P
atrik cảm thấy trong lòng nhẹ nhàng phơi phới không có nguyên do, anh nhảy hai bước một trên cầu thang khi tìm tới nhà bà Dagmar Petrén. Nhưng lúc lên được tới nơi, anh không khỏi phải dừng lại lấy hơi, hai tay chống lên đầu gối thở hổn hển. Rõ ràng anh không còn ở tuổi hai mươi nữa. Người phụ nữ ra mở cửa cũng vậy. Anh chưa từng thấy thứ gì nhỏ bé và nhăn nheo như thế kể từ khi mở túi mận khô lần trước. Lưng còng, người cúi lom khom, bà đứng còn chưa tới thắt lưng anh và Patrik e là ngay cả cơn gió nhẹ nhất cũng có thể khiến bà gãy làm đôi. Nhưng đôi mắt ngước nhìn anh lại mang vẻ trong trẻo và đầy cảnh giác của một cô gái trẻ.
“Đừng có đứng đó mà thở hổng hộc, con trai. Vào đây dùng một ly cà phê nào!”
Giọng nói của bà lạ thay cũng rất mạnh mẽ khiến Patrik đột nhiên có cảm giác của một cậu trò nhỏ, ngoan ngoãn đi theo bà vào bên trong. Anh cố lắm mới không cúi gập đầu xuống chào bà một cách kính cẩn và cố gắng nhích từng bước như ốc sên vì sợ sẽ giẫm lên nữ chủ nhân lúc nào không biết. Quang cảnh phía bên trong khiến anh giật mình đứng im tại chỗ. Chưa bao giờ anh nhìn chấy nhiều ông già Noel như thế. Mọi nơi, mọi chỗ. Lớn hay nhỏ, già hay trẻ, tinh nghịch hay cáu kỉnh đủ cả. Anh có cảm giác như đầu óc mình sắp trở nên bấn loạn vì khối lượng tín hiệu cảm giác đầu vào đang ập đến.
“Cậu thấy sao? Rất tuyệt vời đúng không?”
Patrik thật không biết phải nói gì, phải mất một lúc mới lúng búng trả lời.
“Vâng ạ, phải nói là vô cùng tuyệt vời!”
Anh lo lắng nhìn bà Petrén, không biết bà có nhận ra sự bất đồng giữa lời lẽ và giọng nói của mình. Không ngờ bà lại nở một nụ cười tinh quái, hai mắt hấp háy.
“Đừng lo, chàng trai. Ta biết thừa rằng chúng không hợp gu của cậu, nhưng khi già đi, người ta sẽ phải thực hiện một số nghĩa vụ, cậu biết đấy.”
“Nghĩa vụ ạ?”
“Hoặc giả vẻ điên khùng một chút cho thú vị. Hoặc chỉ đơn giản làm một bà già sầu não mà chẳng ai muốn.”
“Vâng, nhưng tại sao lại chọn các ông già Noel?”
Patrik vẫn không tài nào hiểu được. Bà Petrén lại giải thích cho anh cứ như với một đứa trẻ con.
“Thứ nhất là ta chỉ phải bày chúng ra một lần trong năm. Thời gian còn lại có thể giữ ngôi nhà gọn gàng, sạch đẹp. Ưu điểm thứ hai là chúng sẽ thu hút rất nhiều trẻ con tới đây vào dịp Giáng sinh. Với một bà già không có mấy khách khứa như ta, thật là một niềm hoan hỉ khi lũ nhóc xuất hiện và nhấn chuông để được vào xem ông già Noel.”
“Nhưng bà thường trưng chúng trong bao lâu? Giờ đã là giữa tháng Hai rồi.”
“Ta thường bắt đầu bày chúng vào tháng Mười và tháng Tư thì dọn đi. Mà cậu cũng biết, để bày ra và cất đi cũng phải mất từ một tới hai tuần.”
Patrik có thể dễ dàng hình dung ra việc dọn dẹp chúng sẽ mất bao nhiêu thời gian. Anh định làm một phép tính nhẩm trong đầu nhưng hình như não bộ anh vẫn còn chưa phục hồi sau cú sốc ban đầu. Thay vào đó, anh quay sang hỏi thẳng bà Petrén.
“Ở đây, bà có hết thảy bao nhiêu bức tượng?”
Câu trả lời đến ngay lập tức. “Một nghìn bốn trăm bốn mươi ba, à không, xin lỗi, một nghìn bốn trăm bốn mươi hai, vì hôm qua tôi vừa làm vỡ một bức. Mà lại còn là một trong những bức tượng đẹp nhất nữa chứ,” bà Petrén buồn rầu nói.
Nhưng rồi bà ngay lập tức trấn tĩnh lại, hai mắt hấp háy.
Với một sức mạnh khó tin, bà kéo tay áo Patrik và gần như lôi anh vào trong bếp nơi không có lấy một bức tượng ông già Noel nào. Patrik kín đáo vuốt phẳng lại tay áo và có cảm giác rằng nếu bà ấy cao hơn, thì hẳn đã túm tai anh lôi đi.
“Chúng ta sẽ ngồi ở đây. Suốt ngày bị các ông già vây quanh cũng hơi phiền thế nên các ông ấy bị cấm cửa trong bếp.”
Anh ngồi xuống chiếc ghế băng cứng ở trong bếp sau khi mọi lời đề nghị giúp đỡ đều bị từ chối một cách thẳng thừng. Đang nghĩ tới ly cà phê nhạt nhẽo, khó uống, đun bằng ấm kiểu cũ, anh lại lần nữa há hốc miệng ngạc nhiên khi nhìn thấy trên kệ bếp một chiếc máy cà phê đồ sộ, cực kỳ hiện đại bằng inox.
“Cậu muốn uống gì? Cappuccino? Cà phê sữa? Hay espresso ly đúp, có vẻ thứ đó sẽ phù hợp với cậu hơn.”
Patrik lúng túng gật đầu. Bà Petrén rõ ràng vô cùng thích thú trước vẻ mặt vẫn còn ngỡ ngàng của anh.
“Cậu mong đợi gi chứ? Một cái bình lọc cà phê cổ lỗ sĩ từ những năm 1943 với cà phê tự xay ư? Không, không, không phải vì tôi là một bà già lọm khọm nên tôi không thể tận hưởng những thứ tốt đẹp trên đời. Đây là một món quà Giáng sinh của cơn trai tôi cách đây vài năm và nó vẫn luôn chạy tốt. Đôi khi các bà già hàng xóm phải xếp hàng để sang uống cà phê ở nhà tôi đấy.
Bà âu yếm vỗ nhẹ lên chiếc máy cà phê đang rục rịch kêu xì xì khi đánh sữa thành bọt mịn.
Trong lúc cà phê được pha, các loại bánh ngọt tuyệt hảo lần lượt xuất hiện trên bàn trước mặt Patrik. Không phải là một chiếc bánh cuộn hay bánh quy bơ thông thường mà là những chiếc bánh quế tròn, to, bánh nướng xốp nhân nho, bánh bích quy sô cô la ướt và bánh trứng xốp lần lượt hiện ra trước đôi mắt càng lúc càng thêm sững sờ của Patrik. Miệng Patrik bắt đầu chảy nước miếng, chỉ chực trào ra. Bà Petrén cười khúc khích khi nhìn thấy vẻ mặt của anh. Bà ngồi xuống một chiếc ghế Windsor ở phía đối diện và rót cho mỗi người một ly cà phê nóng hổi, thơm ngào ngạt.
“Ta biết là cậu muốn hỏi ta về cô gái ở nhà bên. Ta đã nói chuyện với viên cảnh sát trưởng chỗ cậu và kể hết cho ông ta về những điều ít ỏi mà ta biết được.”
Cố gắng lắm Patrik mới rời sự chú ý khỏi chiếc bánh quế rắc đường mà anh vừa cắn ngập miệng. Anh phải kín đáo dùng lưỡi liếm sạch đường dính trên răng trước khi mở miệng trả lời.
“Vâng, bà Petrén, bà có thể làm ơn nhắc lại những gì đã nói trước đây không ạ? Bà không ngại nếu như tôi bật máy ghi âm chứ?”
Anh ấn nút màu đỏ trên chiếc máy ghi âm và cố nhai nốt chỗ bánh trong miệng trong lúc chờ đợi câu trả lời.
“Dĩ nhiên là được Đó là vào ngày thứ Sáu, 22 tháng Một, vào lúc sáu rưỡi tối. Mà cậu cứ thoải mái, không cần trịnh trọng quá, làm thế khiến tôi cảm thấy già đi.”
“Làm sao bà có thể nhớ rõ thời gian và ngày tháng như thế? Chuyện đã xảy ra từ mấy tuần rồi. ”
Patrik lại tranh thủ cắn thêm một miếng bánh nữa.
“Cậu biết đấy, hôm đó là sinh nhật tôi nên con trai tôi và cà nhà nó đều ở đây. Chúng tôi cùng ăn bánh ngọt và mở quà. Mọi người rời đi ngay trước bản tin sáu giò rưỡi trên kênh 4 và đó chính là lúc tôi nghe thấy những tràng cãi vã khủng khiếp kia. Tồi liền tới bên ô cửa sổ hướng ra phố và ngôi nhà của cô gái kia rồi nhìn thấy cậu ta.”
“Anders?”
“Anders, họa sĩ, đúng thế. Say xỉn không biết trời đất là gì, đứng đó la hét như một thằng điên và nện thình thịch lên cửa. Cuối cùng thì cô ấy cũng để cậu ta vào, và rồi mọi thứ trở nên yên ắng. Mà cũng có thể cậu ta vẫn tiếp tục la hét, nhưng chuyện này thì tôi không biết. Những gì xảy ra bên trong ngôi nhà thì tôi chịu không tài nào đoán được.”
Bà Petrén, thấy chiếc đĩa của Patrik đã hết sạch, liền đẩy khay bánh quế tới trước mặt anh vẻ dụ dỗ. Nhưng thật ra chẳng cần phải mời mọc gì nhiều, Patrik lập tức nhón lấy một chiếc.
“Và bà chắc chắn rằng đó là Anders Nilsson? Không thể nhầm lẫn?”
“Ồ không, tôi nhận ra tên vô lại đó ở bất kỳ đâu. Cậu ta thường tới đây vào bất cứ lúc nào, và nếu không đến đây thì sẽ tụ tập với lũ say trên quảng trường. Tôi thật không hiểu nổi cậu ta có gì liên quan tới Alexandra Wijkner. Cô gái đó phải nói là rất được. Vừa xinh đẹp vừa có giáo dục. Hồi nhỏ cô ấy vẫn thường sang đây ăn bánh và uống nước trái cây. Cô ấy thường ngồi đó, ngay trên chiếc ghế cậu đang ngồi, thường là với một cô bạn gái, con nhà Tore, tên là gì ấy nhỉ…?”
“Erica,” Patrik nhồm nhoàm cái miệng đầy bánh nói và cảm thấy trong lòng khẽ xao động chỉ vì nhắc tới tên cô.
“Erica, đúng vậy. Cũng là một cô bé ngoan, nhưng Alexandra lại có gì đó vô cùng đặc biệt. Cô ấy như có một vầng hào quang tỏa ra xung quanh. Thế rồi không biết có chuyện gì xảy ra… cô ấy không tới nữa và có gặp cũng chẳng thèm chào hỏi. Vài tháng sau thì cả gia đình họ chuyển tới Göteborg và rồi tôi không gặp cô ấy nữa cho tới vài năm gần đây, khi cô ấy bắt đầu quay trở lại đây vào mỗi dịp cuối tuần.”
“Trước đó gia đình Carlgren có từng quay trở lại?”
“Không, không hề. Nhưng họ vẫn giữ gìn ngôi nhà rất tốt. Thợ quét vôi và thợ mộc vẫn thường tới kiểm tra và một tháng hai lần, Vera Nilsson cũng thường xuyên tới dọn dẹp.”
“Và bà thật không biết chuyện gì xảy ra trước khi gia đình Carlgren chuyển tới Göteborg khiến Alex thay đổi? Không xảy ra bất hòa xung đột gì trong gia đình sao?
“Tất nhiên là có rất nhiều lời đồn đại, xưa nay vẫn thế, nhưng tôi không thấy có gì đáng tin cậy. Mặc dù có rất nhiều người ở Fjällbacka này cho rằng họ biết rõ hơn ai hết về những chuyện đã xảy ra với người khác thì cậu cũng nên nhớ rằng không ai có thể biết được những chuyện xảy ra trong bốn bức tường nhà người khác. Đó là lý do tại sao tôi sẽ không đoán mò chuyện thiên hạ. Chẳng để làm gì. Này, hãy ăn một miếng bánh nữa đi, cậu vẫn chưa thử bánh xốp trứng trong mơ của tôi mà.”
Patrik dưa tay vỗ bụng và nhận ra rằng vẫn còn một chỗ cho chiếc bánh xốp trứng trong mơ.
“Sau đó bà có nhìn thấy gì nữa không? Chẳng hạn như bà có biết khi nào thì Anders Nilsson rời đi chẳng hạn?”
“Không, tối đó tôi không còn nhìn thấy cậu ta lần nào nữa. Nhưng tôi thấy cậu ta đi ra đi vào ngôi nhà đó nhiều lần trong tuần lễ tiếp theo. Phải nói là rất lạ. Vì nghe nói lúc đó cô ấy dã chết rồi. Vậy cậu ta có thể làm cái quái gì ở đó chứ?”
Đây cũng chính là điều khiến Patrik băn khoăn. Bà Petrén nhìn anh vẻ dò xét. “Thế nào, cậu thích bánh này không?”
“Có lẽ là những chiếc bánh ngọt ngon nhất tôi từng được nếm. Làm sao mà bà có thể làm xong một khay bánh ngọt như thế trong nháy mắt? Ý tôi là tôi chỉ gọi điện tới trước mười lăm phút. Bà đúng là siêu nhân khi có thể nướng xong những chiếc bánh ngon mà lại thần tốc như thế.”
Bà Petrén tỏ ra hài lòng với những lời khen ngợi, không khỏi ngẩng cao đầu vẻ tự hào.
“Ta và ông nhà đã mở một tiệm bánh ngọt trong suốt ba mươi năm ở Fjällbacka này, thế nên cùng với thời gian cũng học hỏi được một ít. Những thói quen cũ rất khó thay đổi nên ta vẫn thức dậy vào lúc năm giờ sáng và nướng bánh hằng ngày. Nếu không để phục vụ lũ trẻ và những bà bạn tới chơi thì lại cho chim ăn. Việc thử những công thức mới luôn đem lại niềm vui. Ngày nay có nhiều loại bánh ngọt mới ngon hơn nhiều so với thứ bánh cuộn khô khốc mà ngày xưa chúng ta từng xuất lò tới hàng tấn. Ta tìm thấy công thức trong các tạp chí ẩm thực rồi cải biến chúng phù hợp với sở thích của mình.”
Bà chỉ những chồng tạp chí ẩm thực chất đống trên sàn nhà, cạnh ghế, từ
Amelia Mat
cho tới
Allt om mat
, ấn bản nhiều năm khác nhau. Nhìn giá bìa tạp chí, Patrik cho rằng bà Petrén hẳn kiếm được khá nhiều tiền trong những năm mở tiệm bánh. Anh liền nảy ra một ý tưởng.
“Bà có biết mối liên hệ nào khác giữa nhà Carlgren và gia đình Lorentz ngoài việc Karl-Erik từng làm việc cho họ không? Tỉ như họ giao thiệp xã hội?”
“Lạy Chúa lòng lành, nhà Lorentz giao lưu với nhà Carlgren ư? Không đời nào, chàng trai ạ, chuyện đó chỉ có thể xảy ra khi có hai ngày thứ Năm trong một tuần. Họ không thuộc cùng một tầng lớp. Việc Nelly Lorentz xuất hiện tại tiệc sau đám tang ở nhà Carlgren, theo như những gì tôi nghe được, chỉ là một sự gây chú ý mà thôi, không hơn không kém.”
“Thế còn câu chuyện về cậu con trai của họ thì sao? Cậu con trai bị mất tích ấy. Bà có biết anh ta liên quan gì tới nhà Carlgren không?”
“Không, mà cũng hy vọng là không. Một thằng bé hư hỏng. Luôn tìm cách ăn trộm bánh sau lưng người khác. Nhưng chồng tôi đã dạy cho nó một bài học khi bắt quả tang tại chỗ. Lần ấy nó dã bị mắng một trận nên thân. Và rồi, dĩ nhiên Nelly chạy tới bắt chúng tôi dừng lại. Bà ta dọa gọi cảnh sát tới bắt chồng tôi. Nhưng ông ấy khiến bà ta phải ngậm miệng khi nói có nhân chứng rành rành chứng kiến thằng bé ăn cắp nên bà ấy cứ việc đi mà gọi công tố tới phân xử.”
“Vậy là theo như bà biết thì nhà Lorentz không có mối liên hệ nào với nhà Carlgren?”
Bà Petrén lắc đầu.
“Không sao, đó chỉ là suy nghĩ của riêng tôi,” Patrik nói. “Bên cạnh vụ sát hại Alex thì việc Nils mất tích có lẽ là sự kiện gây chấn động nhất từng xảy ra ở thị trấn này và ai mà biết được, đôi khi vẫn xảy ra những sự trùng hợp thú vị. Thế nên, tôi nghĩ rằng hỏi thế là đủ rồi, tôi chỉ muốn cảm ơn vì cà phê và những chiếc bánh ngọt tuyệt vời. Phải nói thêm rằng trong vài ngày tới, tôi sẽ chi được ăn xa lát mà thôi.” Anh vừa nói vừa vỗ bụng.
Anh cố liếc nhìn lại một lần lúc đi qua phòng khách và có cảm giác như một nghìn bốn trăm bốn mươi hai ông già Noel đang nháy mắt cười với anh.
Đi ra khỏi nhà cũng lâu như lúc đi vào. Anh phải cố lắm để khỏi giẫm phải bà Petrén trong lúc đi theo bà ra tới cửa. Đúng là một bà già đầy cá tính. Nhưng cũng là một nhân chứng đáng tin cậy và với lời khai của bà thì chỉ là vấn đề thời gian trước khi họ có thể tìm thấy thêm một số bằng chứng khác nữa là có đủ thành tố kết tội Anders Nilsson. Cho tới thời điểm này, đây là bằng chứng có giá trị nhất, xem như vụ sát hại Alexandra Wijkner có vẻ như đã được giải quyết. Thế nhưng trong lòng anh, ngoài sự tồn tại của các loại bánh ngọt, vẫn còn một cảm giác không yên. Rằng những giải pháp đơn giản nhất không phải lúc nào cũng đúng.
Thật là khoan khoái khi có thể hít thở không khí trong lành bên ngoài, khiến cơn buồn nôn vì ăn quá nhiều giảm đi một chút. Anh cảm ơn bà Petrén một lần nữa, định quay đi thì lại bị bà dúi một gói gì đó vào tay trước khi kịp đẩy cửa. Thì ra là một chiếc túi đựng đầy bánh ngọt và một ông già Noel nhỏ. Anh không khỏi ôm lấy bụng rên rỉ.