Chương 21
Gia tộc đoản mệnh
“Một vài người làm thiệt mạng trong hỏa hoạn. Còn nhà Urado thì, trừ tôi ra, ai nấy bình an vô sự...”
Genji kể nốt. Anh nheo mắt, từ đầu đến cuối luôn đăm đắm nhìn người đối diện là tôi, nhưng lại như trông ra nơi xa xăm nào. Nhắc tới vụ cháy mười tám năm trước, anh vẫn giữ vẻ mặt thờ ơ, riêng đôi mắt nheo hẹp hơn. Đúng, giống hệt thái độ của anh lúc nhìn ngọn lửa hừng hực xé toạc màn đêm cách đây bốn tháng, bên nhà hàng xóm ở Hakusan.
Lúc đó tôi đứng cạnh Genji, khôi phục kí ức về hỏa hoạn ở biệt thự kiểu Tây đã cướp đi mẹ mình. Genji có lẽ cũng đang tìm cách đào bới kí ức bập bùng ở một góc trong đầu.
“Không rõ tại sao Shizuka và Tadanori cũng gặp nạn. Nhất là Tadanori, nghe nói khá nguy kịch, may mà giữ được mạng sống...”
Genji,
Genji thật à
, thình lình gập người ho sù sụ, chắc là sặc khói thuốc.
Đây là hiện tại của mười tám năm sau...
Tôi,
Chuya
, như vừa tỉnh mộng, cựa quậy ngồi thẳng dậy sau một hồi lâu lắng nghe. Suốt câu chuyện, tôi không phụ họa, không hỏi han, không cử động, y như bị trói thân, phần hồn bay vào quá khứ Genji kể, đến giờ mới quay lại phần xác.
Ho dứt, Genji ngồi ngay ngắn, “Qua cái Tết đầu tiên sau vụ cháy Nhà Bắc, trước khi xuân sang, nhà tôi cho nghỉ gần hết người làm.”
“Cho nghỉ... tức là cho thôi việc ấy hả?”
“Ừ, giữ lại một mình Ominaru thôi. Hồi trước trên đảo có đất canh tác, trại chăn nuôi, về sau bỏ hoang hết. Hình như tôi kể cậu nghe rồi.”
“À, vâng”
“Shizuka cũng bị cho nghỉ, và đưa Tadanori rời khỏi đây.”
Bóng dáng hai mẹ con lúc ra đi chợt hiện lên như hình cắt giấy trong đầu Genji, chao đảo tựa sóng nhiệt và nhòa dần vào phông nền đỏ ối của hoàng hôn.
“Thời buổi khó khăn như thế, sa thải bao nhiêu người làm một lúc thì thật là...”
“Ừ, tàn nhẫn.” Genji bắt tréo chân, khuỷu tay tì lên đầu gối, chống cằm nhìn vào khoảng không. “Có lẽ đây là quyết định độc đoán của tân gia chủ, tức ba tôi. Thế mà không ai phản đối cả, tại dì Mii thì yêu ba sâu đậm, dì Mowa thì theo phe ủng hộ ba. Thật ra họ đã như thế từ hồi cụ Genyo và ông Takuzo còn sống. Một năm sau án mạng, ba tôi mới cưới dì Mii, nhưng chắc mắt liếc mày đưa lâu rồi.”
“Anh thì sao?” Tôi xen vào, “Mất hết kí ức?”
“Ừ.” Genji liếc cổ tay trái ẩn dưới lớp áo len mỏng. “Hình như tôi là người duy nhất chậm chân trong nhà Urado, nên mới gặp bất trắc.”
“Ý anh là suýt mất mạng?”
“Không.” Genji lắc đầu. “Hơn cả thế.”
“Hả?”
“Tôi chưa kể bao giờ sao?” Genji dập thuốc, nghiêm nghị nhoài người tới. “Trong vụ hỏa hoạn mười tám năm trước, tôi không chạy thoát, nên đã chết một lần. Chết đi, rồi sống lại. Chuya à, tôi kể rồi mà!”
“À, phải. Anh từng kể rồi.”
“Tôi ở trong đám cháy, gặp nạn thế nào, được cứu ra sao... các kí ức này đều mất sạch. Mặc dù lửa đỏ phừng phừng vẫn ẩn hiện trong tâm trí, nhưng từ nửa năm đến một năm sau vụ cháy, tôi mới nhận ra đó là kí ức của mình. Hồi ấy chỉ còn Ominaru là người làm cũ, dì Tsuruko và chị Shinobu là bổ sung về sau. Việc xây dựng lại Nhà Bắc bắt đầu được bàn đến. Tầm đó coi như...”
“Genji!” Không kìm lòng được, tôi cắt ngang, “Ý anh nói ‘chết đi sống lại’ nghĩa là, dù cơ thể bị thương nặng, mất hết trí nhớ do cú sốc, nhưng vẫn giữ được tính mạng hả?”
“Ừ. Hiểu theo cách bình thường là thế.” Nét mặt Genji dịu đi, rồi mau chóng đanh lại, “Nhưng họ không nói với tôi như vậy.”
“Là sao?”
“Họ bảo rằng tôi hồi sinh theo đúng nghĩa đen. Tôi chạy nháo nhào qua đám cháy, bị gạch đá sập xuống đè kín, người chẳng còn chỗ nào lành lặn do bị bỏng và va đập. Lúc được cứu ra, tôi đã ngừng thở, coi như chết thật rồi. Ngạc nhiên thay, một lát sau lại thở được, tức là sống lại.”
“Sống lại ư?” Cuối cùng tôi đã hiểu anh không đùa hay dùng nghĩa bóng. Tôi đâm ra hoang mang.
“Khó tin nhỉ?” Genji nheo mắt, mỉm cười thích thú với phản ứng của tôi, đoạn cao giọng kể tiếp, “Đúng là kì tích, ba tôi tấm tắc, thậm chí còn dùng từ ‘thành tựu’. Tiếc là tôi chẳng còn chút kí ức nào về cái chết cũng như cái sống của mình trong vụ cháy, nên ba và các dì nói thế nào, tôi đều thấy không thật. Mặt khác cũng không thể bác bỏ thẳng thừng những lời như đinh đóng cột của họ, nên tôi quyết định tin, cũng chỉ có cách tin...”
Tôi để ý đến từ “thành tựu”. Hình như có người trong nhà này đã dùng một từ tương tự. Đó là...
Tới giờ chưa ai thành công
. Nhớ ra rồi, không phải “thành tựu”, mà là “thành công”, trong câu chuyện của Midori Mio ở phòng riêng chiều qua.
Cụ Genyo là ngoại lệ. Ngoại lệ, nhưng thất bại
. Đúng rồi, cặp song sinh đã nói như thế khi tôi hỏi về lồng lạc lối và lăng mộ ngoài sân.
Hay là ba thất bại nốt? Có trời mới biết. Chỉ anh Genji là ngoại lệ.
Tôi không rõ cặp song sinh đang nói gì, muốn nói gì, càng không hiểu ngữ cảnh của mấy từ“ngoại lệ”, “thành công”, “thất bại”, nên đầu óc càng hỗn loạn hơn...
Mười tám năm trước, Genji “chết đi, rồi sống lại”. Đây không phải trò đùa, cũng không phải ví von, mà là sự thật đã xảy ra. “Kì tích” này là “thành tựu”, nên mới nói Genji là “ngoại lệ” ư?
Đồng thời còn một khái niệm khác, chính là “thành công”. “Thành công” ở đây với “thành tựu” của Genji không cùng một trường nghĩa sao? Cụ Genyo bị sát hại mười tám năm trước cũng là “ngoại lệ”, dù là “ngoại lệ” song vẫn “thất bại”. Thế là thế nào? Hai cái đứa này! Càng nghĩ càng rối.
Chúng ta sẽ ra sao đây? Giá được như anh Genji thì tốt. Sau đó sẽ là anh Chuya? Anh Chuya cũng..?
Giọng cặp song sinh vang vọng lạ lùng trong tâm tưởng. Tôi nhắm chặt mắt, cố xua nó đi.
Anh Chuya cũng... Anh Chuya cũng...
“Sao thế Chuya?”
Câu hỏi của Genji đã giải thoát tôi khỏi giọng liến láu của cặp song sinh. Tôi lắc đầu “Không sao”, và hít thở chầm chậm để bình tĩnh lại.
“Anh có giải thích thế nào, tôi vẫn không hiểu được.”
Với cảnh ngộ đặc biệt của Genji, anh chỉ có cách tin vào những sự thật mà ba và các dì nói với mình. Chứ tôi thì khó mà tin, cũng chẳng có lý do gì để tin.
“À, Genji này, vết sẹo ở cổ tay trái anh.” Tôi hít thở thật mạnh, thật sâu, rồi ngẩng lên nhìn Genji, “Là vết thương trong vụ cháy mười tám năm trước à?”
“Nghe nói thế.” Toàn bộ các câu trả lời của Genji đều là nguồn thông tin gián tiếp. “Lúc tôi được cứu, cổ tay trái đã bị cắt rời một nửa, máu me lênh láng, thế mà nó lành lại được, ngón tay cũng cử động bình thường, đúng là kì tích. Cuối cùng chỉ để lại một vết sẹo...” Genji giơ tay trái ra, xắn tay áo len, phô ra vết sẹo nhăn nhúm tôi đã thấy vài lần dưới dây đeo đồng hồ.
“Ba nói vết sẹo này là Dấu Thánh”
Genji lại nở nụ cười. Khi đôi môi mỏng tách ra thành hình trăng khuyết, nụ cười bỗng nhiên méo đi dữ dội. Trong khoảnh khắc, tôi chợt nghĩ trên đời sao lại có nụ cười méo mó đến thế.
“Dấu Thánh...” Tôi lắc đầu. “Là gì?”
“Tất nhiên, Dấu Thánh này khác Dấu Thánh của đạo Cơ Đốc. Có nghĩa là... À mà, muốn cho mạch lạc phải kể từ đầu, phải truy ngược lại nguồn gốc nhà Urado và Ám Hắc Quán rồi mới tuần tự diễn giải. Nếu không, cậu không tài nào hiểu được đâu.”
Genji lại tì khuỷu tay lên đầu gối, chống cằm thở dài mệt mỏi. Nụ cười méo mó đã biến mất.
“Nên bắt đầu từ đâu nhỉ?”
Ánh nến nhảy nhót trên giá nến dọc tường trong căn phòng khóa kín quanh năm. Bóng tối chiếm cứ không gian, tôi lại bị ảo giác trói buộc, thấy các hạt bóng tối lặng lẽ tỏa ra, bủa vây chúng tôi lần nữa.
Genji vẫn đang cân nhắc nên bắt đầu từ đâu. Tôi nhìn đồng hồ đeo tay, đã gần 4 giờ sáng.
“Tiện đây cho tôi hỏi, cậu nghĩ thế nào về chuyện mười tám năm trước?” Genji chợt hỏi.
Lại định gác sang một bên mấy chuyện “sống lại”, “Dấu Thánh”, để sau nói à?
“Án mạng hiện giờ và án mạng mười tám năm trước có liên quan với nhau không?”
Tôi lắc đầu thở dài, “Hình như không.”
Theo câu chuyện của Genji thì vụ việc mười tám năm trước đã xử lý ổn thỏa. Genyo bị sát hại trong phòng đọc sách thứ hai, Takuzo treo cổ trong phòng riêng Nhà Bắc. Takuzo chính là kẻ giết hại Genyo, và sẵn sàng tâm lý tự sát sau khi xong việc. Hung khí là que cời lửa vốn ở phòng ông ta. Di thư là dòng chữ viết tháu kẹp trong tập thơ. Rành mạch quá rồi!
Quá khứ ấy liệu có liên quan tới hai án mạng mười tám năm sau không? Thoạt nhìn là không. Nếu có thì liên quan kiểu gì? Thú thật, tôi không đoán ra.
“Tôi muốn hỏi anh mấy câu.” Tôi đón ánh mắt Genji.“Mấy câu đơn giản, để xác nhận thôi.”
“Hỏi thoải mái.” Genji gật đầu ngay. “Biết sẽ nói.”
“Trước tiên...” Tôi vén tóc mái, đưa tay đỡ trán. “Tại sao Takuzo lại sát hại Genyo? Động cơ là gì?”
“Takuzo luôn căm thù Genyo. Sau nhiều năm, căm thù tích tụ càng dày, cho đến đêm ấy, kiềm chế không nổi nữa nên bùng phát.”
“Căm thù gì mà phải giết người?”
“Chà...” Genji lưỡng lự. “Giống vấn đề hồi nãy, muốn giải thích rõ ràng, dứt khoát phải kể từ đầu.”
“Lại để sau nói à?” Tôi châm chọc.
Genji vẫn nghiêm túc, “Đừng lo. Tôi không định làm cậu sốt ruột, cũng không muốn đánh trống lảng. Chỉ tại sự tình phức tạp chồng chéo, giải thích đơn lẻ càng rối thêm. Vì vậy...”
“Tôi hiểu.” Tôi dễ dãi gật đầu. “Anh đã nói kể hết cho tôi trong đêm nay.”
“Tôi sẽ giữ lời.”
“Ừm.” Tôi lại gật đầu. “Vợ Takuzo tên là Sakura nhỉ? Hai mươi bảy năm trước, Sakura tự sát, cũng treo cổ trong phòng riêng giống Takuzo?”
“Hình như thế, cách thức cũng là treo thắt lưng lên cửa.”
“Tại sao bà tự sát?”
“Do rối loạn tâm thần.”
Nhắc đến người thân đột tử bất thường, giọng Genji vẫn rất bình tĩnh, nhưng tâm trạng anh chắc phải phức tạp khó tả.
“Có thư tuyệt mệnh không?”
“Không.”
“Hai mươi bảy năm trước là năm anh ra đời. Dahlia thì mất ba mươi năm trước à?”
“Đúng.”
“Kể cả rối loạn tâm thần, vẫn phải có động cơ dẫn đến tự sát chứ, không chịu được bệnh tật giày vò chẳng hạn.”
“Không có.” Genji lắc đầu dứt khoát.
“Vậy, ví dụ... Thằng cháu đầu lòng bị cha ruột tức giận giam cầm trên đỉnh tháp. Hành động tàn nhẫn khiến cho bà đau đớn không thiết sống….”
“Không thể nào.” Genji một mực lắc đầu.
“Rốt cuộc là vì sao?”
“Tương tự động cơ giết Genyo của Takuzo, nếu không trình bày nội tình đan xen chằng chịt, thì không thể giải thích được...”
“Tiếp tục để sau nói nhỉ?”
“Thôi được rồi, đừng sửng cồ! Một hai tiếng nữa, hầu hết các thắc mắc của cậu đều sẽ sáng tỏ.”
“Ố…”
“Tuy nhiên, phải cho cậu biết điều này trước đã.”
“Điều gì?”
“Trong nhà Urado chúng tôi, tự sát bị coi là tội lỗi tày trời, vượt xa mức người thường nhìn nhận nó.”
Giọng Genji rất nặng nề, nghe mà áp lực. Tôi chỉ cho là quan trọng hóa vấn đề.
“Có thể nói, tự sát là cấm kị cao nhất. Người đầu tiên phạm vào cấm kị nhà Urado là Sakura hai mươi bảy năm trước. Người thứ hai là Takuzo mười tám năm trước.”
Đạo Cơ Đốc quan niệm “Tự sát là tội nặng”. Còn đến mức coi là “cấm kị cao nhất” như Genji, à không, như nhà Urado thì bắt nguồn từ nền tảng tư tưởng nào? Không bao lâu nữa, chính xác là một hai tiếng nữa nếu lời Genji đáng tin, thắc mắc này cũng sẽ sáng tỏ trước mắt tôi. Chắc thế! Tôi tự trấn an rồi quay sang các câu hỏi liên quan trực tiếp hơn.
“Di thư của Takuzo viết “Tôi đến với Sakura đây”. Sakura là người vợ đã tự sát của ông, xem xét một cách thuần túy thì ông thể hiện quyết tâm đi theo bà.”
“Ừ.”
“Nét chữ trong di thư có đúng là của Takuzo không?”
“Đúng.”
“Tự thấy giống nên bảo đúng, chứ không mời chuyên gia thẩm định?”
“Ừ thì... chắc thế. Cảnh sát còn chẳng báo nữa là.”
“Thấy chưa!” Tôi chậm rãi gật đầu, nhấn mạnh. “Muốn tìm ra vấn đề nằm ở đâu, thì không được bỏ qua những chỗ mù mờ.”
“Là sao?”
“Qua các dấu hiệu bề nổi, chúng ta tưởng đã nắm rõ đầu đuôi sự tình. Đào xuống sâu hơn, không có khám nghiệm hiện trường, giám định thi thể, giám định chữ viết. Không biết que cời lửa có dấu vân tay không, có thì là của ai. Không biết có máu bắn lên người Takuzo hay không, liệu có phải là máu của Genyo. Không biết di thư có thực sự là do Takuzo viết, hay ai mạo nét... Gia đình anh đã bỏ qua sạch sẽ các bước cần thiết. Tức là trên thực tế, không có chứng cứ nào đủ rõ ràng.”
“Đúng.”
“Nghĩa là dù trông qua cũng khá minh bạch đấy, nhưng nhìn kĩ không thiếu điểm đáng ngờ. Ví dụ Takuzo không hề tự sát, ai đó siết cổ ông rồi treo lên cửa để dàn dựng thôi, và di thư dĩ nhiên sẽ do hung thủ ngụy tạo. Hoặc, hung thủ lừa Takuzo viết dòng chữ ấy trước, sau đó mới giết rồi treo ông lên cửa cho giống Sakura, cốt để người ta tưởng rằng ông muốn đi theo vợ.”
“Cậu đúng là fan truyện trinh thám thực thụ.” Lần này, tôi ít nhiều đã thuyết phục được Genji. Anh cười khổ sở, như muốn che giấu sự bối rối trong lòng. “Ý cậu là chúng ta nên cân nhắc khả năng hung thủ là người khác?”
“Anh không thấy vậy sao?” Tôi gặng hỏi. “Vấn đề ở chỗ mười tám năm trước và bây giờ đều không báo cảnh sát.”
“Ừ, đúng.” Genji vẫn cười khổ sở, gật đầu. “Tính ra, từ đầu đến cuối, người giữ vững nguyên tắc không báo cảnh sát, chủ trương xử lý lạnh, là đáng nghi nhất phải không?”
“Có thể nói thế.”
“Chuya à, giả dụ nạn nhân mười tám năm trước là ba tôi, và quyền lực vẫn nằm trong tay cụ tôi, tôi nghĩ cụ cũng sẽ quyết định giống ba, có khi còn tiêu hủy mọi bằng chứng nữa kìa.”
“Vì danh tiếng gia tộc ư? Với bối cảnh xã hội thời ấy, nhà Urado mà để lộ ra cái tin có người bị giết hay tự sát trong nhà thì sẽ hết sức phiền phức hả?”
“Đúng.” Genji lấy diêm châm thuốc. “Nhưng tôi thấy, so với danh dự gia tộc, điều quan trọng hơn cả là chúng tôi không thể chịu đựng được việc người lạ xộc vào nhà lùng sục săm soi. Cậu biết đấy, nhà chúng tôi có rất nhiều bí mật muốn che giấu với bên ngoài, ví như đống xương sau tháp. Tôi không biết ba tin lời đồn đến mức nào, nhưng rõ ràng nó vẫn làm ba bận tâm...”
“À, tôi hiểu.” Tự dưng tôi thấy khó chịu về khói thuốc của Genji, đành len lén quay mặt đi, phản bác. “Hiểu thì hiểu, vẫn không tiêu hóa được. Rõ ràng gia chủ bị sát hại...”
Genji bình thản hút thuốc, bật cười, “Để tôi nói một điều khiến cậu khó tiêu hơn nhé.”
“Điều gì?”
“Án mạng mười tám năm trước, kể cả có báo cảnh sát ngay thì cuối cùng vẫn không được coi là án giết người đâu.”
“Hả?” Đúng như Genji nói, tôi không tiêu hóa nổi. “Chưa hiểu ý anh. Tại sao?”
“Để sau nói.” Genji giở giọng cố tình.
Lại nữa! Tôi bĩu môi thất vọng, rồi nhanh chóng trấn định, “Tôi muốn hỏi thêm một điều. Sau khi án mạng xảy ra, anh đã nhìn thấy kẻ tình nghi trong phòng hả?”
“À ừ.”
“Theo logic thông thường, đó chính là hung thủ sát hại cụ Genyo, nên phải là Takuzo.”
“Đúng vậy. Tuy nhiên, tôi lại kiên quyết trả lời là ‘Không biết ai’, ‘Chưa từng gặp’.”
“Cho nên, nếu kẻ đó là Takuzo, anh sẽ không bao giờ nói ‘Chưa từng gặp’.”
“Chính xác.”
“Anh giải thích thế nào về mâu thuẫn này?”
“Hầu hết mọi người đều cho rằng lời chứng của Genji chín tuổi không đáng tin. Việc trong phòng có người là ảo giác hoặc tưởng tượng của tôi.”
Ảo giác hoặc tưởng tượng.
Không đúng
. Rất hợp lý.
Không đúng. Rõ ràng Genji có nhìn thấy một người. Ý nghĩ này bỗng trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết.
“Anh kể là kẻ đó mặc đồ đen, tóc tai rối bù?”
“Đúng.”
“Ban nãy anh nói, lúc 58 tuổi, Takuzo hói sọi, tức là trên đầu không có tóc.”
“Phải.”
“Mâu thuẫn.”
“Đúng thế!” Genji gật đầu thật mạnh. “Nếu tin lời chứng của Genji chín tuổi, thì như cậu vừa chỉ ra, kẻ tấn công Genyo không phải Takuzo. Có kẻ sát hại Genyo, rồi giết Takuzo, và dàn dựng hiện trường tự sát. Suy ra, có thể Takuzo còn bị giết hại trước cả Genyo. Thú thật, tôi vẫn luôn băn khoăn về khả năng này.”
“Bất kể hung thủ là ai thì vẫn tồn tại một bí ẩn. Đó là kẻ tình nghi đã biến mất trong phút chốc...”
“Đúng vậy. Biến mất trong phòng kín là bí ẩn sặc mùi trinh thám nhỉ?”
“Ừ.”
“Nổi hứng rồi chứ gì?” Giọng Genji nhẹ nhõm hơn.
Tôi không trả lời mà đứng dậy, quay lại nhìn bức tường phía Nam.
“Genyo ngã cách bức tường một mét, đầu hướng về tường, mặt quay ra cửa, cánh tay phải vươn tới trước...” Tôi từ từ tiến lại gần tường. “Suy ra, cánh tay phải chỉ vào khung tranh?”
Đứng ở nơi Genyo ngã xuống mười tám năm trước, tôi chăm chú quan sát khung tranh rỗng. Có tiếng Genji đứng dậy khỏi đi văng.
“Anh đứng đằng kia.” Tôi nhìn ra cửa phòng. “Anh nói kẻ tình nghi đứng ở góc trong cùng.” Tôi đưa mắt sang phải, tức góc Tây Nam,
đúng rồi đấy
, nền tường dát gỗ màu đen, y hệt các chỗ khác, quanh đó không có đồ đạc gì.
“Kẻ tình nghi đứng kia, quắc mắt nhìn anh với bộ dạng hung dữ. Khi anh phân tâm vì ba, hắn thừa cơ biến mất?” Tôi khoanh tay, ậm ừ. Tại sao lại có hiện tượng lạ lùng đến thế? Đây chỉ là ảo giác hay tưởng tượng của cậu bé bị giam cầm từ nhỏ?
Không, không phải ảo giác, cũng chẳng phải tưởng tượng, mà là...
Còn nếu thực sự đã xảy ra...
Dứt khoát phải có thiết bị hoặc cơ quan hô biến nào đấy. Tôi lại nhìn khung tranh rỗng. Chiều rộng khoảng hai mét, cạnh trên cao ngang người lớn, cạnh dưới sàn cách gần một gang tay. Bên trái, cách khung tranh không xa có một giá nến, nến đang leo lét cháy.
“Cậu thấy cái này lạ à?” Genji đến bên cạnh tôi, hất hàm về phía khung tranh.
“Ý nghĩa của món đồ trang trí quái đản này là gì?”
“Để sau nói.”
Gần như phát nản với kiểu trả lời rập khuôn ấy, tôi nhún vai, chuyển hướng, “Đúng rồi, giá nến kia...”
“Hả?”
“Mười tám năm trước, khi anh phát hiện án mạng, nến trên giá có thắp sáng không?”
“Sao tự dưng lại hỏi thế?”
“Không sao, bất chợt nghĩ tới thôi.” Tôi lấp lửng.
Genji nói luôn, “Chẳng rõ. Cả ba và Ominaru đều trả lời ‘Không nhớ’.”
“Vậy à...”
“Tôi nghĩ, gần như là không.”
“Ố?” Tôi ngây người, liếc gương mặt trông nghiêng của Genji. “Sao anh lại nghĩ thế?”
Genji ấn ngón trỏ phải vào thái dương, cố tình đùa cợt, “Suy luận chứ sao.” Đúng là lúc đó nến bị thổi tắt rồi. Genji mau chóng lấy lại giọng bình thường, “Giờ mà nói ra, chắc cậu không vui đâu. Nhưng Chuya à, tôi đã giải đáp được bí ẩn người sống sờ sờ biến mất trong phòng kín mười tám năm về trước rồi.”
“Hả?”
“Sau khi đánh chìa, tôi lẻn vào đây vài lần và đã tìm ra mấu chốt. Tìm ra rồi thì còn bí ẩn gì đâu. Tuy nhiên, vấn đề vẫn chưa được giải quyết hoàn toàn.”
“Rốt cuộc là...”
“Được rồi, đừng vội.” Genji dễ dàng lẩn tránh câu hỏi. Anh tiến lại gần tường, thổi tắt nến. “Lát nữa tôi cho cậu biết cả thể.” Genji vỗ nhẹ vai tôi, mặc kệ tôi hoang mang hụt hẫng cạn lời, anh giục. “Chúng ta đi chỗ khác.”
Ra khỏi căn phòng từng là phòng đọc sách thứ hai, Genji chỉ khép chứ không khóa vào như cũ. Anh tiến về phía cửa cánh đơn màu đen cuối hành lang, cửa cấm thứ hai trong Ám Hắc Quán, mở vào nơi ở của người thực sự kiểm soát nhà này.
“À, Genji ơi!” Tôi hỏi trong lúc anh lục túi quần lấy chìa, “Đêm án mạng, ba anh đi ra từ đây nên mới gặp anh đứng thất thần trước cửa phòng đọc sách nhỉ? Ba anh làm gì trong đó mà ‘xong việc’?”
“Dọn dẹp sau tiệc, theo yêu cầu của cụ Genyo.”
“Dọn dẹp?” Tôi thắc mắc. “Tiệc tổ chức trên tầng hai cơ mà?"
“Dọn dẹp bộ đồ ăn thì phải.” Genji đáp. “Có bộ đồ ăn riêng cho tiệc Đêm Dahlia, cất ở phòng này. Hầu như do chủ nhân bảo quản, chủ nhân giao cho ai thì tùy, như ba vài năm nay, vì sức yếu, nên toàn để Onimaru làm thay. Với lại...”
Genji ngoái đầu nhìn cánh cửa ban nãy. “Trước kia phòng đọc sách thứ hai và phòng này đều không khóa. Sau án mạng mới khóa...”
Genji quay lại, cắm chìa vào ổ. Khác với phòng khóa kín, ổ khóa bên này mở rất êm.
Tôi nuốt nước bọt, ngó qua vai Genji. Phòng này là trái tim của Nhà Tây, Nhà Tây lại là trái tim của Ám Hắc Quán, nói cách khác, tôi sắp được đặt chân vào trái tim của của trái tim.
Tôi thì khác
. Lời Isao nói trong buổi đầu gặp mặt...
Tôi trở thành nghệ sĩ để chứng minh thần thánh cóc tồn tại!
Thần thánh không tồn tại ư?
Cẩn thận đừng để bị ếm nguyền. Nhưng tôi bị ếm rồi, không phải sao? Tương tự Genji, Seijun và tất cả người nhà Urado. Đúng, rõ ràng rồi. Tôi đã bị ếm, thoát làm sao được nữa. Có điều, bị cái gì ếm kia chứ?
Chắc là ác quỷ
. Genji từng nói.
Ít nhất không phải thần linh
.
“Căn phòng này ở phía Nam Nhà Tây.” Genji giải thích. “Bên trong là tháp ba tầng chưa hoàn thiện, gọi là tháp Dahlia.”
Genji lần mò trên tường, bật công tắc. Đèn điện lần lượt sáng lên lờ mờ trong căn phòng tối om. Tuy cùng là cửa cấm, nhưng cửa cấm này không ngặt nghèo như bên phòng đọc sách thứ hai. Tôi nhận ra, nơi đây vẫn thường có người lui tới. Bóng đèn cũng được thay mới.
“Tầng một này là phòng tiếp khách của Dahlia. Tầng hai bên trên là phòng ngủ. Có người gọi chung là nhà Dahlia. Kia là tháp.” Genji chỉ cho tôi xem.
Tháp hình vuông, nhô hẳn ra ngoài ở góc Đông Nam căn phòng, có cầu thang dẫn lên phòng ngủ tầng trên. Cảnh tượng này làm tôi nhớ lại Nhà Tây khi nhìn từ cửa sổ tầng hai Nhà Đông. Cả ngôi nhà bị dây leo quấn kín mít, phủ trong màu sắc kì dị, không xanh, không xám cũng chẳng đen. Phía Nam sừng sững ngọn tháp với mái dốc...
Tôi theo Genji vào phòng tiếp khách, nhìn quanh. Đập vào mắt là lò sưởi và bức tranh sơn dầu trên mặt tường phía Tây. Tôi bất giác hít mạnh, tò mò tiến lại gần. Lò sưởi bằng đá hoa cương màu đen, bề mặt chà nhám, có ống khói hẳn hoi chứ không chỉ là đồ trang trí như lò sưởi trong phòng làm việc của Mowa. Phần tường phía trên hình tứ giác, nhô hẳn ra. Tranh sơn dầu treo ở đó. Trong tranh là chân dung một người mà chỉ cần gặp qua, à không, phải nói là chỉ cần nhìn qua một lần là không quên được. Tóc đen nhánh, da trắng như tuyết, đôi mắt to tròn, sống mũi cao thẳng, cằm gọn nhỏ xinh, đôi môi đẹp với nụ cười quyến rũ. Giống hệt mỹ nhân trong tranh chân dung ở phòng tiệc. Dahlia thời trẻ đây nhỉ?
Trong bức chân dung ở phòng tiệc, Dahlia mặc váy đen. Trong bức này, Dahlia mặc váy đỏ rực rỡ, giống phục sức của Midori Mio trong đêm Dahlia. Tạo dáng trong hai tranh cũng khác nhau. Ở phòng tiệc cụ ngồi ghế bành, tay chắp trên đầu gối, còn ở đây cụ ngồi sau bàn, tay trái chống cằm, mắt nhìn ra trước.
“Hai tranh vẽ cùng thời điểm à?” Tôi hỏi Genji bấy giờ vừa bước đến bên cạnh.
“Ừ, đều vẽ khi cụ gần ba mươi tuổi. Hình như cụ Genyo mời họa sĩ quen, mất rất nhiều thời gian mới hoàn thành.”
Cái tên Fujinuma Issei bỗng lướt qua óc. Không thể nào. Tôi phủ nhận ngay. Dahlia gần ba mươi, tức là sáu bảy chục năm trước, không cùng thời với Issei.
“Nhìn này, Chuya.” Genji tới gần lò sưởi, chỉ cho tôi xem. “Tay trái trong tranh.”
“Hả?”
“Cổ tay trái đang chống cằm ấy.”
Tôi nhìn cổ tay trái, thấy đeo chiếc vòng không rõ chất liệu. Trên vòng khắc hình mấy con rắn quấn quanh. “Vòng làm sao?”
“Vòng không làm sao, bên dưới nó kìa.”
Nghe vậy, tôi vỡ lẽ, “Nếu tôi đoán không nhầm, dưới cái vòng, trên cổ tay trái cụ, có vết sẹo giống của anh?”
Genji gật đầu, tay phải nắm lấy cổ tay trái của mình, “Nghe nói khi quen cụ Genyo đã có rồi. Không ai rõ nguyên nhân.”
“Cho nên...” Tôi chăm chú nhìn chiếc vòng trong tranh. “Dấu Thánh, là chỉ dấu ấn mà vụ cháy mười tám năm trước để lại ở anh, vì tình cờ nó ở cùng vị trí, có cùng hình dáng với vết sẹo của Dahlia?”
“Đúng đấy!” Vẻ mặt Genji khá nghiêm túc. “Có thể coi là ngẫu nhiên. Hành vi vô tình phát hiện một điều rồi gán ghép ý nghĩa cho nó, mang đặc trưng không thể thiếu của hiện tượng tôn giáo...”
“Tôn giáo ư?” Hình như đây là lần đầu tôi nghe Genji nhắc đến từ này.
Nếu vết sẹo xuất hiện ở cùng vị trí giống Dahlia mà được gọi là Dấu Thánh, giáo chủ trong hiện tượng tôn giáo mà anh nói dĩ nhiên là Dahlia. Vậy thì tôi đã hiểu “người thực sự kiểm soát Ám Hắc Quán” là thế nào rồi. Tôn giáo Dahlia tồn tại trong nhà Urado suốt một thời gian dài, trở thành điểm tựa tinh thần và hành động cho mọi người, từ đó điều khiển mọi người ở đây sao? Tôn giáo này thế nào...
“Thật ra, đa số hoạt động của mọi người trên đời, ở các tầng lớp hay trình độ khác nhau, đều có thể coi là hiện tượng tôn giáo theo nghĩa rộng. Chắc không cần trích dẫn luận văn xã hội học liên quan đâu nhỉ? Ví dụ tiêu biểu chính là chủ nghĩa toàn trị của nước ta thời tiền chiến, rồi chủ nghĩa phát xít... Nói sâu hơn, chủ nghĩa dân chủ tốt đẹp mà Liên Hợp Quốc ủng hộ, chủ nghĩa khoa học tự nhiên luôn cho rằng khoa học tự nhiên tạo nên thế giới hay vũ trụ... đều thế cả. Chúng ta dễ dàng tìm được cấu trúc cơ bản của hiện tượng tôn giáo trong các chủ nghĩa kể trên. Quay lại chuyện chính, tôi luôn muốn giữ khoảng cách nhất định với tôn giáo đặc biệt của nhà Urado, nhưng...” Genji cau mày, cắn môi, trông vô cùng buồn rầu. “Nhưng mà, Chuya ạ, loay hoay vô ích. Nói sao nhỉ? Thực sự lực bất tòng tâm.”
“Là sao?”
“Là không thể thoát ra, không thể tự do.”
Không thể thoát ra. Không thể tự do. Hôm qua, trong phòng khách Nhà Bắc, Seijun cũng nói tương tự.
Thật ra Genji giống tôi... Không riêng tôi và Genji, mà Mowa và chị cô ấy... rồi Ryushiro chủ nhân Ám Hắc Quán, đều không phải ngoại lệ. Không chỉ thể xác và linh hồn... mà cả mạng sống của chúng tôi đều bị trói buộc, bị cầm tù ở đây.
Vì một lời nguyền.
“Genji!” Tôi chợt hỏi, “Ban nãy anh gọi cụ Dahlia là phù thủy à, vì sao?”
Genji khẽ “À” một tiếng, lại ngẩng nhìn bức chân dung trên lò sưởi. “Dahlia chính là phù thủy. Bản thân cụ công nhận thế. Nhưng nếu phải giải thích tỉ mỉ tại sao lại gọi cụ là phù thủy, có thể sẽ phát sinh rất nhiều vấn đề.”
Tôi nhìn quanh phòng lần nữa, nhận ra đồ đạc ở đây cũng không phủ vải chống bụi, nhưng khác với phòng đọc sách thứ hai, đồ đạc và sàn nhà đều sạch bong, không bẩn không xước, như thể luôn trong trạng thái sẵn sàng đón người vào ở bất cứ lúc nào.
Chắc có người dọn dẹp định kì, hẳn là Onimaru. Vấn đề là, dù được sắp xếp gọn gàng, quét tước sạch sẽ, bầu không khí vẫn toát ra phong vị bỏ hoang. Tôi không giải thích được cảm nhận này.
Mặt tường phía Bắc có vài giá sách và kệ trang trí đều màu đen. Sách ngoại văn cũ chủ yếu là tiếng Ý, lẫn vài quyển tiếng Anh và tiếng Đức, lác đác một hai quyển tiếng Nhật. Nhìn qua thì toàn là “ma thuật”, “thần bí”, “giả kim”, “dị đoan”...
“Bên kia.” Genji chỉ vào một tủ để đồ. “Chính là chỗ để bộ đồ ăn dùng riêng cho tiệc.”
Các kệ trang trí đều có thiết kế phổ biến, nhưng lại lắp kính mờ, nên gần như không có tác dụng trưng bày, chưa mở ra thì không biết bên trong đựng gì.
Tôi lùi lại một bước, hai tay chống nạnh, nhìn chăm chú vào kính mờ, cố nhớ lại màu sắc và hình dáng bộ đồ ăn dùng trong tiệc Đêm Dahlia.
Bình rượu dày hình quả tim màu đỏ. Ly uống bằng thủy tinh mờ màu đỏ. Nến tỏa mùi kì lạ cũng đỏ. Khăn trải bàn.. màu đen nhỉ? Đĩa lớn màu đen bày các lát bánh mì. Đĩa con đặt trước mặt mỗi người. Hộp đen có nắp để đựng xúp đỏ sẫm. Thìa gỗ và dao gỗ, còn cả hũ nhỏ đựng chất quánh đặc màu nâu đậm...
Tất cả đang xếp trong kia sao? Và đến Đêm Dahlia năm sau sẽ được lấy ra lần nữa?
Hồi tưởng những món không thể nói là ngon miệng bị ép ăn hôm đó, tôi bị giày vò vì một linh cảm đáng ghét. Buông đôi tay đang chống nạnh lên chít sau gáy, hít thở sâu để xua đuổi linh cảm đó đi, tôi quay gót khỏi kệ trang trí. Đúng lúc này, tôi phát hiện ra thứ đáng lẽ phải trông thấy từ đầu.
“Kia là...” tôi hỏi Genji, “Nắp sắt à? Để làm gì thế?”
Nó nằm trong góc Tây Nam căn phòng, từ thảm đen trải trước lò sưởi nhìn thẳng sang là thấy. Hình vuông, màu đen, cạnh dài khoảng một mét. Trông đã thấy nặng, chất liệu khác hẳn bề mặt xung quanh. Một đầu còn có hai tay cầm.
“Đúng đấy...” Genji đến bên tôi. “Nắp kéo, bằng sắt. Nói là cửa thì chính xác hơn.”
“Ở dưới là nhà kho à?”
“Không, hầm ngầm. Có cầu thang đi xuống. Tôi chưa khám phá bao giờ, bên trong rộng lắm thì phải.”
Tôi đến gần nhìn, cửa sắt có hai ổ khóa chắc chắn.
“Lúc nào cũng khóa chặt như thế. Chìa xuống đó và chìa phòng này để ở các chỗ khác nhau, nên tôi không đánh được chìa phụ.”
“Lẽ nào bên dưới có thứ gì đặc biệt quan trọng…”
“Đúng vậy.”
Tôi chống hai tay lên đầu gối, bối rối nhìn cánh cửa trên sàn. Phù điêu trông quen quen, vài đường cong như xương sườn và hai con rắn quấn quanh. Đúng rồi, hình này giống...
“Họa tiết trên cửa lồng lạc lối, lăng mộ ngoài sân.”
Genji “Ừm” một tiếng, nheo mắt khen, “Quan sát kĩ đấy.”
“Xương người và rắn...”
“Đúng vậy.” Mắt Genji nheo hẹp hơn. “Xương người tượng trưng cho hồi sinh, rắn tượng trưng cho vĩnh hằng. Đây là quan niệm phổ biến xưa nay ở khắp nơi trên thế giới, từ Babylon, Ấn Độ, Hy Lạp, đến Trung Quốc và nhiều nước châu Âu.”
“Hồi sinh, vĩnh hằng.”
“Nhân tiện cho cậu biết, quanh lồng lạc lối trồng toàn thủy tùng. Loài cây này tượng trưng cho cái chết.”
Đã vỡ lẽ, tôi đứng thẳng dậy nhìn Genji, “Rốt cuộc dưới này là cái gì?”
“Muốn biết à?”
Tôi dứt khoát gật đầu, “Vâng. Dưới này có gì?”
“Hầm ngầm xây dựng vào ba mươi năm trước, sau khi Dahlia qua đời.” Genji cúi đầu nhìn cửa sắt dưới chân. “Nó không phải dạng tầng hầm thông thường. Xem nào, kiểu hầm rượu vang ấy, đào khá sâu để duy trì nhiệt độ ở mức thấp, không chịu ảnh hưởng từ nhiệt độ bên ngoài. Với lại, trong đó đặt rất nhiều vại.”
“Vại?”
“Nhiều vại có nắp. Về nguyên tắc, chỉ gia chủ mới được xuống đó, nên tôi chưa thấy tận mắt bao giờ.”
“Trong vại đựng gì?” Tôi gặng hỏi.
“Đựng nhiều miếng nhỏ.”
“Miếng gì nhỏ?” Tôi gặng hỏi, dù đã lờ mờ đoán được đáp án.
Genji nhìn thẳng vào mắt tôi, nụ cười từ từ rịn ra nơi khóe miệng.
“Miếng thịt đấy.” Genji trả lời, môi mỏng cong lên như vành trăng. “Không phải thịt người cá. Không phải thịt một loài huyễn tưởng như thế đâu, mà là thịt có thật.”
“Đó là...” Tôi thở dốc, “Thịt gì?” Tay phải vô thức ấn lên ngực. Một giọng nói thảm thiết vang vọng trong đầu, lẽ nào, lẽ nào...
Nụ cười của Genji từ khóe miệng lan rộng ra khắp mặt, trông méo mó dữ dội. Vừa nãy, lúc kể về Dấu Thánh trên cổ tay trái ở phòng khóa kín, trên mặt anh cũng là nét méo mó này...
“Tôi cho cậu biết đây, Chuya!”
Genji nói.
“Trong vại là thịt cụ Dahlia.”
Tuy đã loáng thoáng đoán ra, nhưng ấn tượng đầu tiên ập đến trong tôi lại không phải là đắc thắng kiểu “Quả nhiên”, mà là sốc nặng. Nghĩa là thứ thịt người ta ép tôi ăn, làm tôi bận lòng thắc mắc mãi kia, là thịt Dahlia, thịt cụ bà đã chết ba chục năm về trước của Genji. Quá choáng váng, tôi không biết phải phản ứng thế nào nữa. Tuy bàn tay ấn trên ngực đang căng cứng, bất ngờ thay tôi lại không buồn nôn, mà chỉ thấy cả người tê liệt lạ lùng. Không phải tê liệt do bệnh tật. Nói sao nhỉ? À phải, từ hồi quen Genji rồi tới thăm Ám Hắc Quán, tôi thường xuyên bị quấy rầy vì cảm giác thực tại mơ hồ, thế giới nhòe mờ. Chính cảm giác ấy gây ra cơn tê liệt hiện tại đây.
“Tại sao...” Cuối cùng tôi cũng xoay xở hỏi được, “Lại làm vậy?”
“Vì đây là di nguyện của cụ Dahlia.” Genji trả lời, trên mặt vẫn là điệu cười méo mó.
Tuân theo nguyện vọng tha thiết của Dahlia, tin tưởng di ngôn của Mẹ cho mãi về sau.
“‘Sau khi tôi chết, hãy bảo quản, cất giữ tôi bằng cách nào đấy, và cùng chia sẻ tôi vào đêm giỗ hằng năm’. Đây là mệnh lệnh mà cụ Dahlia giao cho cụ Genyo. Việc chọn ngày giỗ là 24/9, trùng với sinh nhật, cũng do cụ quyết định.”
Không kìm được, tôi kêu lên kinh hãi, “Lại tự sát à?”
“Không, không phải.” Genji lắc đầu. “Tự sát là cấm kị lớn nhất của nhà Urado chúng tôi.”
“Thế ốm chết à? Dự đoán được ngày chính xác luôn hả?”
“Cũng không.” Genji lại lắc đầu. “Cụ không thể ốm chết được.”
“Tóm lại...” Tôi bối rối nhìn vào khoảng không.
Genji bình thản giải đáp, “Bị sát hại, bị cả nhà giết chết.”
“Hả?”
“Tất cả mọi người trong nhà, trên giường phòng ngủ tầng hai...”
“Sao lại thế...”
“Có cụ Genyo, ông Takuzo, bà Sakura, mẹ Kanna, dì Mii, dì Mowa. Hồi ấy dì Mowa mới có tám tuổi.”
“Sao có thể.”
“Đây cũng là mệnh lệnh của cụ Dahlia. Không ai dám phản kháng.”
“Hả...”
“Sát hại xong, vấn đề lớn nhất là cách bảo quản.” Mặc kệ tôi đang run bần bật, Genji thủng thẳng nói tiếp. “Ba mươi năm trước, rất khó bảo quản thi thể lâu dài chỉ bằng kĩ thuật đông lạnh. Vừa phải che giấu chân tướng vụ việc, vừa phải thảo luận với chuyên gia chế biến thực phẩm. Phương án cuối cùng là dùng muối.”
“Dùng muối?”
“Chính là ngâm muối.” Genji nghiêm mặt. “Khi nồng độ muối vượt quá 10%, gần như mọi vi khuẩn đều không thể sinh sôi. Vi khuẩn là nguyên nhân gây thối rữa. Khống chế vi khuẩn sinh sôi thì về lý thuyết, có thể bảo quản thịt được vài năm, thậm chí vài chục năm.”
Hình như có vụ mơ muối làm từ thế kỉ 19 bây giờ vẫn ăn được. Mơ muối cũng là thực phẩm ngâm muối, nguyên lý giống nhau nhỉ!
“Thi thể xẻ ra xong, các bộ phận được chia thành nhiều phần nhỏ rồi đem ướp. Nội tạng và não cũng đem ướp, máu được thu lại, sấy khô rồi làm thành bột. Xương cũng nghiền thành bột. Tôi không rõ cách thức và trình tự cụ thể, cơ bản là thế. Thành phẩm cho vào vại, cất giữ trong hầm ngầm được xây theo quy chuẩn phù hợp. Về thực đơn tiệc, ngoài việc tưởng nhầm là thịt người cá ra, suy đoán của cậu khá chính xác.”
Bàn tay đang ấn trên ngực lại căng cứng. Nghe xong sự thật khủng khiếp này, tôi vẫn không buồn nôn, chỉ tê liệt lạ lùng.
“Nguyên liệu nấu xúp là thịt Dahlia. Thịt ướp ba mươi năm rồi, nên chẳng ngon lành gì.”
Tôi còn nhớ. Cực kì mặn, hơi tanh, ăn sàn sạn như giấy vụn ngâm nước muối...
“Chất sền sệt phết lên bánh mì, chứa nội tạng nghiền nhỏ.”
Rất mặn, tanh tanh, chẳng ngon chút nào.
“Rượu vang có pha bột nghiền từ máu và xương…”
Mong Dahlia chúc phúc cho chúng ta!
Vị là lạ, không giống rượu vang tôi từng uống, để lại đầu lưỡi cảm giác dinh dính, sàn sạn, tanh tanh.
“À quên, nhân tiện nói luôn, nến đỏ thắp trong tiệc có trộn nha phiến, công thức ưa thích thời còn mồ ma cụ Dahlia. Nó rất có tác dụng với cậu nhỉ, Chuya!”
Mùi hương chua ngọt pha vị đắng gây khó chịu tỏa lan trong bóng tối, mỗi lúc một nồng, như xộc vào lỗ mũi, xuống khí quản, vào phổi, lên thẳng não tôi. Ánh nến lay động cùng thứ mùi này làm tôi mơ màng. Thế nên tối đó, tôi mới...
“Thực đơn tiệc, về nguyên tắc do gia chủ tự tay thực hiện. Cụ Genyo đảm nhiệm đến tận mười tám năm trước, sau đó ba phụ trách, cùng lắm thì Onimaru làm thay. Những người giúp việc khác không được nhúng tay.” Genji dừng lại, chậm rãi liếm môi.
“Hiểu chưa Chuya?” Genji nhìn tôi đang đần mặt ra. “Cậu đã ăn tiệc, ở Nhà Dahlia, trong Đêm Dahlia, dưới sự che chở của Dahlia, được cụ cho phép, được mọi người chúc phúc, và trở thành bạn đồng hành với chúng tôi. Bạn đồng hành khó nghe à? Để diễn đạt kiểu khác nhé. Vì đã ăn thịt cụ Dahlia, cậu trở thành người liên quan tới nhà Urado, hơn nữa còn liên quan ở mức mật thiết nhất. Cậu biết chưa? Cậu hiểu chưa?”
Tôi nghẹn họng, không trả lời được. Chẳng nói “Biết” hay “Không biết,” chẳng bảo “Hiểu” hay “Không hiểu”. Cơn tê liệt kì lạ không những tấn công thể xác, mà còn xâm chiếm tinh thần. Thực tại mơ hồ, thế giới mờ nhạt. Không, không chỉ mơ hồ và mờ nhạt, mà còn bị tước đoạt hoàn toàn. Sương mù dày đặc tuôn trào trong lòng, dâng lên cùng cảm giác này rồi thay đổi màu sắc, từ trắng bệch lạnh lẽo thành đỏ nhạt như máu.
Genji khoác vai tôi, bảo “Lên trên đi”, và dẫn tôi tới tháp. Chúng tôi theo cầu thang men tường để lên tầng hai. Cửa sổ tháp Dahlia treo rèm đỏ thẫm dày dặn. Màu rèm hòa vào màn sương đỏ nhạt ngập tràn lòng tôi. Sương mù sẫm hơn, cuồn cuộn chuyển động như muốn dụ dỗ tôi đặt chân vào vườn cấm. Lên tới phòng ngủ của Dahlia, Genji đưa tôi đến lò sưởi ở vị trí tương ứng với tầng một. Chính giữa phòng đặt chiếc giường có mái che giống phòng Midori Mio, trên giường trải ga nhung đen.
“Chuya, qua đây.” Genji bảo tôi ngồi xuống ghế da màu đen trước lò sưởi, bản thân buông mình xuống chiếc ghế bên bàn tròn nhỏ, chân bắt tréo. Bàn trải khăn đỏ thẫm cùng màu với rèm cửa.
“Cậu vẫn ổn chứ?” Genji hỏi tôi, “Vết rết cắn thế nào rồi? Còn đau không?”
Tôi rời mắt khỏi mặt anh, lắc đầu, chẳng nói “Đau” hay “Không đau.” Vết cắn vẫn nhức nhối, lòng tôi lại chẳng thấy gì. Tôi trịnh trọng lắc đầu lần nữa, muốn xua đuổi cơn tê liệt kì quái trong người đi, lấy lại khả năng suy nghĩ bình thường.
“Tôi hiểu, sự thật này là cú sốc lớn với cậu, nhưng…” Genji ngập ngừng. “Tôi sẽ không bào chữa. Tóm lại, cậu bằng lòng nghe tôi kể tiếp chứ, Chuya?”
Genji chuyển sang gia phả nhà anh. Một gia phả điên loạn như ác mộng, ít nhất là đối với người có thế giới quan bình thường, ít nhất là đối với tôi.
“Genyo, chủ nhân đời đầu của Ám Hắc Quán, đúng là rất may mắn và có tài năng trời phú. Tuổi còn trẻ đã lập nghiệp thành công, tích lũy được tài sản kếch sù, liên tục khuếch trương cơ đồ. Ba mươi tuổi mở tập đoàn Phượng Hoàng. Đáng lẽ phải có rất nhiều sách vở tài liệu viết về cụ, trên thực tế lại không có ghi chép nào. Bản thân cụ cương quyết từ chối viết hồi kí, tự truyện. Điều này cũng phản ánh sự cực đoan và lập dị của cụ.
“Thông thường, người thành công ít nhiều đều muốn lưu giữ trải nghiệm đời mình, truy ngược gia phả và tô vẽ đủ thứ. Genyo thì trái lại, không hé lộ dĩ vãng, không đề cập tới song thân hay lai lịch. Có thể nói, gia tộc Urado trước thời Genyo vẫn là bí ẩn, chỉ toàn thông tin rời rạc không rõ thực hư.”
“Nào là, gia tộc Urado vốn ở Hizen, Nagasaki, từng có nhiều học giả tài ba nghiên cứu Hà Lan học
[1]
, nhờ đó, cụ Genyo cũng học Hà Lan học, tiếp xúc với nước ngoài từ rất sớm. Nào là, Urado thuộc tầng lớp samurai, sở hữu trang ấp ở Kumamoto. Có tin đồn nhà Urado làm ngư nghiệp, hoặc ông nội Genyo là bác sĩ Tây y, nên có quan hệ bí mật với các hiệu buôn dược liệu ở Osaka. Lại có tin đồn thật ra cụ Genyo là kẻ lang bạt, vô gia cư, Urado là họ tự đặt. Còn nhiều thuyết khác nữa, hợp lý hoang đường đủ cả, ai gặng hỏi thật giả thế nào, cụ đều hờ hững. Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu các thông tin rời rạc ‘trước thời Genyo’, tôi phát hiện hai chi tiết có thể là thật.”
Genji dừng lại nhìn tôi. Nhận ra ánh mắt anh, tôi ngẩng đầu lên, nhưng không có thêm phản ứng nào.
“Một, Urado là gia tộc đoản mệnh”
“Đoản mệnh...” Tôi thốt khẽ. “Thật sao?”
“Ừ. Chỉ tính thế hệ gần đây, Genyo có nhiều anh chị em, thảy đều qua đời rất sớm, không ai sống đến tứ tuần. Người chết yểu, người chết khi ngoài hai mươi, ba mươi, phần lớn là vì đau ốm. Cha mẹ cụ mất sớm, cũng do đau ốm, không kịp nhìn thấy con trai công toại danh thành. Tin đồn gia tộc Urado có khuynh hướng chết trẻ, tôi nghĩ là thật.”
“Genyo sống đến 92 tuổi mà.”
“Đúng!” Genji gật đầu thật mạnh. “Genyo là ngoại lệ đầu tiên trong gia tộc. Có thể nói, cụ khắc phục được dòng máu đoản mệnh. Người góp công lớn ở đây không phải ai khác mà chính là Dahlia. Việc này để lát nữa nói. Trong các thông tin về nhà Urado trước thời Genyo, còn một chi tiết có khả năng là thật. Đó là nhà Urado theo đạo Cơ Đốc do Javier Dòng Tên truyền vào nước ta, và bỏ đạo vào một thời điểm nào đó trong thế kỉ 19.”
“Đạo Cơ Đốc...” Không kìm được, tôi lại kêu khẽ. “Thật sao?”
“Tôi nghĩ là thật. Ba và chú Seijun cũng tán thành nhận định này.”
“Thời xưa đạo Cơ Đốc bị đàn áp cực kì khủng khiếp mà
[2]
?”
“Đúng vậy. Dưới áp lực của chính quyền, có người tử vì đạo, có người bỏ hẳn đạo, lại có người ngoài mặt cải đạo mà thực chất vẫn lén lút tu. Tổ tiên nhà Urado thì sao?” Genji thở dài, đổi bên vắt chân. “Phần lớn những điều tôi sắp kể chỉ là suy đoán cá nhân. Tổ tiên nhà Urado vốn cực kì sùng tín, sau bị chỉ điểm, bị tra tấn dã man. Họ không tử vì đạo, mà thay đổi tín ngưỡng. Thay đổi xong, không lén lút tu tiếp mà cũng không từ bỏ nổi tín ngưỡng cũ...”
“Rồi sao?”
“Phản tác dụng.” Genji nhấn mạnh. “Họ vốn sùng tín, nên phản tác dụng.”
Tôi chưa hiểu ý Genji, chỉ chớp mắt nhìn anh.
“Nhắc lại lần nữa, đây là suy đoán của tôi dựa trên tình hình gia tộc Urado sau thời Genyo. Là suy đoán, nhưng chắc không xa sự thật mấy đâu.” Genji nhấn mạnh lần nữa, “Vì quay lưng với đức tin, họ nảy sinh mặc cảm tội lỗi, mình phản Chúa rồi, Chúa sẽ không tha thứ, Chúa sẽ bỏ rơi, à không, Chúa đã bỏ rơi mình... Có lẽ nhìn thấu sự phản bội này từ trước, nên Chúa bỏ rơi mình từ lâu rồi. Bằng không, tại sao gia tộc mình lại đoản mệnh nhiều đến thế? Vậy thì... mình cứ phản bội nữa đi. Chúa không tha thứ, Chúa bỏ rơi. Mình hãy thừa nhận sự thật này, chấp nhận số phận và bước lên con đường phản bội, kiếm tìm thiên đường trong bóng tối chứ không phải trong ánh sáng... Thế là, một loại tôn giáo khác nảy mầm, phát triển, kế thừa.”
Trong bóng tối, chứ không phải trong ánh sáng. Hình ảnh trực quan chính là Ám Hắc Quán đây nhỉ!
“Genji...” Tôi cân nhắc, mãi mới tìm được từ ngữ thích hợp. “Kiểu như ‘tôn sùng ác quỷ’ ư?”
“Phải.” Genji nhíu mày. “Tín đồ bị bỏ rơi trở nên say mê bóng tối, tiếp nạp thêm ảnh hưởng của tôn giáo truyền thống, phong tục tín ngưỡng, mê tín dị đoan... cuối cùng tạo nên tâm lý tôn sùng ác quỷ.”
“Ý anh là Genyo đi theo đức tin mới này?”
“Không.” Genji phủ nhận. “Vừa rồi đều là giả thuyết, là một khả năng thôi. Trên thực tế, không có dấu hiệu nào chứng tỏ Genyo coi đó là một tôn giáo cụ thể để tin theo.”
“Vậy sao?”
“Chỉ có điều, về phương diện tinh thần, người nhà Urado nói chung và Genyo nói riêng đã tiềm ẩn khuynh hướng này ngay từ đầu. Đây là điều tôi muốn nói.”
“Khuynh hướng tinh thần. Ra vậy.” Tuy còn băn khoăn, tôi vẫn gật đầu.
Genji ngồi thẳng dậy, nói tiếp, “Các chi tiết sau đây thì không phải giả thuyết hay suy đoán, mà phù hợp với thực tế diễn ra sau thời Genyo. Cụ kết hôn lần đầu năm 26 tuổi. Cô dâu kém cụ bảy tuổi, tên là Suzu.”
Giờ tôi mới biết chuyện này. Hóa ra Dahlia là vợ hai?
“Không lâu sau, họ sinh hạ được hai đứa con. Con đầu lòng là trai, tên Genta. Con thứ hai là gái, tên Yuri. Genyo trở thành người chồng người cha yêu thương vợ con hết mực.”
“Dù vậy, sau này họ vẫn ly hôn?” Tôi nói leo.
Genji buồn bã lắc đầu, “Không, họ chia lìa vì cái chết.”
“Cái chết...”
“Gia đình nhỏ tồn tại chưa đầy mười năm. Suzu, Genta và Yuri mắc chung một bệnh dịch, qua đời gần như cùng lúc.”
“Chà...” Tôi khẽ nói, không biết nên phản ứng thế nào.
Genji không dừng lại, “Một lần nữa, Genyo cảm nhận sâu sắc số phận đoản mệnh của gia tộc mình. Hai đứa con kế thừa dòng máu Urado thì chết yểu. Bạn đời với người nhà Urado là Suzu cũng không tránh được kiếp nạn. Genyo hẳn là đau đớn lắm. Sự nghiệp thuận buồm xuôi gió, liên tục tích lũy của cải, xây dựng địa vị xã hội. Trong khi đó, chỉ chớp mắt đã mất sạch vợ con. Đó là lúc cụ trở nên oán hận Chúa trời tàn nhẫn đã bỏ rơi mình.”
Giọng Genji không khác ban nãy là bao, nhưng nghe thảm thiết lạ lùng. Tôi vẫn tê liệt, không lý giải nổi tâm trạng của mình, chỉ biết nhìn đăm đăm vào môi Genji.
“Năm thứ ba sau khi vợ mất, để xoa dịu vết thương lòng, Genyo rời Nhật, chu du châu Âu. Năm đó cụ 37 tuổi, tức là cách đây bảy mươi ba năm...” Genji ngước mắt lên trên, “Cụ gặp Dahlia. Dahlia sinh ra ở một thị trấn nhỏ ngoại ô Florence, gia đình và thân thế không rõ. Khi gặp Genyo, Dahlia 23 tuổi, đã rời quê nhà và sinh sống ở Venice một mình. Thương gia sầu muộn phương Đông và phù thủy xinh đẹp phương Tây gặp gỡ, yêu đương và nên duyên thế nào, giờ đây không ai biết rõ. Tuy nhiên, có một giai thoại nhỏ vẫn được lưu truyền.”
Genji không nhìn tôi đang ngồi đối diện với anh qua bàn tròn, mà nhìn ra sau lưng tôi. Tôi ngoái đầu nhìn theo. Trên bức tường phía Bắc treo hai chiếc mặt nạ với nụ cười quái đản, cạnh đấy là một giá kê.
Thoạt nhìn đã biết là mặt nạ phương Tây. Chiếc bên phải tô trắng từ trán tới mũi, tô xám từ miệng đến cằm. Chiếc bên trái màu vàng đồng sẫm. Hai mặt nạ đều khoét mắt hình quả chanh, mũi đục lỗ thở, rõ ràng được chế tác để đeo chứ không phải treo làm cảnh. Tạo hình đẹp đẽ tinh tế, gương mặt đứng đắn nhưng lại toát ra thần thái ác quỷ, nụ cười mỉm lạnh lùng gây bứt rứt...
“Mặt nạ gì vậy?” Tôi hỏi.
Genji nhìn tôi, “Mặt nạ dùng trong lễ hội hóa trang ở Venice.”
“Lễ hội hóa trang. Carnival à?”
“Ừ, đạo Cơ Đốc gọi bốn mươi ngày trước Lễ Phục sinh là bốn tuần chay, mấy ngày trước đó chính là carnival. Họ tranh thủ ăn uống vui chơi để chuẩn bị bước vào bốn tuần sống kiêng khem.”
“Ồ.”
“Mặt nạ vốn là đạo cụ được sử dụng trong hoạt động tế lễ truyền thống, nước nào cũng vậy. Còn ở Cộng hòa Venice thời Trung cổ, nó được dùng để che giấu thân phận khi ăn chơi, dần dần, mặt nạ gắn với các hành vi vô đạo đức, suy đồi, thậm chí phạm tội. Vào giai đoạn điên cuồng nhất, carnival kéo dài tới mấy tháng liền. Người mặc đồ hóa trang và đeo mặt nạ chen chúc chật kín đường phố. Khi Genyo đến Venice, lễ hội carnival không còn rầm rộ như thế nữa, nhưng đến ngày đến tháng, các hoạt động và vũ hội quy mô nhỏ vẫn diễn ra đây đó, ai tham gia thì đeo mặt nạ yêu thích, che giấu diện mạo thật...”
“Vậy...” Tôi lại nhìn lên tường. “Hai chiếc mặt nạ kia là từ thời ấy à?”
“Genyo đi vũ hội và gặp Dahlia ở đó. Kia chính là mặt nạ hai cụ đeo lúc ấy, rồi đem về làm kỉ niệm. Nghe lãng mạn quá nhỉ.”
Genji nở nụ cười mỉm kì lạ, cứ như đang bắt chước biểu cảm trên mặt nạ.
“Hồi Dahlia còn sống, Ám Hắc Quán hay tổ chức vũ hội hóa trang lắm. Tập đoàn Phượng Hoàng và bạn bè các giới vẫn vào núi này tụ tập...”
Phòng giờ bỏ không, chứ hồi xưa là phòng khiêu vũ kia đấy
. Khi tôi phát hiện ra cửa ngầm, đến phòng khiêu vũ ở tầng một Nhà Đông, gặp Midori Mio lần đầu, một trong hai cô bé đã giới thiệu.
Bao nhiêu người được mời tới tiệc tùng. Ba mẹ cũng từng khiêu vũ tại đây.
Vậy là sau khi Dahlia mất, vũ hội vẫn được tổ chức bình thường một thời gian. Có phải là vũ hội hóa trang không? Ba mẹ của cặp song sinh đã đeo mặt nạ kì quái kia...
“Tóm lại, hai người gặp gỡ rồi chìm trong bể tình.” Genji kể tiếp. “Ở Venice được mấy tháng, họ quyết định chung sống với nhau. Ngay từ đầu Dahlia đã muốn đi Nhật. Không hiểu vì sao, cụ luôn không thích môi trường ở Ý, luôn cảm thấy mình phải sinh ra ở nơi khác, nên đi nơi khác. Có lẽ do cụ là phù thủy.”
“Phù thủy.” Tôi lẩm nhẩm, chầm chậm lắc đầu.
“Trong chuyến du hành sau đó, dọc đường xảy ra một sự kiện mang tính quyết định. Genyo đột nhiên sốt cao, bệnh nặng liệt giường. Mời bác sĩ đến khám cũng không cứu chữa được. Genyo quanh quẩn vài ngày ở ranh giới sống-chết, bắt đầu cho rằng số phận đoản mệnh nhà Urado lại ứng nghiệm, thôi đành bỏ mạng nơi đất khách quê người...” Nụ cười biến khỏi mặt Genji. “Thì Dahlia đã cứu cụ.”
“Cứu thế nào?”
“Cho Genyo uống máu mình.” Genji nghiêm mặt. “Vượt qua mọi lý giải y học, Genyo thoát chết.”
“Sao có thể...” Tôi lại lắc đầu. “Chẳng qua là...”
Tôi muốn nói trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng Genji chen ngang.
“Máu Dahlia là dòng máu bất tử.” Lời Genji nói như lời nguyền của một tín đồ dị giáo cuồng nhiệt, hàm chứa một sức mạnh khó gọi tên, vang vọng trong cái đầu tê liệt lạ lùng của tôi. “Người tiếp nhận máu Dahlia có thể trường sinh. Genyo đã uống máu nên không chết vì bệnh tật.”
“Không chết vì bệnh tật...”
“Nghe nói Dahlia có được năng lực đó là nhờ lập giao kèo với Vua Hắc Ám. Năm 14 tuổi, cụ đã thề nguyện với Vua Hắc Ám, và có được sự bất tử.”
“Vua Hắc Ám…”
“Cụ coi bản thân là phù thủy, nên vẫn thuộc phạm trù ma quỷ nhỉ, nhưng lại không hoàn toàn tương đồng với khái niệm ma quỷ trong đạo Cơ Đốc.”
“Giao kèo gì vậy?”
“Yêu bóng tối hơn ánh sáng.”
“À...”
“Không phải khế ước bán rẻ linh hồn hoặc sa ngã gì cả. Chỉ cần thề yêu bóng tối hơn ánh sáng, là nhận được sự bất tử của Vua Hắc Ám. Cho nên tạm thời, chúng ta có thể gọi Dahlia là phù thủy. Không phải lời thề phản Chúa, nhưng chẳng nghi ngờ gì nữa, đặc tính phù thủy tiềm ẩn trong Dahlia cộng hưởng mãnh liệt với khuynh hướng bị Chúa bỏ rơi của Genyo, tác động qua lại lẫn nhau.”
“Genji.” Tôi thở dồn, “Anh thực sự tin câu chuyện này sao?”
“Tôi không muốn tin, nhưng không thể không tin. Chẳng phải tôi đã từng nói vậy sao?”
“Đúng. Nhưng mà...”
“Tất nhiên cậu sẽ băn khoăn nghi ngờ. Được rồi, cậu nghe tôi kể hết đã!” Trấn an tôi xong, Genji tiếp tục, “Người được Dahlia tiếp máu sẽ bất tử y như cụ, đồng thời phải lập lời thề tương tự. Genyo bèn thề sẽ yêu bóng tối hơn ánh sáng. Hai người còn thề từ nay trở đi sẽ sống bất tử cùng nhau. Genyo về Nhật, sống trong biệt thự ở thành phố Kumamoto, không lâu sau chính thức đón Dahlia về làm vợ. Năm đó Genyo 40 tuổi, Dahlia 25 tuổi. Mọi người rất ngạc nhiên và thắc mắc trước hành động tái hôn với gái Tây này. Không ít người phản đối kịch liệt. Genyo phớt lờ mọi dị nghị, ai phản đối cụ tuyệt giao. Một thời gian sau, cụ bắt tay xây dựng Ám Hắc Quán, từ trung tâm là cái hồ, cụ mua lại toàn bộ đất đai rừng núi xung quanh, không tiếc sức người sức của cho dinh thự trên đảo.”
“Tại sao lại chọn nơi đây?” Tôi chen ngang, “Hoang vu hẻo lánh nhường này?”
“Tất nhiên là có lý do. Chính là truyền thuyết người cá trong hồ Thấy Bóng.”
“Người cá... À!”
“Trước đó, Genyo có biết truyền thuyết độc đáo về người cá trong hồ, và để ý mãi, nhất là khi luôn canh cánh số phận đoản mệnh của gia tộc. Ở Nhật, nhắc đến người cá là nhắc đến trường sinh bất lão. Tập đoàn Phượng Hoàng gia nhập ngành y dược từ rất sớm, có thể nói chính là do ước muốn bào chế thuốc tiên, giúp gia tộc mình thoát khỏi số phận chết sớm của cụ. Nghe Genyo kể truyền thuyết người cá, Dahlia thích thú ra mặt, còn coi đảo nhỏ giữa hồ là thánh địa trường sinh, mong muốn xây nhà và sống ở đây. Genyo liền thực hiện nguyện vọng của người vợ trẻ.”
“Genji này.” Tôi lại ngắt lời. “Nếu chuyện anh vừa kể là thật, thì Dahlia bất tử rồi đấy thôi! Genyo nhận máu xong cũng thế, cần gì người cá với thánh địa nữa.”
“Quả vậy, họ không cho rằng người cá thực sự tồn tại đâu, gọi hòn đảo là thánh địa trường sinh chỉ đơn thuần là liệu pháp tâm lý. Tương tự, coi việc nước hồ Thấy Bóng nhuộm máu người cá là điềm lành với nhà Urado cũng là một kiểu mê tín, phù phép bằng ngôn từ thôi.”
“Kể cả thế...”
Genji cắt ngang, ánh mắt anh rất nghiêm túc, “Bởi vì, sự bất tử của Dahlia vẫn chưa trọn vẹn.”
“Bất tử chưa trọn vẹn?”
Tự dưng khó thở, tôi ngửa mặt lên trần, cố sức hô hấp thật sâu. Cơn tê liệt lan rộng đang chuyển sang dính dấp kì lạ. Màn sương mù màu đỏ dày đặc hơn, biến thành chất lỏng sền sệt, từ từ vẽ ra những gợn sóng ngoằn ngoèo khắp thể xác và tinh thần.
Đó chính là tình trạng của tôi lúc này.
“Bất tử chia làm ba giai đoạn. Giai đoạn một là bất tử đơn giản, già nua bệnh tật đến đâu cũng không chết, chỉ chết vì tai nạn nặng hoặc bị giết mà thôi. Giai đoạn một có thể truyền cho nhiều người khác thông qua máu thịt. Người nhận máu trực tiếp từ Dahlia như Genyo, hoặc kế thừa huyết thống của Dahlia như con cháu cụ, theo nguyên tắc đều đạt được bất tử giai đoạn một.
“Giai đoạn hai cao hơn, chết vì tai nạn vẫn hồi sinh. Hồi sinh cũng chia làm nhiều mức độ khác nhau, sống lại khi mới chết cũng có, mà đã ra tro vẫn sống lại cũng có.”
Cái quái gì đây? Tôi tự vấn. Khái niệm ở đâu ra mà kì quặc vậy? Bình tĩnh cân nhắc, tất cả đều là luận điệu nhảm nhí vô nghĩa sản sinh từ nội tâm điên cuồng, bắt nguồn từ ảo tưởng lệch lạc của một “phù thủy” phương Tây, không thể tồn tại trong hiện thực.
Thế mà Genji cứ điềm nhiên kể ra, không hề ngại ngùng, không tự xét lại hay mập mờ giấu giếm. Tôi cảm thấy câu “Tôi không muốn tin, nhưng không thể không tin” của anh chẳng thật lòng chút nào. Trước mắt tôi rõ ràng là gương mặt mê man của một tín đồ cuồng nhiệt tin tưởng tuyệt đối vào tín ngưỡng mình phụng thờ.
“Tiếp đến là giai đoạn ba...” Genji nói với giọng “giảng đạo” mà cụ bà quá cố nhà anh để lại. “Không cần đi qua giai đoạn hai, có thể nhảy cóc sang giai đoạn này luôn. Ngoài bất tử, người đến giai đoạn ba còn bất lão. Không già, không chết, trường sinh bất lão đúng nghĩa đen...”
“Từ từ đã.” Tôi ngắt lời anh. “Người bất tử, trừ khi gặp tai nạn hoặc bị giết thì đều không chết. Tự sát thì sao? Không tai nạn, cũng không bị giết, thế mà tự sát thì vẫn chết à?”
“Cho nên Chuya à, ở đây tự sát là cấm kị.” Genji cau rúm mày.
“Sakura và Takuzo đã tự sát đấy thôi?”
“Ừ, đúng, có điều..”
“Nhà Urado không còn là tín đồ Cơ Đốc cuồng nhiệt mà vẫn giữ giới luật cấm tự sát à?”
“Không thể phủ nhận hoàn toàn yếu tố này. Nhưng không chỉ có vậy, chính cụ Dahlia cũng coi tự sát là cấm kị lớn nhất.”
“Tại sao?”
“Nói đơn giản, ham muốn bất tử bắt nguồn từ ham muốn được sống. Hành vi kết thúc sự sống bằng chính sức mình bị coi là trọng tội không thể dung tha trong giao kèo với Vua Hắc Ám.”
“Ừ, nhưng mà...”
“Người phạm trọng tội phải nhận sự trừng phạt nặng nề. Đây là điều tất nhiên.”
“Trừng phạt nặng nề thế nào...”
Genji không trả lời câu hỏi của tôi, mà kể tiếp, “Điều Dahlia muốn chính là vĩnh hằng, là sự sống hòa trộn với vĩnh hằng ở một tầm cao mới. Vì thế phải tuyệt đối tuân thủ lời thề với Vua Hắc Ám, nâng sự bất tử của mình lên giai đoạn hai, giai đoạn ba. Yêu bóng tối hơn ánh sáng mãi mãi. Cho nên khi Nhà Bắc bị thiêu rụi, ba tôi gọi kì tích tôi chết đi rồi sống lại là thành tựu, chính là với ý này. Tôi ăn thịt và uống máu Dahlia trong bữa tiệc, nghi thức thì bình thường, nhưng kết quả đã tới giai đoạn hai như kì vọng, chưa kể trên cổ tay còn lưu Dấu Thánh.”
“Ra vậy.” Tôi ngước mắt nhìn anh. “Cho nên Genji là ngoại lệ ư?”
“Hả?”
“Hôm qua Midori Mio nói thế. Hai đứa bảo, tuy chưa thành công, nhưng Genji là ngoại lệ.”
Genji gật đầu, “Ừ. Thành công ở đây chính là giai đoạn ba, không già, không chết. Tôi thực hiện được giai đoạn hai, sống lại khi vừa chết, nên là ngoại lệ..”
“À, ra thế.” Tôi bỗng rùng mình, “Midori Mio còn nói, Genyo là ngoại lệ, tuy ngoại lệ nhưng vẫn thất bại.”
“Vậy sao?”
“Thế là thế nào? Thành công và thất bại ở đây nghĩa là gì?”
Genji không trả lời ngay.
Tôi lại hỏi, “Hai đứa nói ba anh có thể cũng thất bại, nghĩa là sao?”
“Nghĩa là...” Genji chậm rãi vuốt chiếc cằm nhọn. “Gần đây ba già hẳn đi, lão hóa rất nhanh. Chắc cậu cũng thấy đôi mắt trắng đục của ba rồi. Đục thủy tinh thể nhanh lại là biểu hiện rõ nhất của người già.”
À đúng, Genji từng nói, với gia đình anh, lão hóa nhanh không phải dấu hiệu tốt đẹp.
“Gần đây ba già yếu rõ rệt, chứng tỏ không thể đạt được sự bất lão đáng mơ ước. Tuy không chết, nhưng vẫn già, không đến được giai đoạn ba hằng mong mỏi. Chưa kể, thấy mình già đi, lại còn chột dạ liệu có duy trì được sự bất tử vốn có. Đó chính là thất bại. Thất bại của ba và thất bại của Genyo mà cậu vừa hỏi là hai khái niệm khác nhau. Midori Mio đã nhầm lẫn nên mới dùng chung một từ để mô tả.”
Tôi lặng lẽ gật đầu, nuốt nước bọt. Thật sao? Vậy thất bại của Genyo là gì? Khác ở chỗ nào?
Genji không quan tâm đến những băn khoăn liên tục lan rộng trong lòng tôi.
“Cậu biết hầu hết tình hình rồi đấy!” Nụ cười méo mó lại rịn ra khóe miệng anh. “Như tôi đã kể, Dahlia muốn đạt đến mức độ cao hơn, đó là trẻ mãi không già. Genyo yêu vợ nên cũng hi vọng tương tự. Họ không biết bao giờ sẽ thành công, nhưng đã sở hữu máu bất tử, họ không ngại đợi chờ. Họ tin chắc có ngày nguyện vọng thành hiện thực, và chọn nơi này làm địa điểm để phấn đấu cho mục tiêu.”