2
Quán trà - cà phê Nam Viên Danh Điền có không gian xanh mướt, mặt tiền của quán không được rộng lắm song bên trong trang trí rất thanh lịch. Nhiếp Phong ngồi trên tầng hai bàn kê sát cửa sổ, người nữ phục vụ mặc váy ngắn màu lục, buộc tóc đuôi ngựa mang đến cho anh một cốc nước lọc.
“Xin hỏi anh dùng gì ạ?”. Giọng nói của cô nhẹ nhàng mến khách.
“Cho tôi một tách cà phê”.
“Ở đây chúng tôi có cà phê Lam Sơn rất ngon”.
“Vậy cho tôi loại đó”.
Nhiếp Phong không mấy khi uống cà phê song nghe người ta nói cà phê Lam Sơn có thương hiệu nên anh cũng muốn nếm thử hương vị của nó. Cô phục vụ quay lại mang cho anh một tách cà phê nóng, tách sứ màu trắng ngọc, mùi thơm thoang thoảng bay lên. Nhiếp Phong mở lọ đường bên cạnh lấy một viên sau đó cho thêm ít sữa, anh dùng chiếc thìa nhỏ khuấy nhẹ.
Cô phục vụ đứng bên cạnh Nhiếp Phong đong đưa ánh mắt nhìn anh, khuôn mặt tròn, mắt một mí, mũi củ tỏi hình dáng giống hệt “Tiểu bảo mẫu” ở nhà. Nhiếp Phong liếc cô bé rồi khẽ mỉm cười.
“Anh chỉ đi có một mình thôi sao?”.
“Không, tôi còn có một người bạn nữa”.
“Là phụ nữ?”.
“Một cảnh sát”.
“À”.
Nhiếp Phong nâng tách cà phê lên uống một ngụm, hương vị nơi đầu lưỡi thơm nhẹ, hơi chua. Có chút giống với cà phê tự chọn ở Thiên Phú Hỉ mà anh đã thưởng thức qua. Cà phê Lam Sơn mang hiệu “Cà phê quý tộc” chẳng qua cũng như vậy cả thôi.
“Có vị chua”. Anh nói.
“Cà phê Lam Sơn luôn có một chút vị chua”. Cô gái tóc đuôi ngựa nói, vừa như giải thích vừa như ca tụng loại cà phê này.
Đúng lúc đó cậu cảnh sát trẻ Tiểu Xuyên mặc thường phục chạy vội tới, Nhiếp Phong dịch ghế mời cậu ta ngồi.
“Thật không phải, chiều nay mà cuộc họp phân tích vụ án nên tôi đến muộn”.
“Không sao tôi cũng vừa mới đến thôi!”.
“Thưa anh, bạn của anh dùng gì ạ?”. Cô phục vụ tóc đuôi ngựa cười tươi khẽ hỏi.
“Cũng cho tôi một cách cà phê đi”. Tiểu Xuyên đáp.
“Anh dùng loại Lam Sơn hay Thân Thiên?”. Cô gái quay sang hỏi lại.
Tiểu Xuyên mở quyển thực đơn, đưa mắt lướt qua sau đó chỉ vào loại có giá rẻ nhất: “Cho một cà phê nóng Danh Điền đi!”
Khi cô phục vụ rời khỏi đó, Tiểu Xuyên thật thà hỏi: “Nhà báo Nhiếp đang ở khách sạn nào?”.
“Tôi ở nhà khách cục xuất bản, nơi đó rẻ hơn so với khách sạn”.
“Nơi đấy cũng không tồi”.
Tiểu Xuyên đưa mắt quan sát xung quanh.
Bảng hiệu bắt mắt, âm nhạc du dương, phục vụ chu đáo, tất cả những cái đó tạo thành thương hiệu danh tiếng của quán, chỉ cần vén nhẹ rèm cửa bằng sợi đay, qua tấm kính cửa sổ là có thể quan sát dòng xe đi lại đông đúc trên đường.
“Tôi rất thích nơi này”. Nhiếp Phong nói.
“Hẹn tôi đến đây chắc không phải là chỉ đi uống cà phê Danh Điền”.
“Cà phê đương nhiên là chủ đề chính, chủ đề phụ là nếu thuận tiện thì nói cho tôi biết sơ qua tình hình vụ án Hồ Quốc Hào”.
“Ngày hôm qua tại toà nhà Địa Hào tôi đã nhận ra nhà báo Nhiếp rất chú ý tới cái chết của ông Hồ Quốc Hào”.
“Cứ gọi tôi là Nhiếp Phong được rồi”. Nhiếp Phong trầm ngâm một lát rồi vào đề luôn.
“Nói như thế này nhé, có lẽ cũng là theo thói quen nghề nghiệp. Tôi cảm thấy nguyên nhân cái chết của Hồ Quốc Hào không hề đơn giản... thêm nữa nhân vật trang bìa trong tập san cuối tháng của báo chúng tôi là Hồ Quốc Hào, bài phỏng vấn do tôi thực hiện, ông ta mất đột ngột, tôi buộc phải thông tin rõ cho tập san và mười mấy vạn độc giả biết”.
“Với cái chết của Hồ Quốc Hào tôi cũng có cảm giác như vậy”. Tiểu Xuyên hơi phấn chấn.
“Nhưng hiện nay vẫn chưa có manh mối nào cả”.
Nhiếp Phong nhìn Tiểu Xuyên buột miệng nói: “Cái đẹp nơi nào cũng có, không phải đôi mắt chúng ta không nhìn thấy cái đẹp mà chỉ là không phát hiện được cái đẹp” manh mối vụ án cũng giống như vậy”.
“Đó là câu nói nổi tiếng của Rodin.” Tiểu Xuyên tỏ vẻ thán phục. “Nghe rất có lý”.
“Cậu tốt nghiệp trường cảnh sát nào vậy?”. Nhiếp Phong hỏi.
“Trường Đại học cảnh sát cao cấp Tây Nam. Tôi tốt nghiệp năm ngoái và được điều về Thâm Quyến”.
“Trường cảnh sát cao cấp Tây Nam?”. Khóe mắt Nhiếp Phong chợt lộ ra tia nhìn ấm áp thân thiết kỳ lạ.
“Anh đã từng đến trường tôi rồi hả?”.
“Đâu chỉ đã đến”. Nhiếp Phong bồi hồi. “Nơi đó đối với tôi còn rất thân thiết nữa cơ! Cả thời niên thiếu của tôi diễn ra ở đó. Lầu quốc tự, bãi tập bắn, phòng luyện thể lực, chẳng nơi nào không có dấu chân Nhiếp Phong này...”.
“Nói như thế, gia đình anh ở trong trường?”.
Đúng lúc đó cô phục vụ tóc đuôi ngựa mang cà phê đến: “Cà phê của anh đây ạ!”.
“Cảm ơn!”. Tiểu Xuyên ra dấu cho cô gái đặt cà phê xuống, ánh mắt cô gái nhìn Nhiếp Phong không rời.
Cô phục vụ đặt cà phê xuống, ném cái nhìn lúng tiếng về phía Nhiếp Phong rồi mới quay người bước đi.
“Cậu đoán đúng đấy, sau này tôi chỉ vào khoa truyền thông Đại học ở Tứ Xuyên nên đã rời khỏi nơi đó”. Nhiếp Phong nói: “Sau khi tốt nghiệp trở thành nhà báo, nhà văn tự do chưa có thành công gì gọi là đáng kể, thoắt cái đã mười năm trôi qua”.
“Tôi nghĩ ra rồi”. Tiểu Xuyên thốt lên kinh ngạc, hai mắt sáng rực như nhà thám hiểm phát hiện ra lục địa mới. “Thảo nào ngay lần gặp đầu tiên tôi đã cảm thấy gương mặt anh có gì rất quen. Anh có biết... thầy hiệu trưởng Nhiếp Đông Hải không?”.
“Có chứ”. Nhiếp Phong gật đầu, nói rất từ tốn: “Là một ông già bảo thủ. Bố tôi”.
Tiểu Xuyên đứng bật dậy, thi lễ theo nghi thức quân nhân. “Chúc hiệu trưởng Nhiếp khỏe!”.
Những vị khách xung quanh giật mình nhìn họ một cách kỳ lạ.
Nhiếp Phong đưa mắt sang hai bên bật cười ngượng, “Ngồi xuống đi, tôi không đại diện cho bố tôi được đâu”.
“Vâng, vâng!”. Tiểu Xuyên thẹn đỏ mặt ngồi xuống.
“Tôi cần phải làm rõ một điều: Tôi là tôi, bố tôi là bố tôi. Cậu phải giữ bí mật này cho tôi đấy nhé”.
“Vâng, vâng!”. Tiểu Xuyên gật đầu lia lịa. Nhiếp Đông Hải hiệu trưởng trường Đại học cảnh sát cao cấp Tây Nam là một chuyên gia trinh sát nổi tiếng khắp toàn quốc, ông mang quân hàm cao, luôn nhận được sự kính trọng ngưỡng mộ của cán bộ trong ngành và tất cả học viên.
Từ giây phút đó, giữa Nhiếp Phong và Tiểu Xuyên không còn khoảng cách, giữa họ nảy sinh cảm giác đặc biệt vừa là đồng hương vừa là anh em. Hai người cũng thay đổi cách xưng hô.
“Thế thật là tốt, anh Nhiếp có gì muốn tìm hiểu xin cứ hỏi em”.
“Mình cũng biết bên cảnh sát có quy định riêng, những việc bảo mật thì cậu có thể không nhất thiết phải nói. Mục đích của mình cũng chỉ là tìm ra chân tướng sự việc, đó cũng là nhiệm vụ của một nhà báo, cho dù nguyên nhân nào đi nữa thì cái chết của Hồ Quốc Hào cũng rõ ràng rất đột ngột...”.
“Em cũng có nhận định như vậy”, Tiểu Xuyên phụ họa.
“Bên cậu chắc đã có cuộc họp phân tích vụ án, đúng không?”. Nhiếp Phong nâng tách lên có ý bảo Tiểu Xuyên uống cà phê, sau đó tự thưởng thức một ngụm.
“Nếu như Hồ Quốc Hào chết do “bị sát hại” thì ba người đáng nghi nhất đó là: Châu Chính Hưng, Chu Mỹ Phượng, Hồng Diệc Minh đúng không?”.
Tiểu Xuyên kinh ngạc, đặt vội tách cà phê định uống xuống. “Làm sao anh lại biết nhỉ?”.
“Cứ uống đi”. Nhiếp Phong hướng về phía cậu ta gật đầu giải thích tiếp. “Đó là cách suy luận thông thường, không quá khó đoán bởi cả ba người Châu, Chu, Hồng đều là những người sẽ được hưởng lợi nhiều nhất từ cái chết của Hồ Quốc Hào. Châu Chính Hưng, phó tổng giám đốc Địa Hào Trí Nghiệp là người có cổ phần đứng thứ hai trong tập đoàn. Theo tài liệu của cơ quan hữu quan, Hồ Quốc Hào chiếm 54% cổ phần, Châu Chính Hưng có 36%, 10% còn lại thuộc về một số cổ đông khác trong công ty, Địa Hào Trí Nghiệp được thành lập tại Thâm Quyến. Hồ Quốc Hào bỏ ra số vốn ba phẩy sáu triệu tệ, Châu Chính Hưng góp một miếng đất. Việc kinh doanh ngày càng phất lên, đó là dựa vào tính quyết đoán và dám nghĩ dám làm của Hồ Quốc Hào, cộng thêm các mối quan hệ và hiểu biết thị hiếu người dân địa phương của Châu Chính Hưng. Song Châu Chính Hưng vốn là người cẩn thận lại hiền lành, nên không thể quản được thói hách dịch liều lĩnh của Hồ Quốc Hào. Và anh ta cũng là người kiên quyết nhất không tán thành chiến lược kịnh doanh đầy mạo hiểm của Hồ Quốc Hào. Do đó hai người nảy sinh nhiều mâu thuẫn, sau này lại càng không thể hòa hợp được...”.
“Anh Nhiếp làm sao có thể điều tra cụ thể như thế được?”. Tiểu Xuyên tỏ ra rất khâm phục.
“Chuyện ấy không có gì khó, trước khi phỏng vấn Hồ Quốc Hào mình đã thu thập rất nhiều thông tin liên quan đến Địa Hào Trí Nghiệp”. Nhiếp Phong tiếp lời: “Một nhà báo giỏi cần phải có cái mũi của loài chó săn”.
Viên cảnh sát trẻ Tiểu Xuyên thầm nghĩ “Là người cảnh sát giỏi cũng cần khả năng đó” song cậu không nói ra mà chỉ hỏi: “Tại sao anh lại coi Chu Mỹ Phượng là nghi can số hai?”.
“Gì cơ? Mình đâu có nói Chu Mỹ Phượng là nghi can số hai”. Nhiếp Phong khẽ mỉm cười.
“Đương nhiên khi Hồ Quốc Hào chết 54% cổ phần đó sẽ rơi vào tay cô ta và cô ta mới là người được hưởng lợi nhiều nhất. Qua tiết lộ của đám nhân viên trong công ty, Mỹ Phượng kết hôn với Hồ Quốc Hào sáu năm về trước, cô ta vốn là nhân viên trong một quán karaoke lớn nhất Thâm Quyến. Giọng hát rất hay, vóc dáng lại cực kỳ xinh đẹp quyến rũ nên rất nhiều đại gia săn đón song cũng là người biết giữ mình, không để điều tiếng gì. Sau này kết hôn với Hồ Quốc Hào được ông ta bỏ vốn mở một thẩm mỹ viện giao cho quản lý. Bình thường cô ta không bao giờ hỏi đến công việc kinh doanh của chồng, cũng hiếm khi đến công ty, chồng mình rốt cuộc có bao nhiêu tài sản, e là cô ta cũng không nắm rõ”.
“Ồ, thì ra là như vậy!”. Tiểu Xuyên trầm tư.
“Về Hồng Diệc Minh, ông chủ Đại Đông các cậu cũng biết đó là đối thủ cạnh tranh lớn nhất đối với Địa Hào Trí Nghiệp, hơn nữa ông ta cũng là người cuối cùng tiếp xúc với Hồ Quốc Hào vào buổi tối ngày hai mươi tư tháng sáu”. Nhiếp Phong tiếp tục phân tích: “Nghi ngờ ông ta là điều hoàn toàn phù hợp với logic”.
Tiểu Xuyên có chút không hiểu: “Phù hợp logic?”.
“Đúng”. Nhiếp Phong trả lời và chỉ ra cho Tiểu Xuyên rõ.
“Mình nghĩ trong bữa ăn cuối cùng của Hồ Quốc Hào tại Đại Mai Vi, những gì mà bọn họ nói với nhau là đầu mối vô cùng quan trọng”.
“Rất cám ơn anh đã chỉ bảo thêm”.
Tiểu Xuyên dường như hiểu được tầm quan trọng đầu mối mà Nhiếp Phong nhắc đến, đồng thời cậu cũng có phần tự trách mình, nội tình vụ án Nhiếp Phong nắm rõ như lòng bàn tay, bản thân mình là người phá án thì lại có những điều không suy nghĩ tới.
“Cậu uống đi, cà phê nguội nhanh lắm”. Nhiếp Phong khéo léo chuyển chủ đề, vừa cười vừa hỏi. “Đội trưởng Thôi của các cậu là người như thế nào?”.
“Là một cảnh sát rất tốt, có nhiều kinh nghiệm, phá được nhiều vụ án lớn. Chỉ có điều tính tình hơi nóng...”.
“Thích giáo huấn người khác có đúng không? Còn có chút khó chịu với mình nữa chứ”. Nhiếp Phong mỉm cười chế giễu.
“Đội trưởng Thôi tính tình thật ra rất tốt, chẳng qua...”.
“Cậu đừng bảo vệ sếp của các cậu nữa, mình nói chơi vậy thôi! Khi nào về nhắn giúp với đội trưởng Thôi là mình hy vọng được tham gia theo sát quá trình phá án”.
“Được ạ, chuyện đó thì không thành vấn đề”.
“Ngoài ra, cậu có thể giúp mình một chuyện nhỏ được không?”.
“Vâng ạ, anh cứ nói đi”.
“Mình muốn được xem thi thể Hồ Quốc Hào, tuy nhiên chuyện này đừng để đội trưởng Thôi biết nhé”.
“Vâng, hiện nay thi thể Hồ Quốc Hào được bảo quản tại nhà tang lễ Đan Trúc Đầu”.
“Nơi đó có xa đây không?”.
“Khá xa, phải đi bằng xe hơi. Bây giờ em sẽ đưa anh đi, để lâu có thể thi hài sẽ được đưa về bệnh viện công an để giải phẫu”.
“Thế thì tốt quá”. Nhiếp Phong gật đầu.
Tiểu Xuyên không nghe ra ý của anh là chỉ việc xem thi thể hay là chỉ việc giải phẫu.
Hai người nói chuyện phiếm một lúc nữa. Nhiếp Phong chỉ vào biểu tượng hình bầu dục của nhãn hiệu quán trên miếng giấy lót cốc cà phê.
“Cái logo này thật có ý nghĩa?”.
“Thật ạ?”.
Tiểu Xuyên di miếng lót sang bên chăm chú nhìn vào khung hình bầu dục màu xanh, vệt sọc hai bên cũng màu xanh, dáng hơi nghiêng, bên trái là hình bầu dục nhỏ ở giữa để rỗng.
Cậu ngẫm nghĩ một lúc rồi nói hai vết sọc bên trái giống hình lá trà, hình rỗng bầu dục nhỏ bên trái giống hạt cà phê.
“Cậu thật thông minh!”. Nhiếp Phong tán thưởng, song hai mắt lộ ra vẻ nghịch ngợm “Cậu thử xem lại đi”.
Tiểu Xuyên ngắm kỹ biểu tượng, lông mày nhíu lại giống như đứa trẻ đang cố giải bài toán khó.
“Đã nhận ra cái gì chưa?”.
“Em xin chịu”.
Anh chàng cảnh sát trẻ lắc đầu.
“Số 110
[3]
”. Nhiếp Phong giảng giải.
“Ái dà, quả là giống thật”.
“Các cậu bình thường phá án rất vất vả, có thời gian rảnh cứ đến đây tụ họp, có thể tạo thành câu lạc bộ cảnh sát đấy”.
“Nói như vậy em có cảm giác nơi này cực kỳ thân thiết với anh”. Tiểu Xuyên tỏ vẻ nghi ngờ.
“Được rồi, cô ơi tính tiền giúp tôi”. Nhiếp Phong vẫy tay về phía cô phục vụ đứng cạnh.
Cô gái hiểu ý bước đến.
“Còn có một người nữa”. Nhiếp Phong chợt nhớ ra, anh dùng tay gõ gõ lên mặt bàn, “Cần phải tìm hiểu người này”.
“Người nào cơ ạ?”. Tiểu Xuyên hỏi.
Cô bé tóc đuôi ngựa vừa cười vừa đưa tờ hóa đơn thanh toán cho anh.
Nhiếp Phong liếc qua hóa đơn hai tách cà phê Lam Sơn bốn mươi đồng, Danh Điền hai mươi đồng tổng cộng hết sáu mươi đồng, đúng là “tiêu chuẩn” Thâm Quyến. Hai người đứng dậy, cô phục vụ tóc đuôi ngựa lịch sự nói.
“Rất mong hai anh lần sau lại đến”.
Nhiếp Phong bước xuống lầu, ra đến cửa anh nói với Tiểu Xuyên.
“Người đó là trợ lý của Hồ Quốc Hào, Chung Đào”.
“Nhân vật này để lại cho mình ấn tượng khá sâu sắc, ngày Hồ Quốc Hào xảy ra chuyện, anh ta cũng có mặt ở Tiểu Mai Sa”.
“Thật hả? Sao bọn em lại không biết nhỉ?”. Tiểu Xuyên cảm thấy kinh ngạc.
“Là chính Chung Đào nói cho mình hay, buổi chiều ngày hai mươi tư tháng sáu anh ta cũng đi cùng xe với Hồ Quốc Hào khi xe đến nhà hàng Hào Cảnh, Hồ Quốc Hào xuống trước. Tiếp đó lái xe đưa Chung Đào tới Tiểu Mai Sa sau đó mới lái xe về thành phố. Hôm đó anh ta có buổi họp lớn, tất cả bảy người đồng môn đều đang công tác tại Thâm Quyến, họ đã tổ chức bữa họp mặt thâu đêm suốt sáng tại vườn nướng trung tâm bãi biển Tiểu Mai Sa”.
“Tại sao lái xe của Hồ Quốc Hào lại không nhắc đến việc này?”. Tiểu Xuyên bồn chồn.
“Mình đã hỏi lái xe Tiểu Lưu, cậu ta nói, Chung Đào thường xuyên đi chung xe với Hồ Quốc Hào, nên cũng coi là chuyện thường, hơn nữa cảnh sát lại không hỏi đến”.
Tiểu Xuyên chợt nghĩ đến hiện trường hôm đó. Đội trưởng Thôi chỉ hỏi Tiểu Lợi nhận diện người chết có phải là Hồ Quốc Hào hay không? Chẳng ai để ý hay nghĩ tới việc ngồi chung xe với Hồ Quốc Hào còn có người khác nữa?
“Anh ta có nói tên của bảy người bạn học không anh?”.
“Đó là chuyện của cảnh sát các cậu, việc này đâu có khó”.
“Em sẽ báo cáo với đội trưởng Thôi chi tiết này”.
“Không cần nói là mình kể đâu nhé!”.
“Em hiểu rồi”.
Tiểu Xuyên mở cửa xe ô tô cảnh sát, hai người cùng vào. Cậu nổ máy, chiếc xe lao vút về hướng đông.
*
* *
Đan Trúc Đầu nằm ở phía bắc thị trấn Bố Cát, phía sau là một dãy núi nhỏ, khi xe đến nhà tang lễ trời đã chạng vạng chiều.
Tiểu Xuyên lái xe thẳng vào cổng lớn, đi qua con đường bê tông nhỏ rồi đỗ lại trước phòng làm việc ban quản lý nhà tang lễ. Cậu xuất trình thẻ cảnh sát cho một người đàn ông trung niên đeo kính trắng, nhân viên quản lý.
“Vị này là nhà báo, chúng tôi muốn kiểm tra lại di hài ông Hồ Quốc Hào ở ngăn số mười hai”.
“Buổi chiều chúng tôi thường không làm việc”. Người quản lý nhìn Nhiếp Phong qua đôi kính trắng.
“Ngày mai tôi phải về Thâm Quyến, thật làm phiền bác quá”. Nhiếp Phong mỉm cười khiêm tốn.
“A, vậy tôi già lắm sao?”. Người nhân viên nét mặt lập tức trở nên khó chịu, thì ra anh ta chưa đến bốn mươi tuổi.
“Ấy, ấy, gọi như vậy chẳng qua để tôn trọng anh thôi!” Tiểu Xuyên đỡ lời.
“Đi theo tôi”. Người đàn ông bớt bực dọc, anh ta dẫn hai người đi qua rừng tùng bách um tùm rồi đến một ngôi nhà tầng mái màu xanh, tường trắng.
Khi anh ra lấy chìa khóa mở chiếc cửa sắt, khí lạnh từ bên trong phả vào mặt, trong đó là nhà lạnh lưu giữ thi hài người chết, bầu không khí thật u ám tang tóc. Bức tường đối diện cánh cửa sắt xếp từng tủ ô vuông bằng sắt. Dưới ánh đèn trắng xanh chiếu xuống, phát ra những tia lạnh ảm đạm, ở nơi này không có sự sống.
Người đàn ông đeo kính dừng lại bên khu ô vuông số mười hai, anh ta đeo găng tay vào, dùng hết sức kéo chiếc ngăn kéo sắt dài đến hai mét ra, sau đó lật tấm vải bố màu trắng lên.
Nhờ khí lạnh bảo quản nên thi hài Hồ Quốc Hào vẫn còn khá nguyên vẹn.
Thi thể Hồ Quốc Hào nằm thẳng đuôn trong chiếc ngăn kéo. Một nhân vật đã từng “hô phong hoán vũ” trong giới bất động sản. Chỉ mới vài ngày trước đây thôi còn oai phong bệ vệ trên chiếc ghế quyền uy tại toà nhà Địa Hào hai mươi tư tầng lầu, khoát tay chỉ đạo công việc, hào khí hừng hực khiến người khác phải khâm phục. Thế nhưng, giờ đây ông ta nằm cô đơn lạnh lẽo trong chiếc ngăn kéo sắt, tim còn lại chỉ là cái xác vô hồn câm lặng. Trong phút chốc Nhiếp Phong chợt nhớ đến mấy câu thơ:
“Tôi gặp được một du khách đến từ xa xưa
Ông kể về bức tượng với đôi chân bằng đá sụt lún dưới sa mạc bao la.
Cả thân chôn vùi trong cát.
Chỉ còn nửa khuôn mặt vỡ nát.
Này là chau mày, khinh miệt lạnh lùng, này là nhíu mắt, này là uy nghiêm.
Nhà điêu khắc thật tài hoa.
Cho đến ngày nay vẫn còn lưu lại dục vọng trên nền đá lạnh”.
...
“Nhà báo Nhiếp, anh đang nghĩ gì vậy?”. Tiểu Xuyên nhìn anh bằng con mắt tò mò.
“Ồ! Không có gì”.
Nhiếp Phong trấn tĩnh trở lại, cúi đầu quan sát cái xác.
Có lẽ do thời gian và bảo quản lâu trong phòng lạnh nên da của Hồ Quốc Hào có màu trắng nhợt, hơi phù thũng, cái mũi hổ, chiếc cằm bạnh vẫn lồ lộ như khi còn sống, chỉ có đôi mắt gian xảo và dã tâm thì vĩnh viễn không bao giờ còn mở ra được nữa.
Nhiếp Phong chăm chú quan sát toàn bộ xác chết, anh dừng mắt lại trước má bên trái, sau đó lại nhìn vào phần ngực bên trái, phía dưới núm vú có vài vết xước còn như mới, quan sát kỹ nó có hình dáng giống chữ “Sơn” nhưng lại hoàn toàn không giống hẳn. Có lẽ vết đó do tử thi va vào đá khi bị sóng đánh dạt vào bờ, miệng vết thương không có vết máu, dưới da chỉ lưu lại vết thâm sẫm màu.
Nhiếp Phong rất chú ý soi kỹ nét xước kỳ lạ đó trong lòng thầm nghĩ “Có chút gì đó thật kỳ lạ”.
Tiểu Xuyên phán đoán. “Liệu có phải là do sứa biển gây ra không?”,
Nhiếp Phong chưa từng gặp qua chuyện này, anh hỏi lại: “Cậu thấy có giống với vết do sứa biển gây ra không?”,
“Em cũng không dám chắc”. Tiểu Xuyên đáp.
Khi đi bơi ở vịnh Đại Bàng, Nhiếp Phong cũng có gặp sứa biển.
Đó là một loài động vật thân mềm không xương sống, khi chạm phải nó cảm giác rất ngứa. Song trên thực tế vết thương trên ngực Hồ Quốc Hào gần như không giống do loài nhuyễn thể này gây ra. Vết thương do sứa gây ra là một đám mụn nước nhỏ trên da nhưng vết trên ngực Hồ Quốc Hào lại giống do vật sắc nhọn tạo thành.
“Những người chết đuối, trên thi thể thường để lại nhiều vết bầm dập” Người đàn ông đeo kính bằng kinh nghiệm của mình góp lời. “Có lẽ là do trước khi chết bị va vào các mỏm đá ven biển”.
“Cảm ơn anh đã chỉ bảo”. Nhiếp Phong khiêm tốn đáp lời, nhân lúc người đàn ông đeo kính không để ý Nhiếp Phong đưa chiếc máy ảnh luôn mang theo bên mình chụp trộm lấy vài kiểu, trong đó có cả bức chụp kỹ vết thương.
“Ồ, máy ảnh của nhà báo thật là đồ cao cấp”.
“Cũng là loại bình thường thôi!”. Nhiếp Phong cố tình khiêm nhường, cười một cách ngốc nghếch.
“Cái đồ vớ vẩn này khi chụp không chớp đèn”. Tiểu Xuyên mỉm cười ý nhị.
Nhiếp Phong ngoái cổ lại hỏi: “Cảnh sát Tiểu Xuyên, cậu thấy được chưa?”.
“Được rồi ạ”. Cậu nghiêm túc đáp lời.
Ba người rời khỏi nhà lạnh, Nhiếp Phong hỏi người đàn ông đeo kính: “Khi nào cái xác ở ô số mười hai sẽ được hỏa táng hả anh?”.
“Dự định là ngày mùng hai tháng bảy, song bây giờ cũng chưa biết liệu có thay đổi hay không”.
“Điều ấy có phải do gia đình đề xuất không?”.
“Chiều nay chúng tôi vừa nhận được công văn của bên công an các anh yêu cầu chú ý bảo quản thi hài, có thể sẽ tiến hành giải phẫu tử thi.”
Nhiếp Phong và Tiểu Xuyên đưa mắt hội ý với nhau.
“Người cũng đã chết rồi, sao còn động dao kéo vào làm chi, thật chẳng ra sao cả”. Người đàn ông đeo kính cảm thán mấy câu.
Trong cảnh chiều hôm âm u, vài con quạ đứng trên đầu cành cây bách cất lên tiếng kêu thê lương.