Đ
úng lúc cô ra khỏi xe thì trời đổ mưa sầm sập. Phòng tranh nằm trên phố Chalmersgaten, song song với trục phố thương mại Avenyn, nhưng sau nửa tiếng lòng vòng không tìm được chỗ đậu, Erica đành đầu hàng, lái vào bãi đỗ xe của khách sạn Henden. Mặc dù hai địa điểm không cách xa lắm nhưng dưới cơn mưa như trút, đoạn đường như dài tới chục cây số. Lại thêm phí đỗ xe lên tới mười hai kronor một giờ khiến tâm trạng của cô giống như bị nhúng nước. Cô cũng không mang theo ô, mái tóc quăn chẳng mấy chốc sẽ trông gớm ghiếc như đi làm đầu bị hỏng.
Cô vội vàng băng qua phố Avenyn, mau chóng tránh được chiếc tàu điện số 4 lao ầm ầm về hướng Molndal. Sau khi đi qua phố Valand, nơi chuyên diễn ra các bữa tiệc tối thời sinh viên, cô rẽ trái vào phố Chalmersgaten.
Phòng tranh Abstract nằm ở bên tay trái với một cửa sổ mặt tiền lớn. Khi cô bước vào, chuông cửa kêu kính coong và cô nhận ra rằng bên trong rộng hơn nhiều so với cảm giác khi nhìn từ ngoài. Các bức tường, sàn và trần đều sơn màu trắng để không làm người ta sao nhãng khỏi các tác phẩm nghệ thuật treo trên tường.
Cô nhìn thấy một phụ nữ ngồi ở phía cuối phòng tranh, một người Pháp không lẫn vào đâu được. Cả người cô ấy toát lên vẻ thanh lịch, duyên dáng trong khi thảo luận với một khách hàng, vừa nói vừa có những động tác minh họa vô cùng tao nhã.
“Tôi sẽ tới ngay, trong lúc chờ đợi, cô cứ thoải mái tham quan phòng tranh.” Giọng nói mang âm điệu tiếng Pháp của cô nghe rất quyến rũ.
Erica nghe theo, chắp tay sau lưng và chậm rãi đi quanh phòng, ngắm nghía các tác phẩm nghệ thuật. Giống như tên gọi của phòng tranh, tất cả các bức họa ở đây đều được thực hiện theo phong cách trừu tượng
*
. Những hình khối, hình vuông, hình tròn và những hình dạng kỳ dị. Erica ngửa đầu ra phía sau và nheo mắt lại, cô quan sát những bức tranh theo cách các chuyên gia hội họa vẫn thường làm. Nhưng vô ích. Trong mắt cô, chúng vẫn chỉ là những hình khối và hình vuông mà bất cứ đứa trẻ năm tuổi nào cũng có thể vẽ được. Cô chỉ có thể chấp nhận rằng những kiến thức này thật sự vượt quá tầm hiểu biết của mình.
Cô đang đứng xem một bức tranh khổng lồ màu đỏ với những phân khoảng bất thường màu vàng thì nghe thấy tiếng giày cao gót của Francine vang lên phía sau lưng.
“Bức tranh này đúng là một tuyệt tác,” Francine nói.
“Đúng vậy. Tuyệt đẹp. Nhưng thật lòng mà nói, tôi thực sự không hiểu biết lắm về hội họa. Chỉ đủ để thưởng thức những bông hoa diên vĩ của Van Gogh mà thôi.”
Francine mỉm cười. “Cô hẳn là Erica, Henrik vừa gọi điện thông báo là cô đang trên đường tới đây.”
Cô chìa bàn tay được chăm sóc cẩn thận ra. Erica vội vàng chùi bàn tay còn ướt nước mưa của mình trước khi bắt tay Francine.
Người phụ nữ trước mắt cô nhỏ bé, mảnh mai với một vẻ tao nhã rất đặc trưng của phụ nữ Pháp. Với chiều cao một mét bảy mươi lăm chưa kể giày, Erica có cảm giác mình giống như một người khổng lồ.
Tóc Francine đen nhánh, búi lại một cách mềm mại sau gáy. Cô vận một chiếc váy ôm sát màu đen. Việc chọn màu đen hẳn là để tưởng niệm người bạn cũng là đồng nghiệp của cô, vì bình thường cô hẳn là mẫu người thích mang các trang phục gây ấn tượng màu đỏ hay màu vàng. Cách trang điểm của cô rất nhẹ nhàng và phù hợp, có điều vẫn không thể che được những quầng đỏ xung quanh mắt. Erica cũng hy vọng lớp mascara trên lông mi của mình không bị lem, nhưng hẳn là vô ích.
“Chúng ta có lẽ nên ngồi xuống và dùng một ly cà phê. Hôm nay thời tiết khá dịu. Ra phía sau nhé.”
Cô dẫn Erica tới một căn phòng nhỏ phía sau phòng tranh có trang bị đầy đủ tủ lạnh, lò vi sóng và máy pha cà phê. Trong phòng có một chiếc bàn nhỏ, và chỉ đủ chỗ cho hai chiếc ghế. Erica ngồi xuống và ngay lập tức được Francine phục vụ một ly cà phê nóng bốc khói nghi ngút. Bụng dạ cô bắt đầu lên tiếng phản đối sau bằng ấy ly cà phê cô đã tiêu thụ ở chỗ Henrik. Nhưng từ kinh nghiệm bản thân, sau vô số cuộc phỏng vấn tìm tư liệu cho các cuốn sách của mình, cô nhận ra rằng không hiểu sao, mọi người thường dễ dàng trút bầu tâm sự hơn với một ly cà phê trên tay.
“Theo như Henri truyền đạt thì bố mẹ Alex nhờ cô viết điếu văn cho cô ấy?”
“Đúng vậy. Nhưng tôi chỉ gặp Alex vài dịp ngắn ngủi trong suốt hai mươi lăm năm qua, nên tôi cần tìm hiểu rõ hơn về cô ấy trước khi viết.”
“Cô là nhà báo?”
“Không, tôi là người chuyên viết tiểu sử. Tôi làm việc này chỉ vì Birgit và Karl-Erik đã nhờ vả. Bên cạnh đó, tôi cũng là người đầu tiên, hay gần như là đầu tiên phát hiện ra cô ấy. Thế nên, tôi có một thôi thúc kỳ lạ, là tạo ra cho mình một hình ảnh khác về Alex, một hình ảnh lúc cô ấy còn sống. Nghe có vẻ kỳ quặc đúng không?”
“Không, không hề. Tôi thấy cảm kích là cô đã không nề hà gì mà nhận làm việc này, vì bố mẹ của Alex, và vì cô ấy.”
Francine vươn người qua bàn, đặt bàn tay cắt giũa cẩn thận lên tay Erica.
Erica cảm thấy hai má nóng bừng và cố gạt ra khỏi đầu những ý nghĩ về bản thảo cuốn sách mà cô dành phần lớn thời gian ngày hôm qua để hình dung.
“Henri cũng đề nghị tôi trả lời các câu hỏi của cô một cách khách quan nhất,” Francine nói tiếp.
Tiếng Thụy Điển của Francine rất tốt. Cô uốn lưỡi phát âm chứ R một cách mềm mại và gọi tên Henri như trong tiếng Pháp thay vì Henrik.
“Cô và Alex quen nhau ở Paris?”
“Đúng vậy, chúng tôi cùng theo học ngành mỹ thuật. Quen nhau từ những ngày đầu tiên tới trường. Cô ấy có vẻ bơ vơ, tôi cũng vậy. Và thế là mọi chuyện bắt đầu.”
“Vậy hai người đã quen nhau bao nhiêu năm rồi?”
“Xem nào, Henri và Alex kỷ niệm mười lăm năm ngày cưới mùa thu năm ngoái… thế là khoảng mười bảy năm. Trong đó có mười lăm năm chúng tôi cùng điều hành phòng tranh này.”
Cô dừng lại châm một điếu thuốc trước sự ngỡ ngàng của Erica. Không hiểu vì sao Erica không thể tưởng tượng nổi một người như Francine lại hút thuốc. Bàn tay của người phụ nữ Pháp hơi run rẩy khi châm thuốc rồi cô hít một hơi dài, trong khi mắt vẫn không rời khỏi Erica.
“Cô không nghi ngờ gì về việc cô ấy đã đi đâu sao? Cô ấy hẳn ở đó khoảng một tuần trước khi được phát hiện,” Erica hỏi và đột nhiên phát hiện ra mình đã quên không hỏi Henrik câu này.
“Tôi biết cô sẽ thấy lạ. Nhưng không, tôi không hề nghi ngờ gì cả, Alex…” Nói tới đây, cô có vẻ do dự trước khi tiếp tục. “Alex vẫn luôn làm việc theo ý mình. Nhiều lúc tôi cũng bực mình nhưng rồi theo thời gian, tôi cũng quen dần. Đây không phải là lần đầu tiên cô ấy biến mất. Rồi một ngày, cô ấy trở lại như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Vả lại, lúc tôi sinh con chẳng hạn, cô ấy lại là người làm hết mọi việc, một mình quản lý phòng tranh. Thế nên, tôi vẫn luôn nghĩ, mọi chuyện hẳn giống như lần trước. Rằng cô ấy sẽ lại xuất hiện, mở cửa bước vào. Nhưng lần này thì tôi biết, cô ấy sẽ không bao giờ quay trở lại nữa.” Nói tới đây, nước mắt của Francine chực trào ra.
“Vâng, cô ấy sẽ không bao giờ quay trở lại nữa.” Erica cúi xuống nhìn vào ly cà phê của mình, tạo điều kiện cho Francine kín đáo lau nước mắt. “Henrik phản ứng như thế nào mỗi khi Alex đột nhiên biến mất?”
“Cô đã gặp anh ấy rồi mà. Trong mắt anh ấy, Alex không bao giờ sai. Anh ấy đã dành trọn mười lăm năm tôn thờ Alex. Henri đáng thương.”
“Vì sao Henrik lại đáng thương?”
“Alex không yêu anh ấy. Sớm hay muộn anh ấy cũng buộc phải thừa nhận điều đó.”
Francine dụi tàn thuốc và châm một điếu mới.
“Hai người hẳn hiểu rất rõ nhau sau ngần ấy năm bằng hữu?”
“Tôi không nghĩ trên đời này có người thực sự hiểu được Alex. Thế nhưng có lẽ tôi còn hiểu rõ cô ấy hơn Henri. Anh ấy luôn từ chối gỡ bỏ lăng kính màu hồng để nhìn vào sự thật.”
“Trong lúc trò chuyện với tôi, Henrik có ám chỉ rằng Alex vẫn luôn che giấu một điều gì đó trong cuộc hôn nhân của họ. Cô có nghĩ thế không? Nếu đúng, thì bí mật ấy là gì?”
“Thật là một quan sát nhạy bén, không giống với Henri. Có vẻ tôi đã đánh giá quá thấp anh ấy.” Francine nhướng mày vẻ ngạc nhiên rồi nói tiếp. “Đối với câu hỏi đầu tiên của cô, câu trả lời là có. Tôi vẫn biết là cô ấy luôn mang một gánh nặng nào đó. Đối với câu hỏi thứ hai của cô, câu trả lời là không. Tôi không biết tí gì về bí mật ấy cả. Bất chấp tình bạn lâu năm của chúng tôi, có những chủ đề mà khi Alex ra hiệu không được đề cập tới hay đi xa hơn thì tôi sẽ chấp nhận và dừng lại. Nhưng Henri thì không. Sớm hay muộn điều đó cũng khiến anh ấy bị tổn thương. Mà có lẽ sớm thôi.”
“Ý cô là gì?”
Francine do dự một lát. “Họ sẽ tiến hành khám nghiệm tử thi đúng không?”
Câu hỏi này khiến Erica sửng sốt.
“Đúng thế, người ta vẫn luôn tiến hành khám nghiệm tử thi đối với các vụ tự sát. Sao cô lại hỏi thế?”
“Bởi vì tôi biết điều tôi sắp nói với cô sớm muộn cũng bị người ta phát hiện. Nhưng dù sao lương tâm tôi cũng nhẹ bớt.”
Cô cẩn thận dụi điếu thuốc. Erica nín thở chờ đợi nhưng Francine lại thong thả châm điếu thuốc thứ ba. Những ngón tay cô không có màu vàng xỉn của những người người nghiện thuốc nên bình thường chắc cô không hút liên tục như vậy.
“Cô cũng biết là nửa năm gần đây Alex thường xuyên quay trở về Fjällbacka chứ?”
“Tôi có biết, ở các thị trấn nhỏ, mạng lưới tin đồn vốn rất phong phú. Theo lời đồn, gần như cuối tuần nào cô ấy cũng về đó. Một mình.”
“Cũng không hoàn toàn là một mình.”
Francine lại tỏ ra do dự. Erica phải kiềm chế bản thân để không nhoài qua bàn lay mạnh người phụ nữ kia cho tới khi cô ấy nhả bí mật đang nắm giữ. Cô thực sự nóng ruột.
“Cô ấy đã gặp một người ở đó, một người đàn ông. Thật ra đây không phải lần đầu tiên cô ấy ngoại tình nhưng có điều gì đó mách bảo tôi lần này sẽ khác. Đây là lần đầu tiên trong bằng ấy năm chúng tôi quen biết, cô ấy có vẻ gì đó gần như hài lòng. Và tôi biết là cô ấy sẽ không tự sát. Ai đó đã sát hại cô ấy. Tôi dám chắc là thế.”
“Sao cô có thể chắc chắn như vậy? Ngay cả Henrik còn không dám khẳng định liệu cô ấy có tự sát hay không.”
“Bởi vì cô ấy đang mang thai.”
Câu trả lời của Francine khiến Erica sửng sốt.
“Henrik có biết chuyện này không?”
“Tôi không biết. Dù sao thì cũng không phải là con của anh ấy. Họ đã không còn sống như vợ chồng trong nhiều năm. Mà ngay cả khi có như vậy thì Alex vẫn luôn từ chối có con với Henri. Cho dù anh ấy có van nài thế nào. Không, đứa bé hẳn là con của người đàn ông mới xuất hiện trong cuộc đời cô ấy, cho dù anh ta là ai đi chăng nữa.”
“Cô ấy chưa bao giờ nói anh ta là ai ư?”
“Chưa. Giờ thì cô biết đấy, cô ấy rất tiết kiệm sự tin tưởng của mình đối với người khác. Tôi phải thừa nhận rằng tôi đã vô cùng choáng váng khi nghe cô ấy nói về đứa bé nhưng đó cũng là lý do tôi chắc rằng cô ấy không tự sát. Mặt mũi cô ấy sáng ngời vì hạnh phúc và đã không thể giữ tin vui ấy một mình mà không chia sẻ. Cô ấy rất yêu đứa trẻ đó và sẽ không bao giờ làm gì hại nó chứ đừng nói tới việc lấy đi mạng sống của nó. Đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy một Alexandra hăng hái, vui vẻ trong cuộc sống. Tôi nghĩ tôi cũng sẽ yêu đứa bé đó.” Nói tới đây giọng Francine trở nên buồn bã. “Cô biết không, tôi vẫn luôn có cảm giác là cô ấy muốn đoạn tuyệt với quá khứ. Tôi không biết đó là gì nhưng đôi khi, những nhận xét của cô ấy, khi này, khi khác đã tạo cho tôi ấn tượng ấy.”
Cánh cửa phòng tranh bật mở và họ nghe thấy tiếng ai đó gõ giày trên thảm giũ tuyết. Francine đứng dậy.
“Chắc là khách hàng. Tôi phải ra thôi. Hy vọng đã giúp cô được ít nhiều.”
“Tất nhiên rồi. Tôi vô cùng cảm kích trước sự thẳng thắn và chân thành của cô và Henrik. Cô đã giúp tôi rất nhiều.”
Sau khi hứa với khách hàng sẽ mau chóng quanh lại, Francine tiễn tôi ra cửa. Họ dừng lại trước một bức tranh sơn dầu khổ lớn với một hình vuông trắng trên một cánh đồng màu xanh lam và bắt tay từ biệt.
“Tôi muốn hỏi, chỉ là do hiếu kỳ thôi, một bức tranh như vậy thì có giá là bao nhiêu? Năm nghìn hay mười nghìn?”
Francine mỉm cười. “Khoảng năm mươi nghìn thì đúng hơn.”
Erica khẽ huýt gió. “Cô thấy đấy. Nghệ thuật và rượu vang vẫn là hai lĩnh vực hoàn toàn huyền bí đối với tôi.”
“Còn tôi thì thậm chí một cái danh sách đi chợ cũng không biết viết. Mỗi người một nghề mà.”
Họ cùng bật cười. Erica siết chặt cổ áo khoác vẫn còn ẩm ướt và lao vào cơn mưa.