và ngay ngắn theo hình thoi. Giữa các viên gạch trát thạch cao đen thô sần. Tổng thể vô cùng kì quái, giống da bò sát.

“Về khía cạnh kĩ thuật thì gợi nhớ tường hải sâm.”

“Hải sâm?”

“Là loại tường dùng cho nhà kho. Anh chưa thấy bao giờ ư? Họ ốp gạch phẳng lên tường, đắp nổi thạch cao trắng vào các mạch gạch, trông như gai hải sâm.”

“À, ra vậy. Nhưng cái này...”

“Không giống hoàn toàn. Vữa đen, cũng không đắp nổi. Lần đầu tôi thấy kiểu tường này đấy.”

“Không uổng công lặn lội chứ?” Genji cười.

Tôi gật đầu thay lời đáp rồi hỏi, “Dinh thự chia làm nhiều nhà ạ?”

“Ừ. Đây là Nhà Đông, hay 'Nhà ngoài’, chiếm một phần tư dinh thự. Có bốn nhà tương ứng với bốn hướng Đông Tây Nam Bắc, ở giữa là sân.”

“Các nhà giống nhau hết ư?”

“Tường này chỉ có ở Nhà Đông và nhà trong cùng là Nhà Tây. Hai nhà kia thì khác, dù đều sơn đen. Xem nhé! Cậu thấy bên kia không?” Genji chỉ về phía mạn phải Nhà Đông. “Kia là Nhà Bắc, xây bằng đá. So với Nhà Đông thì kiến trúc Nhà Bắc mới thực sự mang đậm phong cách phương Tây.”

“Toàn bộ nội thất cũng màu đen?”

“Về cơ bản là thế. Nếu có màu khác, thì là đỏ.”

“Đen với đỏ…”

“Đỏ như máu.” Genji sờ sờ cằm, khóe miệng nhếch lên đầy ẩn ý. “Nhà to mà ít cửa sổ. Đã thế chẳng mấy khi mở cửa chớp với cửa chắn mưa thành ra tối om om kể cả ban ngày. Quả nhiên là Ám Hắc Quán.”

“Dinh thự độc đáo thật!”

“Phải! Tôi sống ở đây từ bé nên cứ nghĩ bình thường. Lớn rồi mới nhận ra độ kì quái.” Genji thao thao bất tuyệt dù khuôn mặt lộ rõ nét mệt mỏi, làn da trắng trẻo giờ trắng bệch. Phụ trách cầm lái suốt từ nội thành Kumamoto về đây, kiệt sức cũng phải.

“Và xây dinh thự ở nơi hẻo lánh thế này cũng…”

“Kì quặc?”

“Thường người ta sẽ nghĩ vậy.”

“Chủ nhân đời đầu của Ám Hắc Quán là cụ tôi, Urado Genyo. Nói ra lại bảo cháu cụ chẳng khoe, nhưng thực sự là cụ giỏi buôn bán từ trẻ, hơn ba mươi đã kiếm được rất nhiều tiền. Chỉ tội tính hơi khác người, một ngày nọ, đột nhiên cụ mua hòn đảo với khu rừng bao quanh, xây dinh thự này, sống gần như tách biệt với đời, để hết cơ nghiệp cho đàn em quản lý. Tuy nhiên cụ vẫn giữ quyền quyết định tuyệt đối...”

Tôi vừa nghe Genji kể chuyện, vừa ngắm Ám Hắc Quán. Đã qua cơn choáng ngợp ban đầu, lúc này tôi chú ý quan sát các chi tiết kiến trúc, và thình lình thốt lên, “Ồ, chimera."

“Cái gì? Sao mà hết hải sâm lại tới quái vật thần thoại Hy Lạp thế?”

“Chimaira

[1]

mới là quái vật.”

“Chimera cũng từ đó mà ra thôi.”

“Anh bảo dinh thự xây vào cuối những năm 1910 phải không?”

“Ít nhất là Nhà Đông và Nhà Tây.”

“Thời Khai hóa văn minh, người Nhật nô nức làm nhà cửa kiểu Tây. Các thợ cả thời bấy giờ cố mô phỏng phong cách phương Tây, kết quả lại thành lai căng.”

“Ra vậy. Thế thì đúng là chimera rồi.”

“Cụm từ ‘kiến trúc Tây hóa’ vốn mang ý mỉa mai, để chỉ những ngôi nhà cực nhọc nhưng nửa mùa của thợ cả Nhật Bản. Sau này người ta dùng cách nói ‘Tây ta giao thoa’ để che đậy cảm giác tự ti. Tuy nhiên tôi không hề ghét các ngôi nhà Tây hóa thời kì đầu ấy.”

“Nói vậy dinh thự này cũng thuộc loại Tây hóa nhỉ.”

“Xét niên đại, có vẻ không khớp lắm, song nếu chỉ nhìn bề ngoài thì...” Tôi khoanh tay, nheo mắt quan sát. “Hiện nay chỉ còn vài dinh thự kiểu Tây có tường hải sâm, như hội trường Mita của Đại học Keio hay Cục Thuế tỉnh Niigata. Khách sạn Tsukiji, khách sạn đầu tiên ở Nhật trước khi cháy cũng thế. Có điều phong cách ấy chỉ phổ biến ở miền Đông Nhật Bản... Mà bức tường này không giống kiểu hải sâm bình thường.”

“Sinh viên Kiến trúc có khác, cậu hiểu biết thật đấy.”

“Tôi mới học năm nhất, vì thích nên tìm hiểu sơ sơ thôi.”

Mặc dù sử dụng một phần kĩ thuật truyền thống là tường hải sâm, nhưng tổng thể Ám Hắc Quán vẫn mang phong cách phương Tây, như hiện nhà với vài bậc thang nhô ra sân, cửa đôi to bản, dãy cửa sổ dài hẹp luôn đóng cửa chớp, ống khói vuông vức cao vượt mái... Dẫu vậy phần hiện vẫn làm mái cong lợp ngói, và cửa sổ ở dãy nhà một tầng bên tay trái lại sử dụng kiểu cửa chớp so le.

Tuy nhiên, về tính chất, Ám Hắc Quán khác biệt rất lớn so với những dinh thự Tây hóa tôi xem trên ảnh hoặc từng đến thăm. Các dinh thự thời kì Khai hóa văn minh thường mang cảm giác sáng sủa, đầy sức sống, lạc quan như muốn thể hiện ý chí kiêu hãnh của Nhật Bản khi hội nhập và trở thành trung tâm thế giới. Ngược lại, dinh thự trước mắt tôi đây, nói sao nhỉ? Không hề mang lại cảm giác như thế. Nó gây ấn tượng mạnh mẽ vì tối tăm, u ám, khép kín. Dinh thự nửa Tây nửa ta này xây lên nhằm mục đích gì? Nếu nói bức tường hải sâm đen kia giống da bò sát, thì toàn bộ mặt tiền Ám Hắc Quán không khác gì mặt quái vật lai tạp trong thần thoại...

“Vào trong thôi.” Genji giục tôi. “Đi cả quãng đường xa thế, chắc cậu mệt rồi. Nhà thì để mai ngắm cũng chẳng muộn.”

“Ừm.” Tôi nhấc cái túi bên chân lên, theo Genji tới hiên nhà.

Bất ngờ anh quay đầu lại hỏi, “Chuya này, bình thường cậu vẫn xưng ‘tôi’ đấy à?”

“À, vâng.”

“Lần trước tôi chẳng bảo sinh viên 19 tuổi không ai xưng ‘tôi’ đâu. Sao cậu không đổi cách xưng hô?”

“Lần trước tôi cũng giải thích rồi mà. Đây là thói quen từ hồi học cấp ba.” Tôi đáp, cố ý ra vẻ nghiêm túc. “Nếu anh bắt xưng ‘mình’ hay ‘tớ’, tôi còn ngại hơn. Xưng ‘tôi’ vẫn tự nhiên nhất.”

“Cậu trưởng thành hơn vẻ ngoài đấy.”

“Mục tiêu của tôi mà.” Khóe miệng tôi nhếch lên, nét mặt y chang Genji ban nãy. “Tôi rất ghét bị người khác coi là trẻ con hay nói mình ‘trẻ’. Nên là...”

"Hừm."

“Anh muốn tôi xưng ‘tớ’ à?”

“Không. Cậu xưng thế nào chẳng được.” Genji nhún vai.

Đúng lúc ấy, trận động đất đầu tiên xảy ra.

Tôi và Genji khiêng thanh niên xa lạ về Nhà Đông. Bước qua cửa đôi sơn đen là tiền sảnh rộng lớn, trần thông với tầng hai. Đối diện có cầu thang, rẽ phải ở chiếu nghỉ (nơi chúng tôi giáp mặt Tsuruko lúc chạy xuống) là lên tới tầng trên.

Khách lần đầu đến thăm Ám Hắc Quán, khi bước vào tiền sảnh sẽ chú ý ngay đến sàn nhà lát gạch đen giống hệt tường ngoài. Những viên gạch đen vuông vắn lát hình bàn cờ, vữa trát mạch dĩ nhiên cũng màu đen. Tường và trần sơn đen. Tất cả tạo nên một không gian kì quái, khiến người ta có cảm giác bị con quái vật lai tạp kia nuốt chửng. Dọc tường bên phải là khoảng sàn gỗ rộng độ hai mét, cũng sơn đen, cao hơn sàn gạch, dẫn vào trong nhà. Phần sàn gạch tương ứng với thềm đất để giày dép của nhà Nhật truyền thống, nhưng ở đây, bước lên sàn gỗ mà không cởi giày dép hình như cũng không sao cả.

Tôi và Genji đi tới cuối tiền sảnh rồi rẽ trái. Cửa đã mở sẵn, thông sang một hành lang lát gạch rộng rãi thẳng tắp. Đi theo hành lang là sang góc Nam Nhà Đông, cũng sẽ đến phòng nghỉ kiểu Nhật mà Genji dặn Tsuruko chuẩn bị.

Dù biết rõ dinh thự theo phong cách nửa Tây nửa ta, tôi vẫn không khỏi kinh ngạc, vì ngay bên tiền sảnh kiểu Tây độc đáo là không gian thuần Nhật nhường này. Song song với hành lang dài là bậc thềm rộng khoảng một mét, cửa trượt màu đen đã mở sẵn, dẫn vào căn phòng mờ tối trải chiếu tatami.

Chúng tôi đặt tạm thanh niên xuống thềm, giúp anh ta tháo đôi giày thể thao màu xám lấm lem bùn đất. Phòng rộng chừng 30 m, đèn trần hiu hắt soi xuống bộ chăn nệm trải cẩn thận. Không thấy Tsuruko đâu, chắc đang đi gọi bác sĩ. Chúng tôi đặt thanh niên xuống nệm. Genji lại ghé sát tai anh ta, khế gọi, “Cậu gì ơi... Cố chịu nhé. Nghe thấy không?”

Thanh niên đáp lại bằng tiếng rên rỉ.

“Anh ta ổn chứ?” Tôi hỏi.

Genji mím môi trầm tư, lắc đầu rồi nói, “Nhịp thở và mạch đập khá ổn định, tôi nghĩ tình hình không nghiêm trọng đâu, chi không biết đầu có ảnh hưởng gì không thôi.”

“Bác sĩ Noguchi là ai?”

“Bác sĩ của gia đình, cũng là bạn lâu năm của ba tôi. Hai tuần một lần, bác lại từ thành phố Kumamoto về đây và ở lại hai, ba ngày. Chính ra lần này bác phải rời đi từ đêm qua rồi...”

Tức là trong số xe đỗ bên hồ có một chiếc của bác sĩ.

“Sao mình không đưa anh ta đi bệnh viện?”

“Cứ để bác sĩ xem trước. Ở nơi thâm sơn cùng cốc này, giờ mà gọi cấp cứu thì biết khi nào mới tới.” Nói đoạn, Genji lấy khăn ẩm để sẵn bên cạnh, lau mặt cho thanh niên. Sau khi gột sạch bùn đất và vết máu, gương mặt say ngủ trông bình yên đến lạ, nước da trắng trẻo, vẻ mặt hiền lành, tầm hai lăm hai sáu tuổi như tôi đoán.

“Cậu là ai?” Genji lẩm bẩm trong lúc quan sát thanh niên. “Chắc phải mang theo giấy tờ tùy thân chứ. Cởi áo khoác của cậu ta ra xem. Chuya! Giúp tôi một tay!” Chúng tôi cởi áo khoác màu be của thanh niên ra, Genji kiểm tra túi áo rồi lắc đầu, “Không có gì.”

“Không có cả ví ư?”

“Không. Lạ ghê.” Genji tiếp tục mò túi quần và sơ mi thanh niên, nhưng chỉ thấy một bao thuốc hút dở. Không có bất kì giấy tờ gì xác minh nhân thân. “Bao thuốc còn năm sáu điếu, nhưng không thấy diêm hay bật lửa.”

Ngồi cạnh Genji, tôi bồn chồn ngó quanh. Căn phòng trống trải, tối tăm. Chiếu sờn cũ nên đã hết êm. Mặt tường phía hành lang lắp cửa trượt bằng gỗ sơn đen. Đối diện là cửa trượt dán giấy, đôi chỗ rách thủng, xem chừng lâu lắm rồi không thay.

“Phòng này giờ không mấy khi sử dụng nữa.” Genji lên tiếng như nhìn thấu tâm tư của tôi.

“Ngoài kia là sân à?” Tôi chỉ cửa trượt dán giấy.

Genji gật đầu, “Ngoài đó còn hiên, nhưng cửa này chẳng bao giờ mở cả.”

Ở góc phòng là chỗ đọc sách trông rất có không khí. Cạnh đấy là hốc tường bày hoa, tranh và lò sưởi ngụy trang thành kệ tường truyền thống. Kiểu bài trí này dường như nhằm thể hiện phong cách phương Tây, nhìn cũng thú vị. Đối diện hốc tường, tức mặt Nam phòng, là vách trượt màu đỏ thẫm.

Đen với đỏ... Đỏ như máu. Tôi không khỏi nhớ tới câu Genji nói bên ngoài cửa chính. Nhác thấy một tấm vách hé mở, tôi liền chống hai tay xuống chiếu, nhoài người ngó sang. Bên kia vách trượt rất tối, sâu hun hút, đèn bên này tù mù, hắt không xa nên không đoán được rộng đến đâu.

“Khu này gồm bốn phòng liền nhau.” Genji giải thích. “Toàn bộ dãy nhà một tầng phía Nam là phòng nghỉ cho khách, kiểu Nhật. Nếu tháo hết vách ngăn để thông sàn, khéo mở được cả hội thao ở đây đấy.”

“Ồ.” Gia đình tôi ở quê vốn khá giả, trong nhà có đủ phòng nghỉ cho bạn bè thân thích mỗi khi tụ họp, vậy mà vẫn không rộng bằng nơi này. Nhìn quy mô phòng ốc đủ biết chủ nhân đời đầu của dinh thự, cụ Genyo, giàu có và quyền lực cỡ nào.

Genji đứng dậy kéo kín vách lại. Đúng lúc này Tsuruko xuất hiện ở phía ngoài bậc thềm hành lang. Dì thở hổn hển, thông báo với chúng tôi, “Bác sĩ đến rồi.” Ngay lập tức, một người đàn ông xách chiếc hòm xanh tím than nặng trịch đi vào, mình vận vest và sơ mi xám, cà vạt xộc xệch, bên ngoài là áo choàng trắng nhăn nhúm. Cao tầm 1m80, cực kì to béo, bụng bia, mặc áo Nhật chắc hợp hơn áo choàng. Trên gương mặt đỏ gay là cặp kính đồi mồi. Tóc hói lên tận đỉnh đầu, chòm râu điểm bạc, tuổi ngoại ngũ tuần.

“Bệnh nhân đây à?” Noguchi cất giọng ồm ồm, ngồi xuống cạnh Genji. Tôi đứng dậy nhường chỗ, liền ngửi thấy mùi rượu thoang thoảng. Noguchi quan sát thanh niên, khẽ hừm một tiếng, rờ rẫm chỏm râu dưới nọng cằm béo tốt, nghĩ ngợi đôi chút thì quay sang hỏi Genji, “Cậu ta ngã khỏi tháp?”

“Vâng, may thay có tán cây đỡ rồi mới rơi xuống đất.”

“Ồ.”

“Cháu kiểm tra qua rồi. Không gãy xương, không rách da rách thịt nặng, hô hấp và mạch đập bình thường. Nhưng không tỉnh táo lắm, e là va chạm ở đầu.”

“Trên đầu thì sao?”

“U một cục sau đầu. Tay trái quấn khăn, chắc là vết thương trước lúc ngã.”

“Để tôi khám xem sao.” Noguchi kéo hòm lại gần, ngắm nghía thanh niên, tay mân mê chòm râu, đầu nghiêng sang bên và lại hừm một tiếng.

“Cậu ta là ai? Bác biết à?” Genji hỏi.

“Không, không biết.” Noguchi phủ nhận ngay.

“Dì Tsuruko thì sao?” Genji quay sang người phụ nữ vẫn đứng ngoài cửa. “Dì gặp cậu ta bao giờ chưa?”

“Chưa. Tôi không hề biết cậu ta.” Tsuruko khô khan đáp.

Để thanh niên lại cho Noguchi và Tsuruko, chúng tôi rời phòng nghỉ. Genji kể là Tsuruko từng làm y tá. Bảo sao lúc cấp cứu ở chân tháp, dì lại bình tĩnh xử lý đến vậy. Quả nhiên chuyện gì cũng có nguyên do.

“Trên người bác sĩ có mùi rượu thì phải.”

Tôi nói nhỏ với Genji. Đôi mắt dài của anh liền ánh lên nét cười.

“Lần nào đến đây bác ấy cũng uống. Cứ như ma men. Tôi chưa bao giờ thấy bác ấy chỉn chu tỉnh táo.”

"Hả?"

“Yên tâm đi. Trông thế thôi chứ bác ấy giỏi lắm. Bao nhiêu bệnh nhân đến bệnh viện Kumamoto đều yêu cầu đích danh bác thăm khám đấy.”

“Bác ấy làm cho bệnh viện của nhà Urado?”

“Đúng rồi. Bệnh viện Phượng Hoàng Kumamoto. Nghe leng keng nhỉ! Bác sĩ Noguchi là viện trưởng luôn.”

Thế thì nơi Tsuruko công tác trước đây có khi cũng là bệnh viện nhà Urado rồi. Tôi theo Genji ra tiền sảnh. Đối diện hành lang của dãy phòng nghỉ kiểu Nhật là hành lang dẫn sang phần Bắc ngôi nhà, tiếp giáp với phần sàn gỗ giật cấp ở tiền sảnh. Đúng lúc này, một phụ nữ thấp bé mặc tạp dề vội vã chạy ra từ hành lang đó. Đây chính là người làm đã mang trà lên tầng hai cho chúng tôi, Hatori Shinobu.

"Chị Shinobu!" Genji gọi to.

Shinobu khựng lại ở lối rẽ ra tiền sảnh, ngước nhìn chúng tôi rồi cúi chào.

“Vừa nãy động đất, chị không sao chứ?” Genji hỏi thăm.

“V... Vâng.” Vài giây sau chị mới trả lời.

“Phòng ốc có hư hại gì không?”

“À…” Shinobu ngập ngừng, “Không đáng kể, chỉ rơi vài thứ thôi.”

“Động đất liên tục sợ thật, có khi là tại ngọn núi lửa mới phun trào lại gần đây.”

“Không thể nào...”

“Tôi đùa đấy. Nhưng Kyushu vốn là vùng đất lửa, có núi lửa động đất cũng bình thường thôi. Quê chị ở Aso phải ông nhỉ?”

“Tôi sinh ra ở đấy thôi.”

“Tôi từng tới miệng núi lửa Nakadake một lần, khủng khiếp lắm. Nó mà phun trào thật thì e là toàn bộ Kyushu sẽ chìm trong tro bụi.”

Shinobu bối rối, xem chừng không biết tiếp chuyện thế nào. Genji không bận tâm, lại nói, “À đúng rồi, tôi vừa gặp Shinta ở ngoài kia.”

Shinobu ngẩng phắt lên, hỏi ngay, “Nó nghịch ngợm gì à?”

“Không. Có người ngã khỏi tháp, hình như Shinta phát hiện ra đầu tiên.”

“Tôi đã dặn đi dặn lại, trời tối không được ra ngoài vậy mà... Xin lỗi cậu.”

“Chị đừng lo. Nói lại bảo quá lời, chứ tôi nghĩ thằng bé vừa lập công lớn đấy.”

Shinobu khẽ gật đầu, nghi hoặc ra mặt.

“Bác sĩ Noguchi với dì Tsuruko đang chăm sóc người bị ngã ở trong kia. Chị vào xem họ có cần giúp gì không.”

“Vâng.”

Shinobu liền rẽ vào dãy phòng nghỉ. Genji liền đi tới góc tiền sảnh, bước lên sàn gỗ. Anh xoay cổ cho đỡ mỏi, móc thuốc lá trong túi áo, châm lửa bằng chiếc bật lửa yêu thích đã dùng từ năm 20 tuổi.

Tôi tập tành hút thuốc vào mùa xuân vừa qua, chẳng phải nghiện ngập gì mà lúc này bỗng muốn làm một điếu. Sờ vào túi áo, tôi nhận ra mình đã để quên bao thuốc trong phòng. “Đây.” Genji chìa ra một điếu Peace. Tôi lưỡng lự nhận lấy rồi đưa lên miệng, Genji châm thuốc cho. Lần đầu hút loại không đầu lọc, tôi sặc khói ngay.

“Chuya này!” Hút hết nửa điếu thuốc, Genji gọi tôi, mắt nhìn ra cửa, “Đi với tôi một chút!”

“Đi đâu?” Tôi hỏi lại.

“Đến tháp Thập Giác lần nữa.” Genji lấy đèn pin ra khỏi túi quần, “Tôi muốn kiểm tra bên trong tháp.”

Chuong 4

Thời gian hư vô

Lúc chúng tôi quay lại tháp Thập Giác thì đã là 8 rưỡi tối. Đêm lạnh lẽo nhưng lạ thay, gió thổi tới lại mang theo chút nóng ẩm. Mây phủ kín trời, che khuất trăng sao. Tháp hiện ra dưới ánh đèn pin của Genji. Có vài bậc thang dẫn lên khung cửa cánh đôi với mái hiên nhỏ bên trên, tường trát vữa, toàn bộ là màu đen như hòa vào màn đêm.

Sở dĩ gọi “tháp Thập Giác” là bởi mặt cắt ngang của tháp có hình thập giác đều. Tôi thử mường tượng hình ảnh ấy trong đầu. Mười cạnh bằng nhau tạo ra các góc đều 144°. So với các tháp lục giác hoặc bát giác, tháp thập giác dĩ nhiên gần với hình tròn hơn cả. Tháp bằng gỗ, thiết kế kiểu Tây, không đua mái tầng tầng như chùa chiền, trừ mái hiên ở cửa. Tường trát vữa thẳng tắp đến mái. Genji từng nói bao lơn cách mặt đất bảy, tám mét, suy ra tháp phải cao ít nhất mười mét.

“Tháp xây từ bao giờ thế?” Tôi hỏi Genji, “Cùng thời điểm với nhà chính hay là...”

“Thấy bảo là sau này.” Genji trả lời, mắt vẫn không rời tháp. “Lúc ấy nhà chính đã gần hoàn thiện, bắt đầu dọn vào ở rồi.”

“Tự dưng xây tháp tách biệt ở đây là có dụng ý gì ư? Hình như còn nằm đúng vị trí xấu nhất của cả dinh thự”

“Chà...” Genji ngập ngừng. “Cụ Genyo không quan tâm tới mấy tín ngưỡng truyền thống kiểu phong thủy địa lý đâu. Tính cụ ngang khủng khiếp.”

Ngang khủng khiếp. “Cũng phải. Nếu không…”

“Đã không xây dinh thự này?”

“Vâng.”

“Ừ. Lúc mới tới, cậu đã thắc mắc tại sao lại xây nhà ở nơi hẻo lánh này còn gì. Kể cũng kì lạ.”

Tôi im lặng gật đầu, nhớ lại lộ trình từ thành phố Kumamoto đến đây. Tình hình giao thông thời đầu thế kỉ 20 không thuận tiện như bây giờ, vận chuyển máy móc nguyên vật liệu nhất định là vất vả. Tất nhiên nhiều khả năng gỗ, đá được khai thác luôn từ núi non quanh vùng.

“Nếu cậu hứng thú, từ từ tôi sẽ kể cho cậu nghe, trừ những chuyện chỉ cụ Genyo mới biết.”

“Tháp hình thập giác, hiếm có khó tìm. Tôi chưa bắt gặp ở đâu bao giờ cả.”

“Tại sao lại là hình thập giác thì không ai biết chắc chắn... Mặc dù cũng có ít nhiều manh mối.”

“Là gì?”

“Nghe đâu dinh thự và tháp Thập Giác đều được cụ Genyo xây phỏng theo nguyên mẫu nào đó. Sau khi gây dựng cơ nghiệp, cụ từng rời Nhật đi du lịch châu Âu một thời gian, lưu lại lâu nhất ở Ý.”

“Và thấy nguyên mẫu ở đấy?”

“Ừ..” Genji ngần ngừ một lúc rồi quay sang hỏi tôi, “Cậu nghe danh Julian Nicorodi

[2]

bao giờ chưa?”

Trước câu hỏi bất ngờ, tôi nghiêng đầu ngẫm nghĩ, “Chà, giờ mới nghe lần đầu.”

“Ông ta là kiến trúc sư người Ý, sống cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20."

“Không biết. Tôi dốt thật.”

“Ấy, không biết là bình thường, ông ta không phải nhân vật tiếng tăm gì.”

“Nguyên mẫu là do Nicorodi thiết kế?”

“Ừ. Lúc ở Ý, cụ Genyo tham quan rất nhiều công trình của ông ta và đem lòng yêu thích. Dù không sao chép y nguyên, dinh thự này hẳn vẫn chịu ảnh hưởng lớn của Nicorodi.”

“Nguyên mẫu trông ra sao?”

Genji soi đèn pin xuống chân, chậm chạp vẽ những vòng tròn. “Hẳn là rất độc đáo.” Anh úp mở. “Nhà cửa bất tiện, không thích hợp để sinh sống, hoặc khiến người ta phải nghi ngờ đầu óc của kiến trúc sư, đồng thời lại mê hoặc lạ lùng.”

“Cụ thể là thế nào?”

“Khó mà diễn tả thành lời. Hoặc sớm hoặc muộn, dẫn dà cậu sẽ biết thôi.” Genji lại soi đèn lên tháp. “Tóm lại, trong số các công trình Nicorodi mà cụ Genyo từng tới thăm hẳn là có cái nào đấy hình thập giác. Thế nên mới bảo ‘có ít nhiều manh mối.”

Genji liếc tôi rồi tiến đến cửa tháp. Tôi vội đi theo lên thềm, dừng lại trước cánh cửa đen.

“Dì Tsuruko bảo cửa tháp luôn khóa.”

“Đúng ra là thế...” Genji soi đèn pin vào tay cầm. “Nhưng lại thế này!”

“Khóa cửa làm sao à?”

“Hỏng rồi...”

Tôi nhìn qua vai Genji, ồ lên. Lủng lẳng ở chốt kim loại là khóa bấm cũ mèm. Khóa vẫn nguyên vẹn song chốt gắn cố định hai cánh đã long một bên ốc, bung hẳn ra. Thế này thì khóa cũng như không.

“Có người phá ư?” Tôi hỏi.

“Không.” Genji lắc đầu, đáp. “Không có dấu hiệu cạy phá. Giống hoen gỉ hơn.”

“Hỏng lâu chưa nhỉ?”

“Tháp thì bỏ hoang từ lâu, khóa có khi hỏng từ năm ngoái hoặc tháng trước, mà cũng có thể vừa hỏng hôm nay. Không xác định được.” Mặc kệ khóa cửa lủng lẳng, Genji cầm tay nắm đẩy vào. Cửa kẹt một tiếng rồi mở ra.

Trong tháp lạnh lẽo, ẩm thấp và tối đen như mực. Genji soi đèn pin ngó quanh. Tường bẩn, sàn bụi bặm, mảnh ván và thanh gỗ rải rác khắp nơi... Ánh đèn pin không đủ để nhìn hết không gian của ngọn tháp bỏ hoang này. Tiếng mối mọt dưới sàn nghe rõ mồn một. Mùi bụi, mùi ẩm mốc và mùi gỗ mục xộc lên nghẹt cả mũi, thứ mùi đặc trưng của những nơi vắng hơi người đã lâu. Cảm giác không dễ chịu song lại khiến tôi thấy thân thuộc khó tả.

Người ngợm sao bẩn thỉu thế kia?

Giọng nói phải hơn chục năm về trước thình lình văng vẳng bên tai tôi.

Lại nghịch cái gì hả? Con là anh cơ mà...

“Chuya, bên này!” Genji gọi tôi, soi đèn sang phải và cẩn thận tiến bước. Sâu trong bóng tối thấp thoáng đường nét của cầu thang xoắn ốc. Genji bám vào tay vịn, dận bước lên bậc thang như để kiểm tra sức chịu tải của nó. Tiếng kẽo kẹt vang lên cùng tiếng mối mọt.

“Ta lên thử xem.” Genji nhắc, “Cẩn thận dưới chân, khéo có bậc mục.”

Cầu thang rất hẹp, không đủ chỗ cho cả hai, đợi Genji đi trước vài bậc, tôi mới bắt đầu bước lên. Không ngờ cầu thang gỗ cũ nát lại chịu được trọng lượng của hai chúng tôi, cũng không có bậc nào mục như Genji lo ngại.

Chúng tôi leo lên tầng ba, cũng là đỉnh tháp. Tới nơi, Genji rọi đèn quanh tường rồi lẩm bẩm, “Tốt rồi. May quá, có nến này.”

Giá cắm trên tường đã có sẵn mấy cây nến to, cho thấy ở đây vốn không lắp đèn điện. Genji rút bật lửa châm nến. Bóng tối tan dần. Nhờ vậy tôi nắm bắt được cơ bản cấu trúc ở đây. Sàn hình thập giác chia làm hai, một phần cạnh cầu thang nơi chúng tôi đang đứng, phần còn lại nằm bên kia vách chắn gỗ dạng chấn song, từ đây chúng tôi vẫn bao quát được mọi thứ trong ấy. Cả tầng này là không gian dùng chung cho một mục đích.

“Chỗ kia...” Tôi liếc Genji, dò xét. “Trông như..”

Nhà tù. Bên kia chấn song là phòng giam, chỗ chúng tôi đứng là bên ngoài. Xét diện tích, phòng giam rộng gấp bốn ngoài này.

“Trước kia sàn có trải chiếu.” Dưới ánh nến, bóng Genji lay động, đổ dài lên bóng chấn song hắt vào phòng giam. “Nhìn xem, giờ chẳng còn gì.”

Một phần vách chắn để chừa làm cửa, đang mở. Genji bước vào. Tôi lau tay vào quần cho đỡ bẩn rồi đi theo anh. Đứng giữa căn phòng hình thập giác, nương theo ánh nến cùng đèn pin, chúng tôi ngó quanh. Nơi này trống trơn. Chiếu đã chẳng có, đừng nói đến đồ đạc.

“Genji!” Tôi nheo mắt nhìn ngọn lửa rung rinh bên ngoài chấn song. “Phòng này dùng để làm gì?”

“Đoán xem?” Genji hỏi ngược lại, “Ban nãy cậu đã phỏng đoán rồi mà.”

“À… thì…”

“Cậu định bảo giống nhà tù, đúng chứ?”

“Ừ.”

Genji im lặng một lúc, hít sâu rồi thở dài và đáp với giọng bí ẩn, “Cậu đoán đúng đấy.”

“Hả?!” Tôi sửng sốt. “Vậy...”

“Đây là nơi cầm tù người ta. Phòng giam trên đỉnh tháp. Ngoài vách chắn cũng có khóa nữa.”

“Phòng giam...” Hai chữ này làm tôi rợn người, nổi hết da gà. “Giam ai?”

Đáp lại sự nôn nóng của tôi, Genji lắc đầu. “Đó là bí mật của nhà Urado. Cậu mà biết thì đừng mơ sống sót trở về.”

“Thật á?”

“Tất nhiên là giả.” Genji bật cười, mà nãy giờ câu nào là giả? “Chính tôi còn chẳng biết hết về tháp Thập Giác, chỉ nghe đồn nó được xây cho một mục đích đặc biệt.” Genji bỗng đổi giọng. “Xây tháp xong, chỗ này cũng dùng làm phòng giam một thời gian. Không biết may hay xui, tôi không hề nhớ những điều ấy.”

“Anh quên hết rồi?” Tôi nhìn Genji chằm chằm. “Tại nguyên nhân kia?”

“Phải. Tại nó đấy.” Genji chua chát nhún vai. “Giờ chẳng còn bao nhiêu hồi ức, tôi tiếc lắm chứ. Nỗi bứt rứt ấy ấy, ít nhiều cậu cũng hiểu mà?”

Tôi im lặng gật đầu. Giờ không phải lúc băn khoăn điều này, nhưng Genji nói đúng.

“Bao lơn? À kia!” Genji xoay người, tiến sâu vào góc phòng. Ánh đèn pin rọi ra một cánh cửa đang mở. “Đỉnh tháp có bốn cửa sổ, chỉ cửa này có bao lơn.”

Từ trong tháp nhìn ra, cửa sổ cao ngang đầu người, không có lớp kính bên trong, bên ngoài là cửa chớp gắn rìa chống mưa, kết cấu này cũng lạ. Bao lơn không rộng lắm, chỉ dài bằng một cạnh thập giác, rộng không tới mét rưỡi. Xung quanh là lan can sơn đen, cao ngang thắt lưng.

“Trông kìa.” Genji chỉ tay. “Kia là phòng chúng ta ở ban nãy.” Giữ tóc cho khỏi gió thổi, tôi nhìn theo tay Genji và thấy cái bóng đen ngòm, trải dài trên đất của nhà chính. Ở tầng hai Nhà Đông, có ô cửa sổ vẫn sáng đèn. Tôi toan bước lên trước, Genji liền ngăn lại, “Cẩn thận! Dù không còn động đất nữa cũng đừng tới gần lan can, tháp Thập Giác cũ lắm rồi. Ngộ nhỡ ngã, chưa chắc đã bình yên vô sự như thanh niên kia đâu.”

Nói đoạn, Genji thận trọng tiến lên, vịn vào lan can rồi ngó ra. Anh vừa soi đèn xuống vừa gật gù, “Hừm, đúng là ngã ở đây.” Xem xét xong, anh lùi lại, kiểm tra sàn bao lơn. “Giá mà tìm được dấu chân thì tốt... Tiếc là bây giờ không nhìn rõ, trong tháp hẳn vẫn lưu lại.”

“Lưu lại dấu chân ư?”

“Ủa, cậu không để ý à? Mà thôi, tối mò mò, không thấy cũng là bình thường.”

Tôi sơ suất quá. Tháp đã lâu không ai lui tới quét dọn, bụi bặm bám đầy, trên sàn nhất định phải lưu dấu chân người.

“Từ cửa chính ở tầng một, qua cầu thang, đến sàn tầng này dứt khoát đều có dấu chân cậu ta. Mỗi tội trong tháp tù mù quá, khó quan sát thật. Thôi, mai quay lại... Với cả xem này, Chuya!” Genji cúi người nhặt thứ gì đó rồi bước tới cạnh tôi. “Tôi tìm thấy thứ này.” Genji chìa tay trái ra.

Tôi rọi đèn pin lên xem, “Đồng hồ?”

“Phải, đồng hồ quả quýt. Có dây đeo màu bạc.”

“Nó rơi ở đây à?”

“Ừ, cạnh lan can.”

“Của anh kia ư?”

“Khả năng cao là vậy. Cậu ta ngã lầu vì động đất và đánh rơi nó ở đây...” Genji săm soi đồng hồ. “Mặt còn lành lặn nhưng kim đã đứng. Dễ là hỏng vì va đập lúc rơi. Kim chỉ 6 giờ rưỡi, đúng lúc xảy ra động đất. Trùng hợp thật.”

“Đúng thế.”

“Ủa?”

“Lại sao nữa?”

“Mặt sau có khắc chữ...” Genji giơ đồng hồ lên ngang mặt, soi đèn rồi gí sát mắt vào xem. “T.E.”

“T.E? Viết tắt của chữ gì à?”

“Ừ.” Genji gật đầu, nhét đồng hồ vào túi quần. “Đồng hồ là của thanh niên kia. Kí tựT.E có thể là các chữ cái đầu trong họ tên cậu ta. Cuối cùng đã thấy manh mối để xác định nhân thân rồi.”

Khuôn mặt nhợt nhạt của thanh niên đang nằm trong phòng nghỉ thoáng qua óc tôi. “T.E” Tôi lẩm nhẩm, tất nhiên chẳng suy luận được gì.

Tôi gặp Genji lần đầu vào mùa xuân năm nay, chính xác hơn là vào một tối cuối tháng Tư, tức năm tháng trước.

Từ bé tôi đã rất thích kiến trúc, đặc biệt là các kiến trúc cổ kiểu Tây. Lên cấp ba, mỗi lần tới kì nghỉ dài, tôi thường đi đây đó tham quan các công trình. May thay xung quanh không ai phê phán, chắc tại đều đã xác định tôi là đứa lập dị rồi. Mặt khác tôi học rất giỏi, không có lý do gì để phàn nàn. Tôi cố gắng cũng vì đã xác định từ sớm là tốt nghiệp cấp ba xong sẽ lên Tokyo học kiến trúc bài bản... Tháng Ba năm nay, tôi đỗ đại học như ước nguyện, rời quê nhà Oita đến thuê trọ ở Sendagi thuộc quận Bunkyo.

Hôm ấy là 20/4, Chủ nhật đầu tiên sau lễ khai giảng. Tâm đầu giờ chiều, trời đổ mưa lâm thâm. Một tay cầm ô, một tay ôm sổ vẽ, tôi rời phòng trọ, mặc áo dệt kim trắng, quần xám, cùng áo khoác mỏng.

Hàng anh đào đã qua mùa hoa giờ lún phún chồi xanh, ướt sũng dưới làn mưa lạnh lẽo. Tôi định đi xa một chút, tới Nishigahara ở Kita để tham quan biệt phủ của nam tước Furukawa. Đó là một công trình kiểu Tây bằng đá nguyên khối, mang đậm phong cách Gothic phương Bắc, do kiến trúc sư nổi tiếng người Anh Josiah Conder thiết kế. Nghe danh đã lâu nhưng tôi chưa có dịp tới thăm. Tôi chẳng quan tâm mưa gió thế nào, ngược lại còn mong thời tiết thế này sẽ ít người tham quan.

Tới nơi, tôi tìm vị trí thích hợp, đặt ô che mưa cẩn thận rồi phác họa biệt phủ. Từ cấp ba đến giờ, sở thích của tôi vẫn là vẽ lại các kiến trúc kiểu Tây ở mọi nơi mình tới. Tôi mải mê vẽ suốt mấy tiếng đồng hồ. Trời cứ mưa lại tạnh, đến khi tôi gần hoàn thành thì đột nhiên mưa xối xả. Xung quanh cũng tối dần. Tôi đóng sổ vẽ, ôm vào lòng để tránh ướt cho bức họa chứa bao công sức, vội vã rời biệt phủ của nam tước Furukawa. Tâm trí tôi chỉ ghi nhận đến đây...

Sau đó xảy ra chuyện gì, tôi quên sạch, không thể nhớ ra, kí ức đứt đoạn, để lại một khoảng trống vô định. Hình ảnh tiếp theo mà tôi nhớ được là bản thân nằm trên giường bệnh nồng mùi thuốc, xung quanh toàn người lạ. Một người đàn ông đứng tuổi và một cô gái trẻ đều mặc áo choàng trắng, ngoài ra còn một thanh niên vận đồ đen từ đầu tới chân, chính là Genji.

“Cậu đỡ hơn chưa?” Genji hỏi tôi. “Nếu nhớ ra điều gì thì cho chúng tôi biết.”

“Hừm.” Tôi nghiêng đầu ngơ ngác. “Đây là...”

“Bệnh viện.”

“Anh... Các anh chị là ai?”

“Đây là bác sĩ và y tá trực tiếp điều trị cho cậu. Còn tôi là Urado Genji. Tôi giới thiệu với cậu mấy lần rồi mà.”

“…”

“Vẫn chưa nhớ ra? Cậu tên gì?”

“Tôi tên...” Tôi á? “Tôi...”

Tôi ngồi dậy, trong người không đau đớn gì nhưng đầu óc quay cuồng. Tôi là ai? Câu hỏi quẩn quanh trong tâm trí tôi tựa sương mỏng lượn lờ. Sao tôi lại ở đây, nói chuyện với người này?

Hôm ấy là thứ Ba, 22/4, buổi sáng. Tôi nhớ đó là lần đầu gặp Genji, nhưng với anh thì không phải, anh kể chúng tôi đã gặp nhau từ hai hôm trước rồi.

Vậy là kí ức suốt một ngày rưỡi của tôi, từ khi rời biệt phủ Furukawa vào tối Chủ nhật 20/4 cho tới lúc ấy đã mất hết. Không những thế, khi lấy lại tỉnh táo và “gặp” Genji trong phòng bệnh, tôi còn quên tiệt mọi chuyện trước kia, quên tên tuổi, quên quê quán. Về sau nghe Genji kể, tôi mới biết được ngọn ngành.

Tầm 7 rưỡi tối Chủ nhật, tôi đang loanh quanh gần vườn thực vật Koishikawa, cách khá xa biệt phủ của nam tước Furukawa. Tôi không biết mình đội mưa cuốc bộ hay bắt xe tới đây. Tại sao tôi không quay về Sendagi? Rõ ràng phải có lý do, tiếc rằng tôi không nhớ. Có khi tôi chỉ tình cờ ở đó, tạt qua trên đường về, hoặc đi lạc... rất nhiều khả năng có thể nghĩ tới. Tóm lại bấy giờ tôi đang một mình rảo bước trên con đường nhập nhoạng cuối ngày thì Genji xuất hiện phía sau. Anh đang đạp xe về nhà dưới mưa tầm tã. Đèn đường thưa thớt, tôi cầm ô màu đen khá to đi giữa đường hẹp, vai đeo cặp, nách kẹp sổ vẽ.

Thình lình, một chiếc xe con màu đen hiệu Renault từ đằng trước chạy tới, phóng xẹt qua vũng nước to làm nước bắn tung tóe. Tôi vội nhảy sang một bên để tránh, không may lại đúng mũi xe của Genji.

“Tôi còn chẳng kịp phanh hay tránh cơ. Tất nhiên cũng tại tôi không để ý.” Genji nói giọng bông đùa, song vẻ mặt rất nghiêm túc. “Kết cục là xảy ra va chạm... Cậu ngã văng xuống rãnh. Ô với sổ vẽ rơi tứ tung.”

Genji chạy bổ đến. Tôi không phản ứng gì, cứ nằm sõng soài, úp mặt xuống rãnh, gọi thế nào cũng không nhúc nhích. Xem chừng lúc ngã đã đập đầu vào đâu đấy rồi. Genji thực hiện sơ cứu tại chỗ, tôi vẫn không tỉnh. Mặc dù không có chấn thương nào rõ ràng, không chảy máu, móp đầu hay mặt, nhưng mất ý thức là một vấn đề nghiêm trọng. Genji xác định như thế và khẩn trương gọi cấp cứu, đưa tôi tới bệnh viện thích hợp. “Thích hợp” ở đây nghĩa là, có thể tiếp nhận bệnh nhân ngay, và thuộc tập đoàn Phượng Hoàng của ba anh.

Sau khi nhập viện, tôi được khám và điều trị kịp thời, rồi mau chóng tỉnh lại. Có điều tôi không nhớ gì về bản thân. Ý thức khôi phục, còn tư duy và nhận thức mông lung. Kết quả kiểm tra cho thấy, hộp sọ và não bộ tôi không sao. Các chỗ khác cũng chỉ sây sát, không gặp vấn đề gì lớn. Vì vậy tình trạng mất trí nhớ do va đập vào đầu chỉ là tạm thời.

“Trong các vụ va chạm giao thông, không ít trường hợp mất kí ức về khoảng thời gian trước hoặc sau tai nạn.” Bác sĩ giải thích. “Trường hợp quên gần hết chuyện quá khứ như cậu thì khá hiếm.”

Genji đem cả cặp và sổ vẽ tới bệnh viện. Trông thấy đồ đạc của mình, tôi vẫn không nhớ nổi bản thân là ai. Rắc rối hơn là trong đống tư trang đó, không có thứ gì cho biết thông tin cá nhân của tôi. Ô, sổ vẽ, cặp sách, quần áo đều không ghi tên. Chúng tôi còn cẩn thận kiểm tra các thứ trong cặp như đồ dùng học tập, bản đồ, ví tiền, khăn tay... song không thu được kết quả gì. Hồi đó tôi thường không mang theo mình thẻ sinh viên hay sổ tay.

“Chỉ mất trí nhớ tạm thời thôi, đây không phải tổn thương do tác động vật lý, mà do tâm lý, nói cách khác là tại cậu bị choáng” Bác sĩ điều trị lạc quan đánh giá. “Đừng suy nghĩ nhiều, dần dần sẽ nhớ lại thôi. Yên tâm tĩnh dưỡng đi đã.”

Nói vậy nhưng đến mình là ai cũng không biết, tôi đi đâu bây giờ? Bác sĩ bảo tôi không cần điều trị ở viện nữa, trong tuần xuất viện được luôn. Đây vốn là chuyện tốt, tôi chỉ trăn trở về điểm đến tiếp theo. Giữa lúc luống cuống ấy, Genji đã chìa tay giúp đỡ.

“Đến nhà tôi đi.” Genji đề nghị, cho rằng như thế là hợp tình hợp lý. “Tôi ở một mình, nhà khá rộng, thêm một, hai người vẫn thoải mái. Chưa kể tôi va phải cậu, nên chịu trách nhiệm.”

Thế là xuất viện, tôi chuyển tới ở với Genji một thời gian, tại Hakusan, Tokyo.

Mọi việc xảy ra cách đây năm tháng, vậy mà tôi cứ ngỡ là lâu lắm rồi. Hễ hồi tưởng, tôi lại có cảm giác từ ngày “gặp Genji lần đầu” trong phòng bệnh, mình đã lạc vào một thế giới giả tưởng khác hẳn cuộc sống trước kia. Việc tôi đến dinh thự lạ lùng giữa núi rừng Kumamoto này đang nối dài tình trạng ấy.

Rời tháp Thập Giác, chúng tôi đi ra cổng. Genji muốn kiểm tra cầu tàu.

“Thanh niên kia sang đảo kiểu gì? Cậu không thắc mắc à?” Genji giải thích trong lúc thoăn thoắt bước qua lối nhỏ giữa những bụi cây. “Trong bờ chỉ có hai thuyền. Một là thuyền máy bác Hiruyama dùng chở chúng ta, còn lại là thuyền chèo tay, chắc cậu thấy rồi.”

Lúc xuống thuyền, quả thật tôi có thấy cạnh cầu tàu buộc một con thuyền có mái chèo. Chắc là phương tiện sang đảo của thanh niên kia.

Cổng Ám Hắc Quán là kiểu cổng lớn hai cánh, đen sì, cao gần ba mét, trong bóng tối trông càng nặng nề uy nghiêm. Phía trên cổng là mái vòm Gothic tạo bằng tường đá bao quanh đảo. Genji kể, trước đây nơi này là thành trì của một tướng quân, tường bao hiện tại dựng trên nền tường thành ấy. Kể xong lại bổ sung, “Không rõ thực hư.”

Tuy nhiên nhìn “tường thành” sừng sững với đá khối tự nhiên rất lớn xếp khít vào nhau, tôi lại tin chuyện anh kể. Bởi không có nền sẵn, nhà Urado giàu có đến đâu cũng khó hoàn thành kiến trúc đồ sộ nhường này.

Cổng mở hé, đủ cho một người lách qua. Chúng tôi đi ra, băng qua các bậc đá để xuống cầu tàu.

Mặt hồ tối om. Bóng đêm đen đặc mênh mông khiến người ta bỗng chùn chân bước. Đâu đó ngay phía trước văng vẳng tiếng sóng rì rào. Gió thổi mạnh hơn ban nãy, ở đảo mà vẫn nghe thấy tiếng xào xạc của rừng cây trong bờ.

“Hồ này có sâu không?” Tôi chợt tò mò.

“Sâu không đáy. Nghe đồn thế.” Genji ỡm ờ. “Chưa ai rơi xuống mà sống sót quay về.”

“Thật á?”

“Không đáy thì chưa chắc, nhưng đúng là rất sâu, lại lắm rong rêu, nhiệt độ trên mặt nước và dưới lòng hồ chênh lệch rất lớn, nói chung là nguy hiểm. Từ nhỏ tôi đã bị cấm bơi ở đây. Thực tế thì ở Ám Hắc Quán đã có người chết đuối.”

“Người nhà Urado à?”

“Người làm cho nhà Urado. Hai mẹ con. Lâu lắm rồi, thời tôi chưa ra đời cơ. Đứa nhỏ đang nghịch nước thì sẩy chân, người mẹ vì cứu con nên...”

Tôi lặng lẽ nhìn màn đêm vô tận.

Genji kể tiếp, “Có người nói, vụ đó không đơn giản là tai nạn, tại thứ sống dưới hồ kéo họ xuống.”

“Dưới hồ... có thứ gì sao?”

“Thứ không thuộc về thế giới chúng ta.” Genji lại ỡm ờ. “Xứ này vốn nhiều truyền thuyết, tự nhiên có cái hồ giữa rừng già, đẻ thêm một hai truyền thuyết cũng không có gì lạ.”

Đi hết các bậc đá, chúng tôi tiến ra cầu tàu. Genji tạm dừng câu chuyện, rọi đèn pin săm soi. Cả hai chắc mẩm thuyền chèo đang neo ở đây. Thế nhưng..

“Đâu rồi?!” Quanh cầu tàu không thấy con thuyền nào.

Gió bỗng ập tới, quét tung mặt hồ làm sóng vỗ ào ạt, tưởng đâu sắp cuốn luôn người ta vào màn đêm vô tận. Tôi chớp mắt lia lịa cho tỉnh táo rồi hỏi, “Sao lại thế?”

“Thế là sao?” Genji lầm bẩm. “Hay cậu ta không đi thuyền? Tức là... Không đời nào, thứ đó sẽ...”

“Thứ đó là gì?” Tôi quay sang. “Mà còn cách khác để sang đảo à?”

“À... ừm...” Genji chỉ ậm ờ qua loa, anh nhíu mày giơ cao đèn pin, tiến thêm một bước về phía cầu tàu. “Chuya! Ở kia!”

"Hả?"

“Ở kia kìa.” Genji soi đèn pin vào khoảng không trước mặt. “Nhìn xem! Con thuyền!”

Ánh đèn pin rọi tới chỗ mặt hồ cách cầu tàu không xa lắm, thấy rõ cả chuyển động kì lạ của những con sóng giữa màn đêm đen đặc. Tròng trành trên mặt hồ là bóng một con thuyền...

“Hóa ra nó ở đó.”

“Chèo thuyền lên đảo xong, cậu ta không buộc chặt dây thừng nên nó mới trôi đi đây mà.”

“Biết đâu là do động đất làm tuột dây?”

“Ừ, cũng có khả năng.”

Trông qua thì thuyền cách bờ không xa. Thừa sức bơi ra kéo vào nếu không ngại nước hồ lạnh cóng do ở nơi bốn bề núi non này. Tuy nhiên Genji không định làm thế.

“Lát nữa báo với bác Hiruyama vậy.” Nói đoạn, anh thản nhiên quay về.

Lần đầu tôi nghe Genji ngâm bài thơ ấy là vào ngày thứ hai sau khi xuất viện. Tôi nằm viện đúng một tuần nên “ngày thứ hai” tức là 29/4. Tôi đã vui vẻ chấp nhận lòng tốt của Genji, về ăn nhờ ở đậu nhà anh cho đến khi biết mình là ai.

Nhà Genji nằm trong khu dân cư yên tĩnh ở Hakusan. Đó là biệt thự gỗ kiểu cổ một tầng, nhiều chỗ đã tu bổ cho tiện sử dụng, đặc biệt là rất rộng rãi. Ở cổng gắn biển tên “Urado”. Thấy Genji sống một mình ở đây, tôi đã đoán bừa người nhà anh qua đời hết rồi. Tuy nhiên chẳng mấy chốc tôi đã vỡ lẽ là không phải. Ba mẹ Genji ở Kumamoto, Genji là con cả, một mình lên Tokyo học. Nhà Urado thì nổi tiếng là gia tộc cực kì giàu có, bất động sản rải khắp nước. Biệt thự ở Hakusan này là một trong số đó.

Hè năm nay Genji tròn 27 tuổi, vẫn cắp cặp đi học, độc thân. Năm 24 tuổi, anh tốt nghiệp khoa Y Đại học T, sau đó thi vào khoa Văn cùng trường, song chẳng mấy khi đến lớp. Tôi từng tò mò tại sao Genji không làm bác sĩ. Anh đáp, “Tôi thấy nó không hợp với mình,” và nở nụ cười đầy ẩn ý, chứng tỏ nguyên nhân không đơn giản như vậy.

Genji xếp cho tôi căn phòng 13 m2 trông ra vườn. Vườn rộng nhưng xơ xác, rõ ràng chẳng được chăm sóc mấy. Phòng ốc rất gọn gàng, cho thấy chủ nhân là người ngăn nắp cẩn thận. Tôi chỉ không quen vì cửa chớp thường đóng im im bất kể trời đẹp hay mây mù, nhà cửa cứ tối om om, bầu không khí thì lạnh lẽo tĩnh lặng kể cả đang ban ngày.

“Tôi không thích ánh sáng.” Lý do Genji đưa ra thật kì lạ. “Nắng nôi dị lắm. Nó làm con người tự nhiên tăng động, không tốt chút nào. Tăng động quá mức chỉ tổ đốt cháy sinh mệnh nhanh hơn thôi. Cho nên...”

“Ừm.” Tôi ậm ừ cho có.

“Mà cũng có thể là do đã quen với môi trường nuôi tôi lớn, khó lòng thay đổi trong ngày một ngày hai. Thật ra tôi...” Genji ngập ngừng, ánh mắt chua chát.

Lúc ấy tôi không hiểu ý nghĩa của “môi trường nuôi lớn”, cũng chẳng thắc mắc nhiều bởi chúng tôi vẫn chưa thân quen lắm.

Hôm ấy, tức ngày thứ hai tôi xuất viện và dọn vào nhà Genji, sau bữa cơm tối, Genji ngồi thư giãn trên ghế bành phòng khách, tay cầm ly rượu vang, chăm chú xem ti vi. Bỗng anh ngâm nga, “Thứ gì khô héo, là trái tim này. Thứ gì tan biến, là giấc mơ đây. Gọi là kí ức, chẳng còn sót lại. Dạo qua lối nhỏ, mơ hồ không hay.”

“Gì thế?” Tôi thắc mắc, cứ tưởng thơ Genji sáng tác, ai ngờ không phải, vì anh hỏi ngược lại, cậu không biết ư. “Không... Thơ ai vậy anh?”

"Chuya. Nakahara Chuya."

Genji đáp. Tôi mất một lúc để định hình. Chủ yếu tôi quên thông tin bản thân chứ kiến thức cơ bản thì vẫn nhớ. Vì vậy khi nghe tới “Nakahara Chuya”, tôi biết đó là tên một nhà thơ quá cố và mường tượng được hình ảnh ông đội mũ đen. Có điều tôi chỉ biết đến thế, không chắc mình từng đọc hết tập thơ nào của ông chưa, mãi mới nhớ được đoạn “Đung đa, đung đưa, đung đa đung đưa” trong bài thơ tiêu biểu

Rạp xiếc

.

“Cậu không biết là phải.

Cơn mê

là tác phẩm Chuya viết vào những năm cuối đời. Bảo ‘những năm cuối đời’ chứ khi ấy ông còn khá trẻ, tầm hai sáu hai bảy tuổi thôi.” Genji chăm chú ngắm tôi và tiếp tục ngâm nga, “Sống mà không yêu, còn không bằng chết. Nhưng dù nói vậy, ta thà ti tiện. Nhưng dù nói vậy, ta nguyện sống hèn.”

Dưới ánh đèn nhờ nhờ, vùng da trên má, cổ và tay anh trông nhợt nhạt khác thường.

Tôi bất giác nhìn xuống.

“Này này, không phải tôi chọc cậu đâu. Đừng hiểu nhầm. Quên lãng, mất hết kí ức, mơ hồ về bản thân. Không phải ai khác mà chính là tôi đây.”

“Hả?” Tôi kinh ngạc trước tiết lộ này. “Ý anh là sao?” “Tôi cũng có một bộ nhớ trống.”

“Thật á?”

“Hoàn cảnh thì khác cậu, nhưng tình trạng tương tự, đều mất một phần trí nhớ. Tôi không còn kí ức về khoảng thời gian trước năm chín mười tuổi nữa.”

“Chín, mười tuổi... thì...”

“Đúng là mọi người không nhớ được nhiều về thời thơ ấu, nhưng trường hợp của tôi là quên sạch sành sanh. Không còn chút ấn tượng nào, như thể...” Genji đặt ly vang đỏ xuống bàn, vân vê cằm. “Như thể trước đó tôi không hề tồn tại.”

Nghe xong, tôi im lặng một lúc mới hỏi, “Anh từng gặp sự cố nào chăng? Tai nạn chẳng hạn?”

Genji rút tay trái ra khỏi túi quần, đặt lên bàn rồi tháo đồng hồ đeo tay. Lúc này tôi mới thấy trên cổ tay trái anh, đúng chỗ đeo đồng hồ, có một vết sẹo gớm ghiếc, da nhăn nhúm đổi màu, trông mà đau.

“Ôi, sao thế?”

“Tôi không nhớ vết sẹo này có từ bao giờ, nguyên nhân vì đâu, đều chỉ nghe kể lại.”

“Nó liên quan tới kí ức bị mất của anh à?”

“Ừ. Nó...” Genji toan nói lại thôi. “Tóm lại là thế.” Genji cầm ly vang để trên bàn và tiếp tục. “Thành ra tôi lo cho cậu, không liên quan tới việc phải chịu trách nhiệm tông xe. Có thể nói, tôi thấy một phần của mình trong cậu.”

Tôi lại nhìn xuống đất, mãi mới lí nhí đáp, “Không sao. Bác sĩ bảo trí nhớ của tôi sẽ hồi phục.” Nói thế chứ tôi không hề lạc quan, ngược lại còn vô cùng lo lắng, hoang mang. Những cảm xúc này đều phủ màn sương mơ hồ. Lớp sương trắng xóa, lạnh lẽo dị thường... làm mờ ranh giới thực tại, bao bọc tâm khảm khiến tôi không thực sự nhận biết được ưu phiền hay khổ đau. Thi thoảng tôi lại thấy lâng lâng bồng bềnh lạ lùng, tưởng đâu cứ mặc kệ thì dần dà cũng không cảm nhận được sự tồn tại của bản thân nữa, cho đến khi cơ thể trở nên trong suốt, tinh thần bay bổng, bản thân hòa tan vào thế giới. Trạng thái này không tệ, nên tôi chưa từng nghĩ tới việc phải báo cảnh sát, tìm kiếm sự giúp đỡ...

“À!” Genji chợt đổi giọng, “Bộ đồ trên người chẳng hợp với cậu chút nào.”

Tự dưng nói thế là sao?

Tôi ngơ ngác hỏi, “Bộ đồ này á?”

Genji nheo mắt, vui vẻ quan sát phản ứng của tôi, “Áo choàng đen và mũ phớt thì hợp hơn, loại ống cao ôm hết đầu ấy, chắc chắn rất đẹp.”

“Áo choàng mũ phớt?”

“Từ giờ tôi gọi cậu là ‘Chuya’ nhé.”

“Hả?” Tôi càng ngạc nhiên.

“Đã ai bảo cậu giống Nakahara Chuya chưa?”

“Tôi giống Chuya ư?”

“Tôi thấy thế.” Genji vui vẻ cười híp cả mắt. “Cậu để tóc dài chút nữa rồi đội mũ lên là khỏi chê luôn.”

“Ơ..”

Thấy tôi bối rối, Genji liền nghiêm túc trở lại, “Không có tên khá bất tiện. Cho cả cậu và tôi.”

“Đúng, nhưng…”

“Chuya. Hừm, nghe cũng được đấy chứ? Quyết vậy đi. Mai chúng ta mua quần áo luôn. Giờ người ta không bán áo choàng, để kiếm mẫu nào tương tự...”

Cứ thế, Genji bắt đầu gọi tôi là Chuya. Và như bác sĩ điều trị dự đoán, ba tuần sau, kí ức của tôi hồi phục, trừ phần liên quan đến tai nạn. Có điều dù đã biết tên thật, Genji vẫn gọi tôi là “Chuya”.

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 241

Đang tải bình luận...