Những đồng sự mùa đông
Bác sĩ Watson là mẫu người giám đốc dám nghĩ dám làm ở bệnh viện tâm thần. Anh mơ đến việc tạo tên tuổi cho mình, viết bài chuyên môn và rồi được mời trình bày ở những hội nghị chuyên đề, nơi có nhiều phụ nữ mến mộ anh vây quanh. Tuy nhiên, tạm thời, những phụ nữ duy nhất gần anh đã mất trí không ít thì nhiều, và trong số này anh đã chọn tôi để giết thời giờ trong khi chờ đến ngày anh đủ nổi tiếng để ra đi.
Tôi ở trong bệnh viện tâm thần được ít tháng thì anh đến, và suốt thời gian này người ta râm ran đồn đại về vị giám đốc mới. Cuộc sống trong bệnh viện tâm thần nói chung là vô cùng chán ngán, nên bất kỳ thay đổi nào cũng là đầu đề cho mọi người tranh luận sôi nổi, như là việc thay đổi món cháo yến mạch trong bữa ăn sáng, hoặc việc dời giờ may vá từ ba đến bốn giờ chiều. Vì thế mà vị giám đốc mới là biến cố quan trọng, thổi ngọn lửa cho các cuộc đồn đại và suy đoán kéo dài nhiều tuần. Và khi anh đến, người ta không lấy làm thất vọng. Trẻ trung và đẹp trai, anh có khuôn mặt tươi sáng, hiền hòa và giọng nói cao trầm dễ nghe. Chỉ trong vòng nửa tháng, tất cả phụ nữ đều đem lòng yêu anh. Tôi phải nói mình không phải là hờ hững hoàn toàn, nhưng quả là buồn cười khi thấy một số phụ nữ tự làm đẹp cho mình bằng mấy dải ruy băng và hoa lá cành để mong thu hút sự chú ý của anh. Watson lúc nào cũng tỏ ra nịnh đầm và có sức quyến rũ, thích cầm lấy tay họ mà tỏ lời khen ngợi, khiến cho họ cười khúc khích và đỏ bừng mặt. Mùa hè năm ấy, các phòng ngủ của phụ nữ đều vang tiếng thở dài trong đêm.
Vì tôi không thích trò tôn thờ thần tượng, thế nên tôi ngạc nhiên khi được gọi đến văn phòng của Watson và thắc mắc liệu mình đã làm gì sai trái. Tôi thấy anh đang cúi mình trên một chiếc máy trông kỳ lạ đặt ở giữa phòng. Lập tức tôi đoán đấy là một chiếc máy đặt giữa các ống nước vòi tắm hoa sen, được thiết kế để tạo cho bệnh nhân tâm thần một cảm giác mạnh nào đấy, nhưng tôi không rõ chi tiết nó vận hành như thế nào, và cảm thấy khá lo lắng.
Watson nhìn lên và mỉm cười: “À, chào Cô Hay
[40]
.” Anh trông rất lấy làm vui với chính mình. Thật ra, tôi lại kinh ngạc hơn do sự thay đổi trong căn phòng, vì với người tiền nhiệm thì căn phòng tối tăm và trông buồn thảm, lại có mùi hơi khó chịu. Đấy là một căn phòng đẹp (cả bệnh viện tâm thần gây ấn tượng tốt với cung cách tân cổ điển); trần cao, với cửa sổ vòm rộng nhìn ra sân vườn. Watson đã cho lấy đi các tấm màn nặng nề treo từ các cửa sổ, và bây giờ ánh sáng từ hướng nam tràn ngập. Các bức tường được sơn màu hồng nhạt, có hoa đặt trên bàn, và đá cùng dương xỉ được xếp đặt một cách nên thơ dọc một chân tường.
Tôi nói mà không thể ngăn nụ cười: “Xin chào.”
“Cô thích văn phòng của tôi không?”
“Vâng, rất thích.”
“Tốt. Sở thích của cô giống tôi. Tôi nghĩ điều quan trọng là làm cho khung cảnh của mình trông hấp dẫn. Nếu con người sống trong cảnh xấu xí thì làm thế nào họ được hạnh phúc?”
Tôi nghĩ anh không nghiêm túc hoàn toàn, và lí nhí lời lẽ gì đấy vô nghĩa, nghĩ rằng anh may mắn mà có quyền thay đổi khung cảnh cho hợp với sở thích của mình.
Anh tiếp: “Dĩ nhiên là căn phòng càng trở nên hấp dẫn hơn khi có cô ở đây.”
Dù đã biết cung cách của anh, tôi vẫn cảm thấy hơi đỏ mặt, nhưng cố giấu diếm bằng cách nhìn những bệnh nhân khác qua khung cửa sổ, lúc này đang đi dạo hoặc đang bị nhân viên lôi tuột đi.
Chúng tôi vẩn vơ trò chuyện một lúc, và tôi đoán anh đang cố tìm hiểu tình trạng yếu đuối tinh thần của tôi và liệu tôi có xu hướng lên cơn bạo lực hay không. Xem dường anh hài lòng với những gì tôi nói, bởi vì anh bắt đầu giảng giải về chiếc máy. Về cơ bản đấy là một chiếc hộp để tạo ra hình ảnh, và anh nói mình muốn nghiên cứu bệnh nhân. Anh nghĩ việc này sẽ giúp tìm hiểu thêm về bệnh tâm thần và cách chữa trị, cho dù tôi không hề hiểu rõ làm thế nào đạt kết quả này.
Đặc biệt là hình như anh muốn tạo ra hình ảnh của tôi: “Cô có gương mặt rất thích hợp cho máy chụp ảnh, sáng sủa và diễn cảm, đấy chính là điều cần thiết.”
Tôi lấy làm vui với ý nghĩ là anh đã đặc biệt chú ý đến mình, và như thế là sự thay đổi hay hay so với các công việc hàng ngày. Như tôi đã nói, cuộc sống trong bệnh viện tâm thần là cực kỳ tẻ nhạt, ngoại trừ các cơn co giật kỳ lạ hoặc hành động muốn tự tử.
Đôi mắt nhìn xuống bàn, anh giải thích: “Điều tôi đang suy nghĩ là một loạt những nghiên cứu về, à... cô, trong những tư thế biểu trưng cho vài điều kiện tinh thần. À, lấy ví dụ... có triệu chứng mà chúng tôi gọi là mặc cảm Ophelia
[41]
, được gọi theo tên của một nhân vật bị ảnh hưởng, trong một vở kịch nổi tiếng...” Anh nhìn tôi để xem tôi có hiểu không.
Tôi nói: “Tôi biết câu chuyện này.”
“À, tốt lắm... Thế thì... cô xem, một minh họa cho triệu chứng này sẽ là... tư thế đau khổ, với một vòng hoa trên đầu và đại khái như thế. Cô hiểu ý tôi nói chứ?”
“Tôi nghĩ tôi hiểu.”
“Việc này sẽ giúp ích cho tôi rất nhiều với một bài chuyên môn tôi đang viết. Các bức ảnh sẽ minh họa tiền đề của tôi, đặc biệt đối với những người chưa bao giờ bước chân đến một bệnh viện tâm thần và thấy khó mà mường tượng được.”
Tôi gật đầu một cách lễ độ, và khi anh không nói rõ thêm, tôi hỏi: “Tiền đề của anh là gì?”
Anh có vẻ hơi ngạc nhiên: “À. Tiền đề của tôi là, à... rằng có một số mẫu hình đối với bệnh tâm thần; một số dáng vẻ và hoạt động thể chất thường diễn ra đối với những mẫu hình khác nhau, để chỉ ra tình trạng tâm thần của họ. Rằng, tuy mỗi bệnh nhân có tiền sử riêng, họ đều ở trong những nhóm có chung các đặc điểm và dáng vẻ. Và rằng...” anh ngưng lại, hiển nhiên là đang suy tư, “... qua việc nghiên cứu lặp đi lặp lại và tập trung, chúng ta có thể khám phá thêm nhiều cách để chữa trị cho những người vô phúc tội nghiệp này.”
“À.” Tôi nói mà tự hỏi mình - là một trong những người vô phúc ấy - có những dáng vẻ gì đặc biệt hay không. Có vài hình ảnh không phù hợp tự hiện ra.
Anh nói tiếp: “Và cô có thể vui lòng dành cho tôi chút thời giờ để ăn trưa cùng với tôi trong mấy ngày này, được không?”
Chỉ nghĩ đến việc này là tôi đã phát thèm. Thức ăn trong bệnh viện tâm thần thì đủ bổ dưỡng nhưng nhạt nhẽo, khó nuốt và nhàm chán. Tôi nghĩ có một giả thuyết (có lẽ thậm chí là một tiền đề) cho rằng một vài hương vị có tính kích thích nguy hiểm, nói ví dụ quá nhiều thịt hoặc quá nhiều mỡ hoặc quá cay sẽ làm dấy lên tính mẫn cảm tinh tế, gây ra náo động. Tôi đã thấy vui vì được làm người mẫu, nhưng chỉ sự hứa hẹn về thức ăn hợp khẩu vị cũng đủ làm cho tôi xiêu lòng.
“Thế thì,” anh mỉm cười, và tôi nhận ra anh thật sự bồn chồn, “cô chấp nhận việc này không?”
Tôi cảm thấy băn khoăn vì anh bồn chồn - đối với tôi? Hoặc đối với điều khả dĩ là tôi sẽ từ chối? Rồi tôi gật đầu. Có lẽ trọn đời tôi chẳng bao giờ hiểu được làm thế nào xuất hiện trong các bức ảnh với vòng hoa trên đầu sẽ chữa được bệnh tâm thần, nhưng tôi là ai mà lại từ chối?
Hơn nữa, anh là người đẹp trai, tử tế và trẻ trung, trong khi tôi là đứa con gái mồ côi trong một bệnh viện tâm thần không có người bảo hộ và không thấy có triển vọng sẽ được xuất viện. Tuy tình huống này có khác thường đến đâu thì cuộc đời tôi vẫn không thể nào tệ hại hơn được nữa.
Chuyện diễn ra như thế. Khởi đầu, tôi đến văn phòng anh khoảng một hoặc hai lần mỗi tháng. Watson thu thập một số kiểu trang phục và cùng các món trang trí để tạo ra khung cảnh. Anh bắt đầu với khung cảnh được gọi là u uất, mà tôi cảm thấy mình rất phù hợp để diễn tả. Anh sắp đặt một chiếc ghế bên khung cửa sổ, rồi tôi ngồi với một bộ áo màu ảm đạm, tay cầm một quyển sách và nhìn xa xăm ra ngoài như thể - theo cách anh nói - tôi đang mơ đến người yêu đã mất. Đáng lẽ tôi có thể nói với anh rằng trong đời còn có những nỗi khổ tồi tệ hơn là mất người yêu, nhưng tôi giữ mồm giữ miệng mà nhìn ra ngoài khung cửa sổ, lại mơ đến các món thịt rừng nấu rượu poóc-tô, cà ri gà, và nấm trifle
[42]
nấu với nhục đậu khấu.
Bữa ăn trưa có các món ngon lành như tôi đã tưởng tượng ra. Tôi lo lắng vì mình ăn uống với tất cả vẻ thanh nhã của một nông nô, và anh mỉm cười nhìn tôi khi tôi xúc miếng bánh nhân đào và quế lần thứ hai và thứ ba. Tôi ăn đến căng bụng, không phải vì thiếu chất trầm trọng, mà chỉ vì từ lâu đã không được ăn ngon, ăn món cay nồng và ngọt dịu. Lần đầu tiên trong bốn năm (trừ dịp Giáng sinh) được nếm lại các món nhiều gia vị cùng phó mát xanh cùng rượu vang quả là thần tiên. Tôi đã nói như thế, và anh cười lớn, và có vẻ rất vui. Khi anh tiễn tôi ra cửa văn phòng, anh nắm lấy hai tay tôi và nhìn sâu vào mắt tôi mà thốt lời cảm ơn.
Như tôi đã đoán trước, tôi được gọi đến văn phòng anh thường xuyên hơn, và khi chúng tôi đã quen biết với nhau hơn thì việc ngồi làm mẫu cũng kém nghiêm túc. Ý tôi nói là dần dà tôi ăn mặc ít đi, rồi đến lúc tôi ngả người dựa vào đám dương xỉ với một tấm vải muxơlin mỏng quấn quanh. Tôi nghĩ rằng còn quá sớm để từ bỏ việc giả vờ đóng góp vào tiến bộ của y khoa. Watson - hoặc Paul theo tên bây giờ tôi gọi anh - tiến hành các nghiên cứu theo ý anh thích, đôi lúc tỏ vẻ như có lỗi, mắt chớp chớp quay đi để tránh ánh mắt tôi như thể anh bối rối khi yêu cầu tôi làm những việc như thế.
Anh tỏ ra tử tế và chín chắn, quan tâm đến ý kiến của tôi, trong khi nhiều người đàn anh quen biết tôi bên ngoài bệnh viện tâm thần đã không quan tâm như thế. Tôi mến anh, rồi một ngày lúc dùng bữa xong, tôi cảm thấy hạnh phúc khi anh nắm lấy bàn tay tôi, run rẩy. Anh dịu dàng, khát khao, tỏ ra sợ hãi vì sai trái, và mỗi lần chúng tôi gặp nhau anh đều ngỏ ý xin lỗi vì đã tuân theo bản năng của anh mà lợi dụng tôi. Tôi không hề bận tâm. Đối với tôi, đấy là một bí mật tràn đầy xúc cảm, một nỗi khao khát ngọt ngào, cho dù anh luôn bồn chồn và hoảng hốt khi chúng tôi thành thân với nhau, một cách vội vã, sau một bữa ăn trưa thịnh soạn, trong văn phòng khóa kín cửa.
Và anh tỏa mùi nhà kính, mùi lá cà chua và đất ẩm, mà tôi thấy nồng nồng và thỏa mãn. Cho đến bây giờ, mỗi khi nhớ về mùi hương ấy là tôi nghĩ đến bánh nhân trái cây với kem hoặc bít tết trong rượu cô-nhắc. Thậm chí một đêm nọ, nhiều năm sau, trong căn lều lạnh lẽo giữa rừng, khi tôi ngửi mùi hương ấy từ Parker tôi lại nhớ đến món bánh sô cô la đăng đắng.
Tôi nghĩ mình sẽ chẳng bao giờ biết được chuyện gì đã xảy ra. Vì lý do nào đấy, Watson bị thất thế. Theo tôi được biết thì không phải là do tôi, chắc chắn là không ai nói ra gì cả, nhưng một buổi sáng y tá trưởng thông báo Bác sĩ Watson phải ra đi thình lình, và trong vòng ít ngày sẽ có người thay thế. Một ngày anh còn ở đấy, ngày kế đã ra đi. Hẳn anh đã mang theo chiếc máy cùng các tấm hình. Một vài tấm trông đẹp; những bóng màu tối trên nền kính, tỏa ánh lung linh như bạc khi tôi nghiêng ra phía có ánh sáng. Khi cảm thấy u uất - thường khi như thế bây giờ - tôi tự nhắc nhở rằng anh đã run rẩy khi chạm đến tôi; rằng có thời tôi đã là niềm hứng khởi cho ai đó.
Chúng tôi đã đi băng qua vùng bình nguyên trong ba ngày mà không thấy quang cảnh thay đổi gì cả. Cơn mưa kéo dài trong hai ngày làm lớp tuyết tan chảy, khiến cho bước đi trở nên khó khăn. Bùn ngập đến mắt cá chân, và nếu nói như thế nghe ra chẳng có gì nhiều thì tôi phải nhấn mạnh là khá tồi tệ. Mỗi bước chân bị dính theo hàng cân bùn đất, còn chiếc váy của tôi trĩu nặng vì thấm nước. Vì không bị nặng nề với váy như phụ nữ Parker và Moody đi trước cùng với chiếc xe trượt tuyết.
Mưa tạnh vào cuối ngày thứ hai, và khi tôi vừa thầm cảm ơn bất kỳ đấng linh thiêng nào còn phù hộ cho mình, thì một đợt gió bắt đầu và vẫn thổi mãi từ lúc ấy. Gió làm cho mặt đất khô lại và việc đi đứng được dễ dàng hơn, nhưng nó thổi từ hướng đông-bắc nên rất lạnh, đến nỗi tôi kinh qua một hiện tượng mà trước đây mình chỉ nghe nói, đấy là nước mắt đóng băng ở khóe mắt. Sau một tiếng đồng hồ, mắt tôi đã đỏ nhừ.
Bây giờ Parker và hai con chó dừng lại để chờ cho tôi theo kịp. Ông đứng trên một gò nhô lên một tí, và khi chúng tôi loạng choạng bước đến bên ông, tôi thấy tại sao ông đứng đợi: cách vài trăm mét phía trước là cụm tòa nhà - vật thể đầu tiên do con người xây nên mà chúng tôi trông thấy kể từ lúc rời Himmelvanger.
“Chúng ta đi theo đúng con đường,” Parker nói, tuy rằng “con đường” là từ ngữ mà tôi thấy không đúng.
Moody đang nhìn qua đôi tròng kính: “Đó là nơi chốn nào vậy?” Thị lực của anh kém cỏi, càng kém thêm vì ánh sáng xám lờ mờ xuyên qua trần mây.
“Đó là một thương điếm trước kia.”
Từ đây, tôi nhìn thấy có điều gì đấy không ổn; nó có tính sát khí của một tòa nhà trong cơn ác mộng.
“Ta nên đến xem. Phòng trường hợp hắn đã đến đây.”
Khi đến gần hơn, tôi nhận biết chuyện gì đã xảy ra. Thương điếm đã bị đốt trụi; mấy chiếc bè nằm chỏng chơ nổi bật trên nền trời, mấy cây xà gãy đổ chĩa lên qua các góc cạnh sai lệch. Những bức tường còn sót lại đều thành than màu đen, và võng xuống. Nhưng điều kỳ lạ nhất là các cấu trúc gần đây bị bao phủ trong tuyết tan chảy ban ngày và đông cứng ban đêm, từng lớp này qua lớp khác nước tan chảy rồi đông lại nên bộ khung trần trụi phồng to lên và được băng tráng lớp ngoài. Đấy là một quang cảnh khác thường: đen đúa, phồng rộp, lóng lánh; các tòa nhà phủ băng như thể đã bị một sinh vật dị dạng nuốt chửng. Tôi - và tôi nghĩ cả Moody nữa - cảm thấy như là một chuyện kinh dị.
Tôi chỉ muốn thoát khỏi nơi này.
Parker đi giữa các bức tường, xem xét mặt đất. Ông chỉ tay đến một đống không hình thù rõ rệt trên nền đất ở một góc: “Ai đó đã để lại quần áo.”
Tôi không hỏi ông ai lại làm như thế. Tôi có linh cảm mình không muốn biết.
“Đây là Chỏm Elbow. Bà có nghe nói tới bao giờ chưa?”
Tôi lắc đầu, tin chắc đây là thêm một chuyện tôi không biết thì tốt hơn.
“Công ty XY đã xây nên nơi này. Công ty Vịnh Hudson không ưa việc họ xây một thương điếm ở đây, nên đã đốt rụi nó.”
“Làm thế nào ông biết được?”
Parker nhún vai: “Ai cũng biết. Mấy chuyện như vậy đã xảy ra.”
Tôi nhìn về hướng Moody, cách tôi gần ba mươi mét, qua một cánh cửa đã biến mất, mò mẫm giữa một đống đổ nát mà lúc trước có lẽ là đàn dương cầm.
Tôi nhìn ngoái lại Parker để xem ông có mưu đồ gì xấu không, nhưng khuôn mặt ông vẫn không biểu lộ cảm xúc gì cả. Ông đã nhặt lên một mảnh vải cứng, đóng băng và căng nó ra - từng mảnh băng vỡ vụn phát ra âm thanh phản đối - để cho thấy hình thù một chiếc áo sơ mi, có lẽ lúc trước là màu xanh lam nhưng bây giờ đã quá dơ bẩn nên khó mà biết màu gì. Mảnh áo đã ngấm nước, lem luốc và để mặc ở đây cho thối rữa.
Thình lình, tuy muộn màng, tôi nhận ra tầm quan trọng: “Đấy có phải là máu không?”
“Tôi không biết. Có lẽ vậy.”
Ông sục sạo thêm chung quanh, và thốt lên một tiếng kêu thỏa mãn. Lần này, chính tôi cũng hiểu tại sao - có những dấu vết của một đống lửa, đen đủi và phủ bồ hóng, gần một chân tường.
“Mới đây phải không?”
“Cách đây khoảng một tuần. Thế là người của ta đã đến đây, và nghỉ qua đêm. Nếu không bắt chước hắn thì ta còn bị tồi tệ hơn nữa.”
“Nghỉ đêm ở đây à? Nhưng còn sớm. Ta nên đi tiếp, đúng không?”
“Nhìn lên trời xem.”
Tôi nhìn lên; trần mây, bị chia ra thành bốn khung bởi những cây xà, xuống thấp và xám xịt. Nhuốm màu trận bão tuyết.
Khi nghe qua dự tính, Moody vẫn tỏ ra lạc quan: “Nhưng chuyện gì thế - thêm hai ngày để đi tới Nhà Hanover hay sao? Tôi nghĩ ta nên đi tiếp.”
Parker bình tĩnh trả lời: “Sẽ có cơn bão tuyết. Ta sẽ vui mà có chỗ trú.”
Tôi có thể thấy đầu óc của Moody quay cuồng: không rõ có nên phản đối hay không hoặc Parker có chịu nghe anh hay không. Nhưng gió đã thổi đến, và anh nhụt chí; bầu trời đã trở nên xấu xí và hung hãn. Dù cho thương điếm bị bỏ phế trông xa lạ và huyền bí, vẫn còn tốt hơn là không có gì cả.
Theo đó, chúng tôi dựng lều giữa chốn hoang tàn. Parker dựng nên một chái trú thân rộng dựa vào một trong các bức tường còn sót lại, rồi gia cố bằng những thanh gỗ đen đủi. Tôi lo âu vì trông nó vững chắc hơn là chỗ trú thân tôi thấy ông làm lúc trước, nhưng vẫn theo chỉ dẫn của ông và đem đồ đạc từ chiếc xe trượt tuyết xuống. Trong mấy ngày qua, tôi đã quen dần với những công việc cần thiết cho tiện nghi và sự sinh tồn; tôi chất thức ăn bên trong (ông có thật sự nghĩ chúng tôi sẽ bị giam hãm trong nhiều ngày?), trong khi Moody đi kiếm củi - ít nhất thì đầy rẫy chung quanh - và cậy phiến băng trên những bức tường để đun nước. Chúng tôi làm việc nhanh nhẹn vì lo màn đêm buông xuống nhanh và gió thổi mạnh thêm.
Khi chúng tôi đã xong xuôi các bước chuẩn bị thì tuyết đang thổi phần phật chung quanh, châm chích vào mặt như đàn ong. Chúng tôi bò vào chái trú thân; Parker đốt lửa để đun nước. Moody và tôi ngồi đối mặt với cửa ra vào đã được giằng với những cây xà lớn, nhưng những cây xà này bắt đầu ngả nghiêng như thể có người đang cố chui vào. Trong một tiếng đồng hồ kế tiếp, gió càng lúc càng mạnh cho đến lúc mỗi người không thể nghe người khác nói gì. Âm thanh gầm rú nghe kỳ quái, cùng với tiếng vải bạt đập phành phạch và tiếng các súc gỗ của bức tường kêu răng rắc nghe kinh khiếp. Tôi không rõ cái chái trú thân có chịu đựng được hay không, hoặc sẽ đổ sụp dưới sức mạnh và trọng lượng của tuyết và băng bên trên. Parker không có vẻ lo lắng, dù tôi dám đánh cược là Moody cũng sợ hãi như tôi; mắt anh mở rộng sau tròng kính, và anh luôn giật nẩy người vì âm thanh chung quanh.
Moody hỏi: “Hai con chó ở bên ngoài ổn chứ?”
“Ổn. Chúng sẽ nằm sát bên nhau mà giữ hơi ấm cho nhau.”
“À. Ý tưởng hay.” Moody cười, nhìn qua tôi, rồi hạ tầm mắt khi thấy tôi không cười theo làm bạn đồng hành của anh.
Moody uống trà rồi cởi giày ủng và bít tất ra, cho thấy bàn chân phủ máu khô. Vào những đêm trước, tôi đã thấy anh tự chăm sóc cho bàn chân, nhưng đêm nay tôi tỏ ý muốn giúp. Có lẽ đấy là do tôi nghĩ về Francis, rằng hai người không cách nhau bao nhiêu tuổi; có lẽ đấy là do cơn bão tuyết bên ngoài và ý nghĩ rằng tôi cần đến tất cả những người bạn mình có thể tìm được. Anh ngả người ra và duỗi từng chân một cho tôi lau và băng bó bằng những dải vải lanh, vốn là tất cả những gì chúng tôi có. Tay tôi không được nhẹ nhàng, nhưng anh vẫn im lìm trong khi tôi lau các vết thương với cồn rồi băng chặt lại. Qua khóe mắt mình, tôi thấy dường như Parker đang nhìn hai chúng tôi, dù rằng với làn khói tỏa từ đống lửa và từ dọc tẩu của ông, tôi không nhìn rõ và có thể nhìn lầm. Khi tôi đã băng bó xong xuôi, Moody rút ra cái lọ bẹt trao cho tôi. Đây là lần đầu tiên tôi thấy cái lọ này. Tôi tiếp nhận với lòng cảm kích; đấy là whisky, không đặc biệt ngon, nhưng hương vị dịu nồng lan tỏa dọc theo cổ họng tôi, làm tôi chảy nước mắt. Anh trao cái lọ bẹt cho Parker nhưng ông chỉ lắc đầu. Bây giờ nghĩ lại, tôi chưa từng thấy ông chạm đến rượu.
Moody lại mang vào bộ bít tất thấm máu và giày ủng - nếu để ra ngoài sẽ quá lạnh. “Bà Ross ạ, nếu bà đi theo được mà chân không bị phồng rộp thì bà hẳn là một phụ nữ mạnh mẽ của vùng sâu.”
Tôi giải thích: “Tôi mang giày da đanh nên chân không bị chà xước gây phồng rộp. Anh nên cố mua một đôi khi chúng ta đến Nhà Hanover.”
“À. Vâng.” Anh quay sang Parker: “Ông Parker, ông nghĩ chừng nào chúng ta sẽ tới đó? Tối nay cơn bão tuyết này sẽ dứt không?”
Parker nhún vai: “Có thể. Nhưng dù vậy, tuyết sẽ làm ta khó đi hơn. Có lẽ phải mất hai ngày.”
“Ông đã tới đó chưa?”
“Đã lâu rồi.”
“Có vẻ như ông rành đường đi.”
“Đúng.”
Có một khoảnh khắc im lặng, kém thân thiện. Tôi không hiểu tại sao có sự kém thân thiện, nhưng tôi biết chắc là có.
Moody hỏi tiếp: “Ông quen biết quản trị viên ở đó không?”
“Họ ông ấy là Stewart.”
Tôi nhận ra ông đã không trả lời chính xác câu hỏi.
“Stewart... ông biết tên không?”
“James Stewart.”
“À, tôi không rõ có phải là cùng một người không... Gần đây tôi đã nghe câu chuyện về một người tên James Stewart, nổi tiếng vì đã có một chuyến đi đường dài trong điều kiện mùa đông kinh khủng. Tôi tin đó là cả một kỳ công.”
Như lúc nào, vẻ mặt của Parker vẫn không biểu lộ cảm xúc: “Tôi không nói chắc được.”
“À... ra thế.” Giọng Moody nghe như anh rất lấy làm vui. Tôi đoán nếu người ta không quen biết ai ở vùng này, sau khi nghe nói về một người nào đấy trước khi gặp mặt thì cũng giống như có một người bạn cũ.
Tôi hỏi Parker: “Thế thì ông quen biết ông ấy, phải không?”
Ông nhìn qua tôi: “Tôi gặp ông ấy khi làm việc cho Công ty. Nhiều năm về trước.”
Giọng nói của ông nghe như ông không muốn tôi hỏi han thêm.
Dĩ nhiên là Moody không nhận ra: “Tốt, tốt, hẳn sẽ là rất hay... Một cuộc tái hợp.”
Tôi mỉm cười. Nơi Moody có vẻ gì đấy dễ mến, dễ quậy tưng như con bò đực trong một cửa hàng đồ sứ… Rồi tôi nhớ lại việc mà anh đang cố làm, và nụ cười của tôi lịm tắt.
Tuyết vẫn rơi không ngớt, và cơn gió cuồng nộ cũng thế. Theo sự đồng lòng không ai nói ra, tấm bạt không được chắn thành bức màn nên không tạo được cho tôi khoảng riêng tư. Tôi nằm xuống giữa hai người đàn ông, cuộn mình giữa các lớp chăn, cảm thấy hơi nóng từ than hồng làm rát da mặt nhưng không muốn cử động. Rồi Moody nằm xuống bên tôi, và cuối cùng Parker dập tắt đống lửa và cũng nằm xuống, thật gần đến nỗi tôi cảm nhận được ông và ngửi được mùi hương của nhà kính mà ông mang theo. Không gian tối như mực, nhưng tôi nghĩ mình sẽ không nhắm mắt suốt đêm, trong khi gió vẫn gầm rú và đập vào vải bạt phành phạch lung lay như là có sự sống. Tôi có cảm giác kinh hãi là chúng tôi sẽ bị chôn vùi dưới tuyết, hoặc các bức tường sẽ đổ ụp xuống và đè chúng tôi bên dưới; tôi tưởng tượng ra mọi số phận khủng khiếp khi nằm với quả tim đập thình thịch và đôi mắt căng mở. Nhưng hẳn tôi đã thiếp ngủ, bởi vì tôi có giấc mơ, cho dù tôi không nghĩ mình đã nằm mơ trong nhiều tuần.
Thình lình tôi thức giấc mà thấy - tôi nghĩ thế - căn lều đã biến mất. Gió đang gào thét như có hàng nghìn tử thần
[43]
vây quanh, và không gian dày đặc tuyết, làm cho tôi hoa mắt. Tôi nghĩ mình đã thét lên, nhưng âm thanh không thoát ra giữa cơn cuồng nộ. Parker và Moody đang quỳ gối, đang cố khép lại cửa căn lều bị gió thổi tốc ra. Cuối cùng họ giằng lại được tấm bạt, nhưng tuyết đã rơi vào thành từng cụm nhỏ bên trong căn lều. Tuyết rơi lên trang phục và trong tóc chúng tôi. Moody thắp đèn lên; anh đang run bắn. Ngay cả Parker cũng không được bình thản như thường ngày.
Moody lắc đầu và phủi lớp tuyết khỏi hai chân: “Này, tôi không rõ hai vị sẽ làm gì, nhưng tôi cần uống một thứ gì đó.”
Anh rút ra cái lọ bẹt, nốc một hớp rồi trao cho tôi. Tôi trao lại cho Parker; ông này lưỡng lự rồi nhận lấy. Moody mỉm cười như thể cảm nhận một chiến thắng cá nhân. Parker nhóm lửa để pha trà, và ba chúng tôi đều lấy làm cảm kích, quây quần chung quanh với những ngón tay nóng rát. Tôi đang run rẩy, mặc dù không biết vì lạnh hoặc vì bị sốc, và vẫn còn run cho đến khi tôi hớp một ngụm trà pha đường. Tôi nhìn hai người đàn ông hút dọc tẩu mà ghen tị; đấy là một thứ khác tạo cảm giác ấm áp và xoa dịu, cũng như một miếng gỗ hồng sắc dùng để chèn đôi hàm răng tôi đang đánh lập cập
[44]
.
Khi whisky đã cạn, Moody nói: “Tuyết rơi dày ngoài kia.”
Parker gật đầu: “Tuyết ngoài kia càng dầy thì trong này càng ấm.”
Tôi nói: “Quả là một ý nghĩ hay. Ta sẽ ấm và thoải mái trong khi bị ngộp thở cho đến chết.”
Parker mỉm cười: “Ta có thể dễ dàng đào bới để thoát ra ngoài.”
Tôi mỉm cười lại với Parker, ngạc nhiên khi thấy ông dễ chịu đến thế, rồi tôi nhớ lại giấc mơ trước khi mình thức giấc, và tôi giấu mặt sau tách nước trà. Không phải là tôi nhớ chính xác mình đã mơ thấy gì; chỉ là cảm giác nồng ấm lan tỏa trong tôi khiến cho tôi quay mặt đi, giả vờ ho, hầu hai người không nhận ra đôi má tôi đang đỏ bừng.
Gần giữa trưa, cơn bão tuyết dịu hẳn. Khi tôi thức dậy lần nữa, trời đã sáng, có thêm tuyết dạt vào các góc căn lều và lấp đầy các khoảng trống giữa ba chúng tôi. Khi tôi ra khỏi lều, trời vẫn nổi gió và xám xịt, nhưng trông huy hoàng so với đêm qua. Cái lều bị vùi lấp phân nửa dưới lớp tuyết dày một mét; toàn quang cảnh trông khác hẳn dưới lớp tuyết: đẹp đẽ hơn, không có vẻ báo trước điềm gở như tối qua. Phải mất vài phút tôi mới nhận ra rằng, cho dù Parker đã trấn an, quả thật một phần bức tường đã sụp đổ trong đêm, tuy không gây nguy hiểm cho chúng tôi. Tôi cố không nghĩ đến chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng tôi giăng lều cách sáu, bảy mét về phía đông. Chúng tôi đã không làm thế, đấy là điều cốt yếu.
Ban đầu, tôi e sợ hai con chó đã bị chôn thây; khi nhìn quanh tôi không thấy dấu hiệu gì của chúng, trong khi ngày thường chúng thường sủa đòi ăn. Rồi không biết từ đâu Parker xuất hiện với một cây gậy dài chọc xuống lớp tuyết, gọi hai con chó với tiếng kêu sắc lẻm lạ lùng mà ông dùng để thông tin với chúng. Thình lình trông như có một vụ nổ gần ông, rồi con Sisco phóng lên từ đống tuyết, theo sau là con Lucie. Chúng nhảy đến ông, sủa mãnh liệt, cả thân hình vẫy qua lại, rồi ông vuốt ve chúng. Hẳn ông thấy nhẹ nhõm mà tìm ra hai con chó; bình thường ông chẳng hề chạm đến chúng, nhưng bây giờ ông mỉm cười, thật sự tỏ ra vui mừng. Tôi chưa hề thấy ông mỉm cười với tôi như thế. Hoặc dĩ nhiên là với ai thì cũng thế.
Tôi đi đến chỗ Moody đang vụng về thu nhặt các món trong lều: “Để tôi làm cho.”
“À, Bà Ross muốn làm hả? Cảm ơn. Bà làm cho tôi xấu hổ. Sáng nay bà cảm thấy thế nào?”
“Nhẹ nhõm, cảm ơn anh đã hỏi thăm.”
“Tôi cũng vậy. Quả là một đêm lý thú, phải không?”
Anh mỉm cười, trông gần như láu lỉnh. Sáng nay anh cũng có vẻ sảng khoái. Có lẽ đêm qua mỗi người trong chúng tôi đều sợ hãi hơn là mình muốn nhìn nhận.
Rồi sau đấy, khi chúng tôi tiếp tục đi về hướng đông-bắc, ngay cả khi loạng choạng bước trên lớp tuyết dày cả mét, ba người đi gần nhau hơn, Parker điều chỉnh nhịp bước theo hai chúng tôi, như thể chúng tôi là ba người tìm thấy niềm an ủi khi đi bên nhau.
***
Espen lên tiếng một cách khẩn trương: “Line à, tôi cần nói chuyện với em.”
Line cố kiềm chế cảm giác quay cuồng trong tim khi nghe anh gọi tên cô. Trong vài ngày qua, hai người đã không trao đổi với nhau lời nào.
“Cái gì? Em nghĩ vợ anh đang nghi ngờ lắm đó.”
Đôi mắt anh toát vẻ van nài khiến cho cô hầu như bật khóc vì vui mừng.
“Tôi không chịu nổi. Nhiều ngày qua thậm chí em còn không nhìn tôi.”
Line buông xuôi và mỉm cười. Rồi anh ôm lấy cô, ép sát người cô vào anh, hôn lên mặt cô, môi cô, cổ cô. Rồi anh kéo cô đi theo mình, mở một cánh cửa dẫn vào một phòng chứa vật dụng lau chùi, và đóng cánh cửa lại.
Vật lộn với trang phục trong không gian tối tăm của gian nhà kho, ép người vào chồng xà phòng và cái gì đó như là cây chổi, Line có ảo giác dằn xóc, rời rạc. Đấy như thể là vì không có ánh sáng nên họ được miễn tội. Thậm chí cô không thể nói ai đang ở đây với mình. Hẳn anh cũng cảm thấy thế - họ có thể là bất kỳ phụ nữ nào và đàn ông nào, ở bất kỳ nơi nào. Chẳng hạn như Toronto. Và rồi cô biết mình sẽ làm gì.
Line cố tách đôi môi ra khỏi làn da anh để nói: “Em không thể ở đây. Em sắp ra đi. Ngay lúc có thể được.”
Espen lùi lại. Cô có thể nghe tiếng anh thở, nhưng không thể nhìn khuôn mặt anh trong bóng tối này.
“Đừng, Line à, tôi không chịu nổi nếu không có em. Chúng ta có thể cẩn trọng. Không ai biết được.”
Line cảm nhận cuộn giấy bạc trong túi, và đầu óc tràn ngập với quyền lực của nó: “Em có tiền.”
“Ý em nói gì, em có tiền?”
Trước khi đến để hành nghề xây dựng ở Himmelvanger rồi lưu lại, Espen chưa từng có tiền trong đời, luôn sống theo cách tay làm hàm nhai.
Line mỉm cười trong bí mật: “Em có bốn mươi đô la. Đô la Mỹ.”
“Cái gì?”
“Chỉ có anh biết chuyện này.”
“Làm thế nào em có được?”
“Đó là một bí mật!”
Khuôn mặt Espen thoát ra nụ cười với vẻ hồ nghi. Theo cách nào đó, cô nhận ra. Cô có thể cảm nhận anh run rẩy khi cười.
“Chúng ta có thể cưỡi hai con ngựa. Chỉ cần mất ba ngày là đến Caulfield, chúng ta có thể mặc tất cả quần áo và dẫn các đứa trẻ đi theo. Rồi ta có thể đáp tàu hơi nước đi Toronto... hoặc Chicago. Đi đâu cũng được. Em có đủ tiền để kiếm một căn nhà trong khi ta đi tìm việc.”
Giọng Espen nghe ra có phần hoảng hốt: “Nhưng Line à, bây giờ là giữa mùa đông. Nếu chờ cho đến mùa xuân thì tốt hơn - còn các đứa trẻ thì sao?”
Line cảm thấy một thoáng thiếu kiên nhẫn: “Tuyết không rơi - thật ra là trời đang ấm áp! Anh muốn chờ đợi để làm gì?”
Espen thở dài: “Hơn nữa, khi em nói ‘các đứa trẻ’, em có ý nói Torbin và Anna, phải không?”
Line đã trông chờ điều này. Tất cả thật sự là do lỗi của Merete. Ước gì cô ấy chết đi. Cô này chẳng làm được gì và không ai ưa cô; thậm chí Per cũng không mến trong khi ông mến mọi người khác.
“Anh yêu à, em biết là khó khăn, nhưng ta không thể dẫn theo tất cả bọn trẻ. Có lẽ sau này, khi ta có nhà, anh có thể trở về mà đón chúng, nhé?”
Trong thâm tâm, cô tin việc này khó xảy ra. Cô không tưởng tượng được là Merete - hoặc ngay cả Per - lại để Espen dẫn đi các đứa trẻ để sống với đứa lăng loàn. Nhưng Espen yêu mến ba đứa con của anh.
“Chẳng bao lâu nữa, chúng ta có thể sống với nhau. Nhưng bây giờ... em phải đi bây giờ. Em không thể ở đây.”
“Tại sao phải vội như vậy?”
Đây là con bài át chủ của Line, mà cô khôn khéo khai thác: “À, em hầu như chắc... không, em tin chắc là em đang chuẩn bị cho một gia đình.”
Một khoảnh khắc im lặng bao trùm. Line thầm nghĩ anh hẳn phải biết sự việc xảy ra như thế nào.
“Tại sao lại thế được? Chúng ta đã cẩn thận!”
“À... không phải lúc nào chúng ta cũng cẩn thận.” Anh chẳng cẩn thận gì cả - cô nghĩ đáng lẽ chuyện này đã xảy ra sớm hơn nếu anh cứ muốn làm theo ý mình. “Anh Espen à, anh không giận em chứ?”
“Không. Tôi yêu em. Chỉ có điều...”
“Em biết, Nhưng chính vì thế mà em không thể chờ cho đến mùa xuân. Chẳng bao lâu người ta sẽ biết được. Đây này...” Cô cầm lấy bàn tay anh rồi luồn dưới eo mình.
“Ôi, Line...”
“Thế thì chúng ta phải đi, đúng không, trước khi tuyết rơi trở lại? Kẻo không...”
Kẻo không, hai người không dám nghĩ đến hậu quả sẽ ra sao.
Chiều hôm ấy, Line đi vào phòng anh con trai. Cô chờ cho đến khi Jacob đi ra ngoài và khuất bóng trong khu chuồng gia súc, rồi cô bước vào. Chiếc chìa khóa ở phía ngoài cánh cửa - bây giờ khi Moody đã đi, không ai xem nghiêm túc việc khóa cửa.
Francis ngạc nhiên nhìn lên khi cô bước vào. Từ lúc mẹ anh đi - ngày cô hôn anh và anh trao tiền cho cô - cô chưa từng trở lại đây một mình. Máu cô vẫn dồn lên mặt mỗi khi cô nghĩ về chuyện này. Francis vẫn mặc bộ quần áo của mình và đang ngồi trên chiếc ghế gần cửa sổ. Anh đang cầm một mảnh gỗ và một con dao - đang gọt đẽo món gì đó. Line giật nảy mình - cô đã hình dung anh vẫn phải cần nằm trên giường, yếu ớt và xanh xao.
Trước khi có thể dừng lại, cô nói: “À, anh đang thức.”
“Vâng, tôi khỏe lên nhiều rồi. Ngay cả Jacob cũng tin tưởng tôi mà đưa con dao anh ấy cho tôi.” Anh cầm con dao ra dấu, và mỉm cười với cô: “Cô được an toàn.”
“Bây giờ anh đi được chưa?”
“Tôi có thể đi đứng, với cây nạng.”
“Thế thì tốt.”
Anh ra vẻ lo lắng: “Cô ổn không? Ý tôi nói, mọi việc ổn không, bên ngoài cánh cửa đó?”
“Vâng... tức là, không, không hẳn vậy. Tôi đến để yêu cầu anh một việc. Tôi cần anh giúp, về chuyến đi của anh từ Caulfield... Anh hứa không tiết lộ gì nhé? Ngay cả đối với Jacob?”
Anh ngạc nhiên nhìn cô chăm chăm: “Vâng, được rồi.”
“Tôi chuẩn bị ra đi. Tôi phải đi bây giờ, trước khi tuyết lại rơi. Chúng tôi định mang theo ngựa và đi về hướng nam. Tôi cần anh chỉ đường.”
Francis ra vẻ kinh ngạc: “Đường đi Caulfield hả?”
Cô gật đầu.
“Nhưng nếu tuyết rơi khi cô đang trên đường đi thì sao?”
“Mẹ anh đã đi được. Trong tuyết. Cưỡi ngựa thì còn dễ hơn.”
“Ý cô nói cô và hai đứa trẻ phải không?”
“Đúng.”
Cô ngẩng đầu, cảm thấy máu dồn lên cổ rồi lan đến tận chân tóc. Francis quay người, tìm chỗ đâu đó để đặt mảnh gỗ và con dao xuống. Trong khi rút ra cây viết chì và tờ giấy mang theo người, cô nghĩ: bây giờ mình lại xấu hổ. Mặc kệ, có chuyện chẳng đặng đừng. Xem chừng anh sẽ chẳng ghen tức.
***
Vị quan tòa từ St. Pierre ngồi đối diện với Knox trong phòng ngủ-kiêm-nhà giam và thở dài. Ông là người béo lùn, trọng tuổi, ít nhất bảy mươi, với đôi mắt trắng đục như sữa phía sau thấu kính thạch anh xem chừng quá nặng nề đối với sống mũi gầy yếu.
“Theo cách tôi hiểu đúng ý của ông, thì ông đã nói ông ‘không thể đồng ý với cách thức tàn bạo của Mackinley khi cưỡng bách lời khai của William Parker’, nên ông đã phóng thích ông ấy.”
“Chúng tôi không có cơ sở để giam ông ấy.”
“Nhưng ông Mackinley nói ông ấy không khai ra được đã ở đâu trong thời gian đang có nghi vấn.”
“Ông ấy có khai ra. Không có ai xác nhận cho ông ấy, nhưng đối với người làm nghề đặt bẫy thì không có gì là lạ.”
“Hơn nữa, ông Mackinley nói rằng tù nhân tấn công ông ấy. Còn vết thương của tù nhân là do hành động tự vệ mà có.”
“Ông Mackinley không bị một vết trầy sướt nào, và nếu bị tấn công thì ông ấy hẳn đã kể cho mọi người. Tôi đã nhìn thấy tù nhân. Đó là sự tấn công đầy ác ý. Tôi biết tù nhân khai sự thật.”
“Hừm. Tôi có nghe qua một người tên William Parker. Có lẽ ông đã biết rằng chính người tên William Parker đã có hồ sơ liên quan đến việc hành hung nhân viên của Công ty Vịnh Hudson chứ?”
Knox nghĩ: Ôi, không.
Vị quan tòa từ St. Pierre nói tiếp: “Chuyện đó xảy ra đã khá lâu rồi, nhưng ông ta là nghi can của một vụ tấn công khá nghiêm trọng, ông thấy đó, nếu ông chỉ cần chờ thêm một thời gian ngắn thì mọi việc hẳn đã sáng tỏ.”
Knox đáp: “Tôi vẫn không tin ông ấy là thủ phạm mà chúng tôi đang truy tầm. Chỉ vì một người đã làm việc gì đó sai trái - một thời gian trước - không có nghĩa là ông ta sẽ làm thêm việc sai trái.”
“Đúng vậy. Nhưng nếu bản chất người đó là hung hãn, thì xu hướng đó có thể bùng lên lần nữa và lần nữa. Cùng một người không thể hung hãn và rồi hiền lành.”
“Tôi không chắc mình đồng ý với ông ở điểm này. Đặc biệt là nếu hành động hung hãn xảy ra lúc người ta còn trẻ.”
“Đúng. Được rồi. Còn có nghi can nào khác đang tự do không?”
“Tôi không muốn mình phải nói ra theo cách đó. Tôi đã phái hai người đi theo dõi một anh trai trẻ mất tung tích gần thời điểm đó. Họ chưa trở về.”
Ông tự hỏi: Và họ đang ở nơi chốn chết tiệt nào? Đã gần hai tuần lễ rồi.
“Tôi được biết bà mẹ của anh ấy cũng mất tung tích?”
Knox đáp: “Bà ấy đi tìm đứa con trai mình.”
“À ra thế.” Ông tháo ra gọng kính vốn đã hằn thành vệt đỏ trên sống mũi ông, rồi dùng ngón tay chà sát. Ánh mắt của ông chiếu đến Knox rõ ràng muốn nói: “Quả thực ông đã gây rối rắm cho cái thị trấn này.”
“Ông định làm gì với tôi?”
Vị quan tòa từ St. Pierre lắc đầu: “Vụ việc này quả thực rất bất thường.” Đầu ông vẫn tiếp tục lắc khẽ, như thể một khi đã bắt đầu thì đó là chuyển động vĩnh cửu: “Bất thường nhất, rất khó mà biết tôi phải suy nghĩ ra sao, Ông Knox ạ. Nhưng tôi nghĩ, trước mắt, tôi có thể tin tưởng ông mà cho ông về nhà. Miễn là ông không - hà hà - rời khỏi nước.”
“Hà hà. Không. Tôi sẽ không làm chuyện đó.”
Knox đứng lên, không muốn mỉm cười lại với nụ cười khô khan của người kia. Ông nhìn ra rằng mình cao hơn người kia cả một cái đầu.
Đã được tự do, Knox cảm thấy kỳ lạ là mình không muốn về nhà vội. Ông dừng lại rồi theo sự thôi thúc mà gõ cửa phòng của Sturrock. Sau một giây, cánh cửa mở ra.
“Ông Knox! Tôi vui mừng thấy ông lại được tự do. Tôi đoán vậy, hay là ông đã trốn thoát?”
“Không. Tôi được tự do, ít nhất là vào lúc này. Tôi có cảm tưởng như mình là một con người mới.”
Dù cho đang mỉm cười và giọng điệu ra vẻ khôi hài, ông không chắc Sturrock nhận ra là mình đang đùa cợt. Ông chưa bao giờ thành công nhiều trong việc đùa cợt - ngay cả lúc còn trẻ - mà ông nghĩ là do điều gì đó liên hệ tới phong thái thâm trầm của mình. Khi còn là một luật sư trẻ tuổi, ông đã nhận ra rằng cảm xúc mà ông thường tạo cho người ta là nỗi hoảng hốt và mặc cảm phạm tội, như thể ông đã ra đòn phủ đầu. Việc này cũng có tác dụng của nó.
“Vào đây.” Sturrock đưa ông vào bên trong như thể Knox là người mà ông muốn gặp nhất trên đời.
Knox tự cho phép mình tự mãn về thái độ này, và đón nhận một ly whisky: “Này, chúc sức khỏe!”
“Chúc sức khỏe! Tôi xin lỗi đây không phải là rượu mạch nha, nhưng dù sao ta đã ở đây... Bây giờ xin cho tôi biết, ông thấy một đêm trong nhà giam là như thế nào?”
“À...”
“Tôi ước gì có thể nói rằng mình chưa từng kinh qua, nhưng buồn thay, không đúng. Cách đây lâu rồi, ở Illinois. Nhưng vì phần đông mọi người đều là tội phạm ở dưới đó, nên tôi có nhiều bạn tốt...”
Hai người trò chuyện một lúc, mỗi người đều thoải mái với người kia. Chai rượu vơi dần khi khung cửa sổ tối đen. Knox nhìn lên bầu trời và có thể nhận ra trên các mái nhà là màu đen nặng trĩu, báo hiệu thời tiết sẽ xấu thêm. Phía dưới, một bóng người vội vã bước ngang con đường vào của hiệu bên dưới, ông không nhìn ra đó là ai. Ông nghĩ có lẽ tuyết sẽ rơi nữa.
“Thế thì ông vẫn lưu lại đây, chờ cho anh con trai trở về phải không?”
“Vâng, tôi nghĩ vậy.”
Một khoảnh khắc im lặng kéo dài; whisky đã cạn. Cả hai đang nghĩ đến cùng một việc.
“Ông sẽ phải làm giàu cho cái quán này bằng... tấm thẻ xương.”
Sturrock nhìn xéo qua ông, một ánh mắt đầy suy tính: “Tôi nghĩ phải như vậy.”
***
Vào buổi tối ngày thứ sáu, lần đầu tiên họ nhìn thấy đích đến. Donald bước lê theo sau - ngay cả Bà Ross có thể đi nhanh hơn anh vì chân anh bị phồng rộp. Không thể nào bỏ rơi đôi giày ủng gây cực hình, nhưng ngay cả với cái chân đã hoàn toàn được băng bó kín, mỗi bước là một cơn đau cực độ. Hơn nữa, vết thương bị dao đâm lại đau nhức, mà anh giữ bí mật đối với hai người kia. Ngày hôm qua, anh tin rằng vết sẹo sưng tấy trở lại, và lấy lý do dừng bước để lo chuyện riêng tư anh cởi nút áo để xem xét. Vết sẹo vẫn kín, nhưng sưng nhẹ và rỉ ra một ít chất dịch trong. Anh lo lắng sờ để xem chất dịch tiết ra từ đâu. Có lẽ cuộc hành trình đầy gian khổ đã làm cho anh mất sức; khi họ dừng lại nó sẽ phục hồi.
Vì thế, anh vui mừng tột độ khi nhận ra thương điếm từ đằng xa - mà trong những thời khắc bị đau đớn anh nghĩ nó không hiện hữu. Vào lúc này, Donald nghĩ không có gì vinh quang cho bằng được nằm trên một chiếc giường trong một thời gian dài. Anh vui mừng nhớ lại rằng bí mật của hạnh phúc là sự biến đổi giống như sau một hồi đập đầu vào tường rồi dừng lại.
Nhà Hanover nhằm trên một khu đất cao; một con sông chảy vòng bao bọc ba phía. Có cây cối túm tụm nhau phía sau, là cây cối đầu tiên mà họ nhìn thấy sau nhiều ngày - những cây cáng lò uốn cong, còi cọc và những cây thông rụng lá, tuy chỉ cao hơn đầu người một chút nhưng vẫn là cây. Con sông trải rộng và lặng lờ nhưng không bị đóng băng - nhiệt độ chưa xuống thấp lắm - và mang màu đen trên nền tuyết trắng. Khi họ tiến đến khá gần mà vẫn chưa thấy một bóng người, Donald cảm nhận mối sợ hãi dai dẳng là ở đây chẳng có người nào cả.
Thương điếm được xây dựng theo cách thức như Pháo đài Edgar nhưng rõ ràng là cũ kỹ hơn. Hàng cọc tường thành nghiêng ngả; các tòa nhà màu xám và xác xơ qua những đợt tấn công dồn dập của thời tiết. Nói chung, tất cả đều đã sờn mòn, cho dù đã có nỗ lực để phục hồi nhưng bộ mặt bên ngoài vẫn nói lên sự bỏ phế. Donald mơ hồ nhận ra lý do cho tình trạng này. Bây giờ họ đang ở sâu trong vùng Nền đá Canada phía nam Vịnh Hudson. Có một thời, vùng này là nguồn phong phú của lông thú cho Công ty, nhưng lúc ấy đã lâu lắm rồi. Nhà Hanover là phế tích của những vinh quang ngày xưa, giống như một cơ quan đã teo lại trên một thân thể. Nhưng bên ngoài tường thành và chĩa ra phía bình nguyên là một vòng những khẩu đại bác nhỏ, và sau đợt bão tuyết có người nào đó đã chịu khó đi ra bên ngoài và quét dọn lớp tuyết khỏi các khẩu súng này. Những hình thù màu đen ngồi xổm, tương phản với tuyết, là dấu hiệu duy nhất cho thấy hoạt động của con người.
Cánh cổng của tường thành khép hờ, và có những dấu vết do con người để lại đây đó. Dù ba người và chiếc xe trượt tuyết đã hiện rõ trên nền tuyết trong ít nhất một giờ, vẫn không có ai ra đón tiếp.
“Nơi này trông hoang vắng.” Donald nhận xét, mắt nhìn qua Parker để chờ xác định. Parker không trả lời, nhưng đẩy cánh cửa, và chỉ đẩy được dăm bảy phân thì cánh cửa bị kẹt do sức nặng của lớp tuyết phía sau. Khoảnh sân bên trong không được quét tuyết - là cái tội nặng ở Pháo đài Edgar.
“Ông có chắc đúng là nơi đây không?” Donald hỏi, và rồi thấy mình khó mà chống lại thân người mình ngã xuống để anh cởi đôi giày ủng ra. Anh không thể chịu nổi cơn đau thêm một thời khắc nào nữa.
Parker trả lời: “Đúng.”
Donald nhìn quanh khoảnh sân hoang vu: “Có lẽ nó đã bị bỏ hoang.”
“Không, không bị bỏ hoang.” Parker nhìn qua một cuộn khói mỏng tỏa lên từ phía sau một nhà kho thấp. Cuộn khói có cùng màu như bầu trời. Donald cố vươn mình lên trên đôi chân - một nỗ lực siêu nhiên - và lảo đảo đi vài mét.
Rồi một người đàn ông bước quanh góc một ngôi nhà và đứng sững lại: một người cao lớn, da sẫm với đôi vai mạnh mẽ và mái tóc dài, trông hoang dại. Dù cho cơn gió lạnh băng, anh chỉ mặc một chiếc áo lót bằng vải bông mềm mở ra đến thắt lưng. Anh ta đăm đăm nhìn họ, miệng há hốc, lộ vẻ khó hiểu, thân hình rộng chùng xuống và tê cóng vì lạnh. Bà Ross trân trối nhìn như thể trông thấy một hồn ma. Parker bắt đầu giải thích với anh rằng họ từ xa đến, rằng Donald là nhân viên Công ty, nhưng trước khi ông nói dứt, anh ta quay người đi trở lại theo lối anh đã đến. Parker nhìn Bà Ross và nhún vai. Donald nghe bà thì thầm: “Tôi nghĩ anh ta đã say,” và mỉm cười chán nản với chính mình. Rõ ràng là bà không có kinh nghiệm giết thời gian trong mùa đông ở một thương điếm tĩnh lặng.
Bà Ross hỏi: “Ta có nên đi theo anh ấy không?” Cũng như mọi lần, bà có ý hỏi Parker, nhưng Donald lê bước tới, chân anh tê cóng nhưng thời may không còn đau nữa.
Đây là thương điếm của Công ty, vì thế anh cảm thấy bây giờ mình nên lấy quyền dẫn dắt: “Tôi tin chắc sẽ có ai đó đi ra trong một phút. Bà Ross biết không, ở một thương điếm trong mùa đông, đặc biệt là thương điếm bị cô lập như thế này, nhân viên tìm mọi cách để được khuây khỏa mà giết thời giờ.”
Hai con chó vẫn còn ở bên ngoài cánh cổng, bây giờ đang sủa và vẫy vùng mãnh liệt. Có vẻ như chúng không thích đứng yên mà không cắn nhau. Như bây giờ, hình như chúng đang cố giết nhau. Parker quay lại la thét với chúng, cầm cây gậy quật chúng; một chiến thuật trông không hay ho gì nhưng có hiệu quả.
Sau ít phút, có tiếng bước chân trên mặt tuyết và một người đàn ông khác đi vòng quanh góc tòa nhà. Donald nhẹ nhõm thấy đó là người da trắng, có lẽ lớn hơn anh vài tuổi, với gương mặt nhợt nhạt, âu lo, và mái tóc hoe đỏ bù xù. Anh này lộ vẻ bị làm phiền hà nhưng tỉnh táo.
Anh ta cáu kỉnh cất tiếng: “Trời ơi! Như vậy đúng là...”
“Xin chào!” Donald càng vui hơn khi nghe ngữ âm Scotland.
Người đàn ông trấn tĩnh lại phần nào: “À... xin chào. Tôi xin lỗi, đã lâu lắm rồi chúng tôi mới có khách, mà lại trong mùa đông... bất thường. Tôi đã quên cách cư xử…”
Donald chìa bàn tay ra, lắc lư: “Donald Moody, kế toán Công ty ở Pháo đài Edgar.”
“À, Ông Moody. Ờ... Nesbit. Frank Nesbit, phó quản trị viên.”
Trong khoảnh khắc, Donald hoang mang vì cụm từ “phó quản trị viên”, vì đó là chức danh anh chưa từng nghe nói đến, nhưng anh vẫn nhớ mình nên tỏ ra bay bướm đối với Bà Ross: “Xin giới thiệu đây là Bà Ross, và đây là...” Parker đã quay lại, trông có vẻ đe dọa khi cầm cây gậy trên tay, “... à, Parker, người đã dẫn đường cho chúng tôi đến đây.”
Nesbit bắt tay với họ, rồi nhìn xuống chân của Donald, lấy làm kinh hãi: “Trời ơi, chân anh... anh không có giày ủng sao?”
“Có chứ, nhưng tôi bị khó chịu nên đã cởi ra, đằng kia... không có chi đâu, thật mà. Chỉ là mấy bong bóng nước, anh biết đó.”
Donald cảm thấy cảm giác như đầu nhẹ tênh dễ chịu, và tự hỏi liệu mình sắp ngã xuống hay không. Nesbit không có vẻ vội vàng đưa họ vào bên trong, tuy trời đã tối và lạnh thêm. Anh có vẻ như lo lắng và luống cuống, tự hỏi có nên cho họ ở trong nhà khách đã bị bỏ hoang, hoặc chính anh phải ra khỏi khu nhà của mình để nhường cho họ.... Cuối cùng, sau khi đã dao động trong khoảng thời gian mà đối với Donald như cả hàng giờ vì cái chân đã mất cảm giác, Nesbit dẫn họ vòng qua góc tòa nhà, đi dọc một hành lang không ánh sáng rồi mở ra cánh cửa của một gian phòng rộng, không được sưởi ấm.
“Có lẽ xin quý vị vui lòng chờ ở đây trong chốc lát. Tôi sẽ đi tìm người đốt lò sưởi và mang món nóng gì đó. Xin lỗi...”
Nesbit đi ra ngoài, đóng sầm cánh cửa lại. Donald khập khiễng đi đến lò sưởi trống không và buông người xuống chiếc ghế kế bên.
Parker nói ông đi chăm sóc hai con chó, rồi biến mất. Donald nghĩ đến Pháo đài Edgar, nơi khách viếng thăm luôn là lý do cho niềm hồ hởi, và được đối xử như hoàng gia. Có lẽ phân nửa số nhân viên đã bỏ đi; anh nhận thấy lò sưởi rất dơ bẩn, rồi anh không thể chống chọi được nữa với cơn kiệt sức đang chờ cho anh có lý do mà nhắm mắt lại.
“Anh Moody!”
Tiếng nói của bà sắc lẻm, khiến cho anh phải mở mắt ra.
“Hả? Vâng, Bà Ross?”
“Ta không nên nói gì về lý do tại sao ta đến đây, không nên nói ra tối nay. Để xem sự thể như thế nào đã. Ta không muốn họ chuẩn bị đề phòng rồi chống chế.”
“Tùy ý bà.” Anh lại nhắm mắt. Anh cần ngủ rồi mới có thể thảo luận một cách thông suốt. Quả là hạnh phúc khi được thoát ra khỏi cái lạnh cắt da.
Anh có cảm tưởng mình mới thiếp đi chỉ trong chốc lát, nhưng khi anh mở mắt, lò sưởi đã được đốt, còn Bà Ross thì không thấy đâu. Khung cửa sổ đã tối đen; anh không biết bây giờ là mấy giờ. Nhưng quả là sự xa hoa được ngồi trong không gian ấm áp mà anh không muốn cử động. Ước gì có một chiếc giường; nó sẽ trả lại sinh lực cho anh. Rồi tuy vẫn còn mệt nhọc, anh vẫn nhận ra có một người khác trong phòng. Anh quay đầu và thấy một phụ nữ mang hai dòng máu, người đã mang vào một tô nước nóng và ít bông băng. Cô gật đầu với anh rồi ngồi trên sàn, kế bên đôi chân anh, bắt đầu tháo ra lớp vải lanh dính máu khô.
“Cám ơn cô.” Donald có phần ngượng nghịu vì việc chăm sóc, và vì lớp bông băng cũ trông gớm ghiếc. Anh không thể kiềm nén ngáp một cái như muốn trẹo quai hàm: “Tôi là... Donald Moody, kế toán Công ty ở Pháo đài Edgar. Tên cô là gì?”
Cô ít nhìn anh, chỉ lo rửa vết thương trên chân anh. Donald tự cho phép mình ngả đầu tựa thành ghế, thấy mừng vì không phải nói nhiều hoặc thậm chí không phải suy nghĩ. Có thể cho đến ngày mai anh mới thi hành nhiệm vụ của mình. Từ bây giờ đến lúc ấy, theo nhịp độ bàn tay người phụ nữ da ngăm đen đang lau chùi chân anh, anh có thể ngủ và ngủ và ngủ.
***
Khoảnh sân hoàn toàn tối đen, và tôi không thể nghe tiếng hai con chó nữa, như thế quả là điều lạ lùng. Bình thường, khi chó từ bên ngoài đi đến thì tất cả các con chó thi nhau sủa và gầm gừ. Nhưng ở đây, khi chúng tôi đến thì hoàn toàn yên ắng. Tôi lên tiếng gọi Parker. Một trận gió thổi quật quanh tôi và ít bông tuyết đâm vào mặt tôi. Không có tiếng trả lời, và tôi lại kinh sợ; có lẽ vì bây giờ chúng tôi đã đến đây, ông ta đã đi bất kỳ đâu đấy để lo công chuyện riêng của ông. Ngay khi tôi vừa cảm thấy lệ dâng lên khóe mắt, có người mở một cánh cửa bên tay trái tôi và một luồng ánh sáng hình chữ nhật tỏa xuống mặt tuyết.
Có tiếng tranh cãi nóng vội, và tôi nghe tiếng của Nesbit: “Không được nói gì về ông ấy thì tốt hơn, nếu không sẽ biết tay tôi. Đúng ra, tốt hơn mà đứng ngoài vụ này.”
Tôi không nghe rõ tiếng nói kia - nhưng đấy là tiếng của một phụ nữ đang phản ứng lại. Không kịp nghĩ ngợi cho thông suốt, tôi bước vào bóng tối của một mái hiên. Nhưng tôi không còn nghe gì nữa, cho đến khi Nesbit chốt lại cuộc tranh cãi - nếu đúng là tranh cãi - với lời càu nhàu: “Ôi, vì Chúa, cứ làm như cô muốn. Chỉ cần chờ cho đến khi ông ấy trở về.”
Cánh cửa đóng sầm và Nesbit bước ngang qua khoảnh sân, một bàn tay chải qua tóc nhưng không làm cho tóc anh bớt lù xù. Tôi mở cánh cửa rồi khép lại sau lưng mình và bước ngang qua khoảnh sân để gặp anh, làm như là lúc ấy tôi vừa mới đi ra ngoài.
“À, anh Nesbit, anh ở đây...”
“À, Bà...” anh ngưng bặt, hai bàn tay giơ lên.
“Ross.”
“Bà Ross, đúng rồi. Tôi xin lỗi. Tôi vừa...” Anh cười: “Tôi xin lỗi vì đã bỏ bê bà. Có ai đốt lò sưởi chưa? Xin bà thứ lỗi cho chúng tôi lúc này. Tôi e chúng tôi neo người, và vào mùa này trong năm...”
“Không cần thiết phải xin lỗi. Chúng tôi đến đây quá bất ngờ làm phiền anh.”
“Không làm phiền. Không làm phiền gì hết. Công ty tự hào có tính hiếu khách và đại loại như thế... Còn hơn là hân hạnh, xin bà tin đi.” Anh mỉm cười với tôi, dù có vẻ gượng gạo: “Xin mời bà dùng bữa tối với tôi... dĩ nhiên là cả Ông Moody và Ông Parker nữa.”
“Anh Moody thiếp ngủ khi tôi đi ra ngoài. Tôi e anh ấy có nhiều bong bóng nước.”
“Còn bà không có sao? Phải nói đó là đáng kể. Bà nói bà đi từ đâu?”
“Chúng ta đi vào bên trong nhé? Trời lạnh quá...”
Tôi không chắc phải mở đầu câu chuyện như thế nào. Tôi đã muốn bàn với Parker về việc này, nhưng Parker đã đi đâu mất. Tôi đi theo Nesbit dọc một hành lang khác - dường như có nhiều cửa mở ra hành lang này - rồi đi vào một gian phòng nhỏ ấm cúng, có lò sưởi đang cháy. Một chiếc bàn loại cao cấp đặt ở giữa phòng, với hai chiếc ghế. Trên tường là những ảnh màu của ngựa đua và võ sĩ đoạt giải, được cắt ra từ các tạp chí.
“Xin mời bà ngồi. Vâng. Ở đây có phần ấm hơn, phải không? Không gì bằng một lò sưởi nóng ở nơi chốn quái quỷ này.”
Rồi thình lình anh bước ra khỏi phòng mà không báo trước, khiến cho tôi tự hỏi chuyện gì vừa xảy ra. Tôi chưa mở miệng gì hết.
Trong số các võ sĩ và ngựa đua có vài ảnh đẹp, và tôi thấy rằng đồ nội thất cũng thuộc loại tốt; hàng nhập khẩu chứ không phải nội địa. Chiếc bàn làm bằng gỗ xà cừ, bóng lên qua sử dụng và thời gian; hai chiếc ghế có lưng dựa hình đàn lia, có lẽ là hàng Ý. Phía trên lò sưởi treo một tấm ảnh thể hiện cảnh đi săn được lồng khung mạ vàng, nền đậm và áo choàng đỏ sáng rực của thợ săn. Và có ly cốc bằng thủy tinh chì nặng, được chạm một cách tinh tế với hình những con chim. Một người nào đó ở đây có đầu óc thưởng ngoạn và có văn hóa, và tôi nghĩ đấy không phải là Nesbit.
Nesbit quay trở vào với thêm một chiếc ghế: “Bình thường, bà biết chứ...” anh ta nói như thể mình đã không đi khỏi chúng tôi chỉ có hai người, “… ý tôi nói là nhân viên cấp cao, vì thế chúng tôi rất thầm lặng. Tôi đã yêu cầu bữa tối, để... A ha, dĩ nhiên là vậy!” Vừa ngồi xuống anh ta đã đứng bật dậy: “Tôi nghĩ bà thích một ly cô-nhắc. Tôi có loại ngon. Tự tôi mang đến, từ Kingston
[45]
, mùa hè hai năm trước.”
“Chỉ một ly nhỏ thôi. Tôi sợ nếu uống thêm sẽ gục tại chỗ.” Đấy là sự thật. Lần thứ nhất sau nhiều ngày, không gian ấm cúng đã ngấm vào tay chân tôi, khiến cho đôi mắt tôi nặng trĩu.
“Được, chúc sức khỏe. Chuyện gì đã khiến cho bà và hai người bạn của bà đi đến đây - để chúng tôi bất ngờ có hân hạnh đón tiếp?”
“Chúng tôi đi từ Himmelvanger - anh biết chỗ ấy không?”
Nesbit đăm đăm nhìn tôi qua đôi mắt nâu mãnh liệt: “Không, không, tôi không biết.”
“Đấy là một cộng đồng tín đồ Lutheran. Người Na Uy. Họ muốn xây dựng một cộng đồng nơi họ có thể sống tốt đẹp trong tầm nhìn của Thượng đế.”
“Thật đáng khâm phục.”
Những ngón trên bàn tay phải của anh không ngừng mân mê đuôi cây bút chì, xoay qua xoay lại, khẽ gõ trên mặt bàn; và tôi nhớ ra cái gì đấy. Laudanum, hoặc có lẽ strychnine. Có Trời mà biết được vận rủi nào đã mang anh đến đây, cách xa dược sĩ và bác sĩ.
“Chúng tôi đến đây bởi vì...” Tôi ngưng lại, thở nặng nề: “Quả là đau đớn mà kể lại... đứa con trai tôi bỏ đi khỏi nhà. Lần cuối cùng người ta thấy nó là ở Himmelvanger, và từ đó, có dấu chân dẫn đến hướng này.”
Khuôn mặt của Nesbit, đôi mắt mãnh liệt đã khiến tôi rùng mình, bây giờ có phần dịu lại. Có lẽ anh đang trông chờ điều gì khác.
“Dấu chân dẫn đến hướng này phải không? Đến tận đây hay sao?”
“Có vẻ như thế, mặc dù sau cơn bão tuyết, chúng tôi không thể dám chắc.”
Anh xác nhận với vẻ suy tư: “Đúng vậy.”
“Nhưng Ông Parker nghĩ có thể là ở đây. Không có nhiều khu định cư trong vùng này, thật ra tôi tin là có rất ít.”
“Đúng. Chúng tôi khá là biệt lập. Anh ấy... trẻ lắm không, con trai bà đó?”
Tôi nhìn xuống: “Mười bảy. Anh có thể hiểu được tôi lo lắng đến thế nào.”
“Vâng, đương nhiên. Còn Ông Moody...”
“Anh Moody đã có lòng tốt mà đi cùng tôi bởi vì chúng tôi đi đến một thương điếm Công ty. Tôi biết anh ấy rất muốn gặp quản trị viên của anh.”
“À, vâng, hẳn rồi. Này, Ông Stewart đã đi vắng trong một chuyến đi ngắn, nhưng một hay hai ngày nữa ông ấy sẽ trở về.”
“Ông ấy có láng giềng không?”
“Không. Ông ấy đi săn. Đó là sở thích của ông ấy.”
Nesbit đã uống cạn ly rượu rồi rót thêm. Tôi nhấm nháp ly của mình một cách chậm rãi: “Thế là... anh chưa trông thấy hay nghe nói đến người lạ mặt nào hay sao?”
“Tiếc là không. Không có ai hết. Nhưng có lẽ ông ấy gặp một bộ lạc Da Đỏ, hoặc người đặt bẫy... Đủ mọi loại người đến và đi. Bà sẽ ngạc nhiên khi biết người ta đi lang thang khắp cùng ngay cả trong mùa đông.”
Tôi lại thở dài và ra vẻ tuyệt vọng, mà không khó khăn phải làm thế. Anh rót thêm rượu vào ly của tôi.
Cánh cửa mở, và một phụ nữ Da Đỏ thấp, béo, mà tôi không thể đoán tuổi, bước vào với một chiếc khay. Với tia nhìn ra vẻ đe dọa về phía Nesbit, cô nói: “Anh kia, anh ấy muốn ngủ.”
“Vâng, được rồi Norah. À, để xuống... cảm ơn. Chị xem có thể đi tìm ông kia được không?”
Giọng ông có vẻ mỉa mai. Người phụ nữ đặt vội chiếc khay xuống bàn với tiếng động mạnh.
Với vẻ phô trương vụng về, Nesbit mở chiếc khay ra và tiếp cho tôi một đĩa bít tết nai sừng tấm và bắp băm. Chiếc đĩa trông đẹp, kiểu Anh, nhưng món bít tết không được tươi và có nhiều xương xẩu; không ngon hơn nhiều so với các món chúng tôi đã ăn dọc đường. Tôi phải cố gắng giữ cho đôi mắt không nhắm lại và giữ tinh thần còn lanh lợi. Nesbit ăn ít nhưng uống rượu liên tục, vì thế may mà ý tưởng của anh không được sắc bén lắm. Tôi mong anh nói ra nhiều hơn bây giờ, tối nay, trong khi anh không có lý do nào mà nghi ngại.
“Thế thì, những ai đang sống ở đây? Có nhiều người không?”
“Chúa tôi! Không! Chúng tôi là nhóm rất nhỏ. Ở đây không phải chính xác là trung tâm của xứ sở lông thú. Không còn nữa.” Anh mỉm cười một cách chua cay, nhưng tôi nghĩ không phải do tham vọng cá nhân bị ngăn trở: “Có Ông Stewart, quản trị viên, là một trong những người tốt nhất mà bà có thể mong gặp. Rồi có gia nhân khiêm tốn của bà đây, chỉ làm chuyện sai vặt...!” Anh làm động tác giả cúi đầu chào với vẻ mỉa mai: “… và rồi có vài gia đình hai dòng máu và bản địa quanh đây.”
“Người phụ nữ mới vào, Norah, là vợ của một nhân viên phải không?”
“Phải.” Nesbit lại nốc thêm whisky.
“Còn các nhân viên tải hàng làm gì trong mùa đông?” Tôi nghĩ đến người mặc quần áo phong phanh đứng trên sân. Anh ta có vẻ như không đứng vững được.
Dường như Nestbit đọc được ý nghĩ của tôi: “À, có rất ít công việc, như bây giờ, tôi e họ... dễ bị cám dỗ. Mùa đông rất dài.”
Đôi mắt anh đã mất tập trung, trông như thủy tinh, chớm đỏ màu máu, tuy tôi không rõ do rượu hay do cái gì khác.
“Nhưng dù thế người ta vẫn di chuyển đây đó…”
“Đúng, có môn săn bắn và đại loại như vậy cho đàn ông - và Ông Stewart... Tôi thì không thích.” Anh ra một điệu bộ thanh lịch để tỏ vẻ kinh tởm: “Dĩ nhiên là có đặt bẫy một ít. Chúng tôi có gì được nấy.”
Tôi cố giữ giọng nói của mình được bình thản nhưng pha chút buồn rầu: “Có ai sống ở đây đi từ hướng tây-nam lúc gần đây không? Tôi chỉ băn khoăn liệu dấu vết chúng tôi thấy có thể là một nhân viên của anh, mà không phải của con trai tôi. Nếu thế, chúng tôi sẽ biết mà... đi tìm nơi khác.”
“Một nhân viên của chúng tôi…?” Anh tỏ vẻ rất mơ hồ, lông mày nhíu lại trông buồn cười. Nhưng mà, anh đã say. “Tôi không nghĩ ra... không, theo tôi được biết, tôi có thể hỏi...”
Anh mỉm cười với tôi một cách thẳng thắn. Tôi biết anh nói dối, nhưng tôi đã quá mệt mỏi nên khó mà chắc chắn mọi điều. Ước muốn thiết tha được nằm xuống ngủ bỗng dưng trở nên bức thiết như cơn đau về thể chất. Thêm một phút nữa thì tôi không thể gượng nổi.
“Xin lỗi, anh Nestbit, tôi... phải đi nghỉ.”
Nesbit đứng dậy nắm chặt cánh tay tôi, như thể anh nghĩ tôi sắp té ngã hoặc chạy đi mất. Ngay cả gió lạnh thình lình ngoài hành lang không thể giúp cho tôi được tỉnh táo.
Có cái gì đấy đánh thức tôi. Trời đã gần tối hẳn, vắng lặng ngoại trừ tiếng gió thổi. Trong một khoảnh khắc, tôi nghĩ có một người nào khác trong phòng, và tôi ngồi dậy với một tiếng kêu mà tôi không kiềm chế được. Khi mắt tôi đã quen với bóng tối, tôi nhận ra không có ai ở đây. Nhưng có cái gì đấy đánh thức tôi, và tôi cảnh giác, tim đập thình thịch, tai cố lắng nghe âm thanh nhỏ nhất. Tôi cầm lấy cây đèn nhưng không hiểu sao không muốn thắp sáng. Tôi rón rén bước ra cánh cửa. Cũng không có ai bên ngoài.
Những tiếng răng rắc và kẽo kẹt vang lên từ lớp mái gỗ, do gió thổi luồn dưới các tấm ngói. Và một tiếng răng rắc lạ kỳ, rất nhỏ. Tôi lắng nghe ở mỗi cánh cửa một hồi lâu trước khi mở chốt nhìn vào trong. Một phòng bị khóa; phần lớn các phòng khác trống không, nhưng qua khung cửa sổ của một phòng trống tôi thấy một ánh sáng lờ mờ màu lam nhạt bên ngoài, một bức màn ánh sáng nhấp nháy ở hướng bắc chiếu xuyên qua bóng tối và cho tôi thấy cảnh tượng này.
Tôi mở một cánh cửa và thấy Moody, khuôn mặt non trẻ và trông yếu đuối khi không mang kính. Tôi nhanh chóng đóng cánh cửa lại. Tôi nghĩ đến Parker. Tôi phải đi tìm Parker. Tôi cần nói chuyện với ông. Về những gì tôi đang làm, và trước khi tôi làm chuyện gì đấy ngu xuẩn không tưởng tượng nổi. Nhưng bên trong vài cánh cửa kế tiếp, tôi không thấy gì cả, rồi một cánh cửa khiến tôi rùng mình vì sốc. Nesbit đang nằm ngủ say sưa, và nằm kế bên anh là người phụ nữ Da Đỏ đã dọn bữa tối, một cánh tay béo quàng qua ngực anh, màu sẫm nổi trên màu da trắng như sữa. Hai người thở lớn tiếng. Tôi đã có cảm tưởng là cô ghét anh ta, nhưng hai người ở đây, và có một vẻ ngây thơ về giấc ngủ của họ gây xúc cảm một cách lạ kỳ. Tôi nhìn họ lâu hơn là mình muốn và rồi, không phải vì họ sẽ bất ngờ thức dậy, tôi cẩn thận đóng cánh cửa.
Cuối cùng, tôi tìm ra Parker ở nơi mà tôi ít ngờ nhất: trong chuồng gia súc, kế bên hai con chó. Ông quấn người trong một tấm chăn mà ngủ, mặt hướng về cánh cửa. Thình lình cảm thấy hoang mang, tôi thắp đèn và ngồi xuống để chờ. Mặc dù trong nhiều ngày hai chúng tôi đã từng ngủ cách nhau ít mét trong lều, nhưng dưới một mái gỗ có vẻ như không phải phép khi tôi nhìn ông ngủ, ngồi bó gối trên ổ rơm bên cạnh ông, như là tên trộm.
Sau một chốc, ánh sáng làm cho ông thức dậy.
“Ông Parker, tôi đây, Bà Ross.”
Xem dường ông tỉnh hẳn nhanh chóng, chứ không phải như tôi phải sật sừ một lúc. Gương mặt ông vẫn không biểu lộ cảm xúc như bao giờ, hiển nhiên là ông không tức giận mà cũng không ngạc nhiên khi thấy tôi ở đây.
“Có chuyện gì xảy ra sao?”
Tôi lắc đầu: “Có cái gì đấy đánh thức tôi, nhưng tôi không tìm thấy gì cả. Tối qua ông đi đâu?”
“Tôi chăm sóc hai con chó.”
Tôi chờ cho ông nói thêm, nhưng không có gì.
“Tôi dùng bữa tối với Nesbit. Anh ấy hỏi chúng ta đang làm gì. Tôi nói chúng ta đang đi tìm con trai tôi đã bỏ nhà ra đi, và lần cuối cùng được trông thấy ở Himmelvanger. Tôi hỏi anh ấy gần đây có ai ở đây trở về sau một chuyến đi hay không, và anh ấy nói không biết. Nhưng tôi nghĩ anh ấy không thẳng thắn lắm.”
Parker ngồi dựa vào bức tường của chuồng gia súc và nhìn tôi với vẻ suy tư: “Tôi đã nói chuyện với một cặp vợ chồng. Họ nói gần đây không có ai ra đi, nhưng họ không vui. Khi nói chuyện họ nhìn ra xa, hoặc nhìn qua vai tôi.”
Tôi không biết ý nghĩa ra sao. Thế rồi, rất nhỏ nhưng rõ ràng, như thể từ nơi xa xôi, tôi nghe tiếng gì đấy khiến cho tôi ớn lạnh xương sống. Một tiếng tru lâng lâng, thê lương nhưng lãnh đạm. Một bản giao hưởng của những tiếng tru. Hai con chó thức giấc và một tiếng tru trầm trầm phát ra từ góc chuồng gia súc.
Tôi liếc qua Parker, nhìn đôi mắt đen của ông: “Chó sói?”
“Đằng xa.”
Tôi biết chúng tôi được bao bọc bởi tường thành vững chắc, và bức thành này được trang bị đại bác, nhưng dù sao âm thanh vẫn làm cho tôi kinh hãi. Tôi nhớ đến khu nhà cho thuê chật chội. Tôi cảm thấy an toàn ở đấy. Có lẽ tôi run bắn lên, và xích lại gần Parker hơn.
Parker nói: “Họ thiếu thốn nhiều thứ ở đây. Việc săn bắn không khá. Không có nhiều thực phẩm.”
“Làm thế nào như vậy được? Đây là thương điếm Công ty.”
Ông lắc đầu: “Có thương điếm được quản lý không tốt.”
Tôi nghĩ đến Nesbit trong cái nôi ma túy. Nếu anh ta có nhiệm vụ quản lý thương điếm và các hàng hậu cần, thì đấy không phải là điều ngạc nhiên.
“Nesbit là người nghiện. Nha phiến hay đại loại như thế. Và...” Tôi nhìn ổ rơm: “Anh ta... có quan hệ với một phụ nữ Da Đỏ.”
Tôi không thể kiềm chế nhìn vào đôi mắt ông lúc này đang mở to ra. Cả hai chúng tôi đều không nói gì, như thể là bị thôi miên. Bỗng dưng tôi nhận biết mình đang thở rất mạnh, và tôi tin chắc ông có thể nghe tim tôi đập. Ngay cả các con sói đã im lặng, lắng nghe.
Tôi quay mặt đi, cảm thấy đầu óc nhẹ tênh: “Tôi nên quay về. Tôi chỉ nghĩ nên đi tìm ông để... bàn bạc sáng mai phải làm gì. Tôi nghĩ tốt hơn nên giấu lý do thật sự ta đến đây. Tôi đã nói với Moody như thế, tuy sáng mai anh ấy muốn làm gì thì tôi không rõ.”
“Tôi nghĩ chúng ta phải đợi Stewart trở về mới biết được.”
“Ông biết gì về ông ấy?”
Sau một phút đắn đo, Parker lắc đầu: “Để đến khi gặp tôi mới biết được.”
Tôi chờ thêm một khoảnh khắc, nhưng không còn lý do nào để ngồi thêm. Khi tôi đứng lên, tay tôi chạm phải chân ông trên ổ rơm. Tôi không biết chân ông đặt ở đấy, tôi xin thề, hoặc là ông cử động để chạm đến tôi. Tôi giật bắn người như bị bỏng, rồi nhấc lấy cây đèn. Trong ánh sáng lung linh và bóng tối, tôi không nhận biết vẻ mặt ông ra sao.
“Chúc ngủ ngon.”
Tôi nhanh chóng bước ra sân, cảm thấy khó chịu vì ông đã không đáp lại. Gió lạnh lập tức làm mát làn da của tôi, nhưng không giúp gì được cho ý nghĩ đang quay cuồng trong tôi; chủ yếu là nỗi khao khát quay vào trong chuồng gia súc và nằm kế bên ông trên ổ rơm. Để thả lỏng mình trong mùi hương và sự ấm áp của ông. Cái gì thế - nỗi sợ hãi và bơ vơ đã phủ lấy tôi? Việc thân thể của ông chạm vào thân thể tôi trên ổ rơm chỉ là do sơ suất. Một sơ suất. Một người đã chết; Francis cần tôi giúp đỡ; chính vì thế mà tôi ở đây, không có lý do nào khác.
Vầng quang lờ mờ phương bắc trông như một giấc mơ đẹp, và gió đã ngừng thổi. Bầu trời cao một cách chóng mặt và quang đãng; không khí lạnh căng căng và ù ù cho biết không có gì giữa tôi và chiều sâu vô tận của không gian. Tôi ngẩng đầu cao lên bầu trời sau cảm giác chóng mặt. Tôi nhận ra rằng mình đang đi trên một con đường gian nan, bao quanh mọi phía là sự bất định và thảm họa tiềm tàng. Không có gì ở trong tầm kiểm soát của tôi cả. Bầu trời mở rộng bên trên như là vực thẳm, và không có gì chắn đỡ khi tôi rơi, không có gì ngoại trừ mê cung kỳ lạ của những vì sao.
***
Donald thức dậy khi ánh sáng ban ngày chiếu bên ngoài cửa sổ. Trong một lúc, anh không nhớ ra mình đang ở đâu, và rồi sự việc quay về: điểm cuối của những dấu chân. Thời gian nghỉ ngơi sau chuyến đi như là trong địa ngục. Mỗi cen-ti-mét của cơ thể anh nhức nhối như thể anh đã bị dần cho một trận nên thân.
Trời đất!... có phải đêm qua anh đã thực sự ngất đi - lịm tắt như ngọn đèn trước gió? Người phụ nữ ấy đã chăm sóc chân anh... anh nhấc cái chân ra khỏi tấm chăn và thấy nó đã được băng lại mới, thế thì cô ấy là người thật chứ không phải trong giấc mộng. Cô có cởi quần áo anh không? Anh không nhớ gì nhưng cảm thấy xấu hổ. Chắc chắn là anh đã bị lột hết quần áo. Vết thương của anh đã được bôi thuốc mỡ và băng lại. Anh lần mò quanh giường cho đến khi tìm được cặp kính. Khi mang kính, anh cảm thấy bình tĩnh lại, có thể kiểm soát sự việc khá hơn. Bên trong: một căn phòng nhỏ, không nhiều đồ nội thất, tương tự như nhà khách của Pháo đài Edgar. Bên ngoài: hoang vắng, tuyết không rơi, nhưng chẳng bao lâu sẽ rơi lại. Anh cố ngồi dậy, nhặt lấy bộ quần áo đã được xếp ngay ngắn trên một chiếc ghế. Anh tròng quần áo vào, cử động xơ cứng như một ông già. Quả là kỳ lạ (và cũng là may mắn) sau khi đến đây, bây giờ anh lại cảm thấy tồi tệ hơn.
Anh lê bước ra hành lang, dò dẫm qua hai khoảnh sân mà vẫn chưa thấy một bóng người. Đây là thương điếm Công ty kỳ lạ nhất; không có cảnh rộn ràng như anh đã quen ở Pháo đài Edgar. Anh tự hỏi Stewart đang ở đâu, thứ kỷ luật nào ông đang duy trì. Chiếc đồng hồ đeo tay của anh đã ngưng chạy, nên anh không biết bây giờ là mấy giờ, sáng sớm hay gần trưa.
Cuối cùng, một cánh cửa mở ra ở cuối hành lang, và Nesbit xuất hiện, đóng sầm cánh cửa sau lưng. Anh ta không cạo râu, đôi mắt sâu, nhưng đã ăn mặc đàng hoàng.
“À, anh Moody! Tôi mong anh đã nghỉ khỏe. Anh cảm thấy, à... chân anh thế nào?”
“Khá hơn nhiều. Cô... Elizabeth băng bó cho tôi, rất tử tế. Tôi e mình vì quá mệt nên chưa cám ơn cô ấy.”
“Đi ăn sáng. Bây giờ họ hẳn đã đốt lửa và làm món gì đó. Có Trời mới biết được khó khăn lắm mới sai bảo được tụi nó làm việc trong mùa đông. Anh có những vấn đề này ở chỗ anh không?”
“Pháo đài Edgar hả?”
“Vâng. Ở đâu vậy?”
Donald ngạc nhiên vì anh ta không biết: “Bên Vịnh Georgian.”
“Thật là văn minh. Tôi mơ được điều đi chỗ nào đó gần… à, nơi người ta sinh sống. Nếu so ra anh hẳn thấy chúng tôi rất nghèo.”
Nesbit dẫn Donald đến căn phòng họ mới đến hôm qua, nhưng bây giờ lò sưởi đã được đốt, bàn ghế đã được mang đến từ đâu đó; Donald có thể thấy vết kéo lê trong lớp bụi trên sàn nhà. Việc chăm sóc nhà cửa ở đây không phải là ưu tiên. Anh không chắc việc gì là ưu tiên.
“Bà Ross và Ông Parker ở đâu đây chứ?”
Khi Nesbit bước đến cánh cửa, Bà Ross bước vào. Bà đã làm được gì đó đối với bộ trang phục để trông đàng hoàng hơn; mái tóc đã vén khéo. Dường như vẻ e dè mà anh nhận ra sau cơn bão tuyết đã không còn.
“Anh Moody.”
“Tuyệt vời! Bà ở đây... Còn Ông Parker?”
“Tôi không rõ.” Bà nhìn xuống; và Nesbit đi ra ngoài, gọi người phụ nữ Da Đỏ.
Bà Ross nhanh nhẹn bước đến Donald, nét mặt căng thẳng: “Ta cần bàn bạc trước khi Nesbit quay lại. Tối qua, tôi bảo anh ấy rằng ta đi tìm con trai tôi đã bỏ nhà ra đi, không phải đi tìm kẻ sát nhân. Ta không nên đánh động họ.”
Donald há hốc vì kinh ngạc: “Bà thân yêu, tôi ước gì bà bàn với tôi trước khi đặt điều sai sự thật...”
“Không có thời giờ. Đừng nói gì khác kẻo anh ấy nghi ngờ. Tốt nhất cho ta nếu họ không nghi gì, anh đồng ý không?” Đôi môi bà mím chặt, đôi mắt đanh lại như đá.
“Ngộ nhỡ...?” Anh dừng lại tiếng thì thầm khi Nesbit bước vào, theo sau là Norah với chiếc khay. Hai người mỉm cười với Nesbit, và Donald cảm thấy hiển nhiên là hai người đã thì thầm lén lút với nhau. Nếu may mắn, Nesbit sẽ đoán rằng bí mật của họ là vì chuyện lãng mạn... Anh đỏ bừng vì ý nghĩ này. Có lẽ anh đang bị sốt. Khi ngồi xuống, anh tự nhắc nhở mình về Susannah, với ít cố gắng có ý thức. Điều lạ lùng là thời gian gần đây anh đã không nghĩ đến cô.
Parker đi đến, và khi mọi người đều ăn bít tết nướng và bánh bắp - Donald ăn như thể đã bị bỏ đói nhiều ngày - Nesbit giải thích rằng Stewart đang đi săn với một nhân viên, và xin lỗi vì đã tiếp đãi thiếu sót. Tuy nhiên ông rất hãnh diện vì một thứ: ông nói một cách gay gắt với Norah về loại cà phê cô mang đến, cô mang cà phê đi rồi trở lại với một cái bình chứa một thứ hoàn toàn khác hẳn. Mùi hương lan tỏa vào phòng trước khi cô bước vào - mùi hương của hạt cà phê thật, không giống loại nào họ ngửi trong nhiều tuần qua. Khi Donald nếm thử, anh nhận ra có lẽ trước đây mình chưa bao giờ dùng loại cà phê này.
Nesbit ngả người dựa lưng vào thành ghế và cười: “Hạt cà phê từ Nam Mỹ. Tôi mua ở New York khi đi ngang qua đó. Tôi chỉ xay để pha cho những dịp đặc biệt.”
Bà Ross hỏi: “Anh Nesbit à, anh ở đây được bao lâu rồi?”
“Năm năm sáu tháng. Bà quê ở Edinburgh đúng không?”
“Lúc đầu.” Bà nói cụt ngủn, nghe như lời khiển trách.
“Và bà đến từ Perth
[46]
nếu tôi đoán không lầm?” Donald mỉm cười với anh, mong muốn dàn hòa. Rồi anh trừng mắt nhìn bà, ý nói: Nếu không muốn gây nghi ngờ thì bà nên tỏ ra hòa nhã.
“Kincardine
[47]
.”
Một khoảnh khắc im lặng. Bà Ross nhìn lại Donald một cách lạnh lùng.
“Tôi tiếc chúng tôi không thể giúp các vị về việc đứa con trai đi lang thang của Bà Ross. Đấy hẳn là chuyện đáng lo.”
“À, vâng.” Donald gật đầu, lúng túng; anh không giỏi giả vờ. Và còn tức bực với bà vì bà đã giành phần chủ động từ anh, trong khi lẽ ra anh phải là người chủ trì trong sự việc liên quan đến Công ty. Anh cảm thấy hoang mang, không biết phải hành xử thế nào.
“Thế thì, anh nghĩ...” Donald bắt đầu, nhưng ngay lúc ấy có tiếng thình thịch ngoài hành lang, và tiếng la thét bên ngoài.
Nesbit thình lình bị đánh động, như một con thú, căng thẳng, rồi đứng bật dậy. Anh quay nhìn họ khẽ mỉm cười, dù có vẻ giống như nhăn nhó: “Thưa quý vị, tôi nghĩ có lẽ là Ông Stewart đã về.”
Anh gần như chạy ra khỏi phòng. Donald và những người khác nhìn nhau. Donald cảm thấy bị khinh thường - tại sao Nesbit không mời họ, hoặc ít nhất mời anh, cùng đi ra ngoài? Anh nhận ra có chuyện gì đó không ổn, khiến cho anh hoang mang. Sau một khoảnh khắc im lặng, Donald khẽ nói lời tạ lỗi, rồi ngập ngừng đi theo Nesbit ra ngoài sân.
Bốn hoặc năm người đàn ông lẫn phụ nữ đang vây quanh một người với xe trượt tuyết và đàn chó đang vướng víu nhau. Có thêm nhiều người xuất hiện từ nhiều hướng khác nhau; vài người đứng gần các tòa nhà, vài người đi thẳng đến người mới đến. Donald có thời giờ mà thắc mắc họ từ đâu mà đến; phần lớn bọn họ anh chưa từng gặp bao giờ, tuy anh nhận ra người phụ nữ có vóc người cao đã rửa vết thương trên chân anh tối qua. Người mới đến, trông cứng cáp trong bộ áo lông thú, khuôn mặt ẩn giấu dưới chiếc mũ trùm đầu bằng lông thú, đang nói chuyện với nhóm người, và rồi im lặng bao trùm. Chỉ có Donald còn tiếp tục bước đến phía họ; vài gương mặt quay nhìn trân trối anh như thể anh là con người kỳ quặc. Anh dừng lại, hoang mang, và rồi người phụ nữ có vóc người cao, vẫn luôn đứng trong nhóm đầu tiên, thốt lên một tiếng rền rĩ dài, thánh thót. Cô đổ gục xuống nền tuyết, tạo ra âm thanh cao vút nhưng nhỏ nhẹ như là thuộc thế giới bên kia, không phải là tiếng thét mà cũng không phải là tiếng nức nở. Không ai tỏ thái độ an ủi cô.
Một người đàn ông xuất hiện mở lời quở trách Stewart, nhưng Stewart nhún vai tỏ ý khinh thường rồi bước về phía các tòa nhà. Nesbit nói một cách gắt gỏng với người đàn ông kia rồi đi theo sếp của mình. Khi trông thấy Donald, anh trân trối nhìn rồi trấn tĩnh và ra dấu cho Donald quay vào bên trong. Gương mặt anh đổi màu giống như nền tuyết bẩn.
Khi họ đi khỏi tầm nghe của nhóm người ngoài sân, Donald thì thầm: “Chuyện gì xảy ra vậy?”
Nesbit mím chặt môi, rồi nói: “Thực là không may. Nepapanees bị tai nạn. Tử vong. Vợ anh ta ở ngoài kia.” Giọng nói của anh nghe giận dữ, như thể anh đang suy nghĩ: Bây giờ ra sao?
“Ý anh nói người đàn bà gục trên đất... Elizabeth? Chồng cô ấy chết rồi sao?”
Nesbit gật đầu, lẩm bẩm như để nói cho mình nghe: “Đôi lúc tôi nghĩ chúng tôi bị nguyền rủa.”
Rồi thình lình Nesbit quay ngoắt người, chắn lối đi của Donald dọc hành lang. Tuy nhiên, anh cố nở nụ cười: “Đây là chuyện không may nhất, nhưng... xin anh quay lại với những người kia nhé? Chúc anh dùng bữa sáng ngon miệng... Bây giờ tôi cần nói chuyện với Ông Stewart, trong hoàn cảnh này. Chúng tôi sẽ đến với quý vị sau.”
Donald thấy mình không có cách gì khác hơn là gật đầu, và nhìn Nesbit đi khuất khỏi một góc tòa nhà. Anh còn lẩn quẩn ở hành lang, khó hiểu và hoang mang. Có một vẻ gì đó bẩn thỉu trong thái độ của Nesbit và Stewart khi phớt lờ nỗi đau của người khác, như tuồng không muốn dính dáng tới chuyện ấy.
Thay vì quay vào phòng ăn sáng, anh trở ra sân, nơi tuyết đã bắt đầu rơi trong không gian âm thầm sánh đặc, như thể muốn nói rằng bây giờ là mùa đông, đây không phải là chuyện đùa. Những bông tuyết nhỏ li ti và rơi nhanh, dường như từ mọi hướng bay đến anh, làm mờ tầm nhìn ở khoảng cách chỉ ít mét. Chỉ có người khóc chồng còn ở nguyên chỗ cũ, thân người lúc lắc tới lui. Những người khác không thấy đâu. Donald tức giận với họ vì đã bỏ mặc cho người phụ nữ ngồi một mình. Thậm chí cô không mặc áo lạnh mà chỉ là trang phục trong nhà, để hai cánh tay trần. Anh bước đến cô.
Bây giờ cô đã im lặng, mắt mở trừng trừng nhưng không nhìn đến đâu cả, đang bứt tóc bứt tai. Cô không nhìn đến anh. Anh kinh hãi thấy chân cô lộ trần phía trên đôi giày da đanh lấm tấm trên nền tuyết.
“Xin lỗi... Bà Bird.” Anh thấy ngượng ngập, nhưng không biết gọi cô theo cách nào khác. “Bà sẽ bị lạnh cóng ngoài này. Cho phép tôi giúp bà.”
Anh giơ một bàn tay ra, hy vọng cô sẽ nắm lấy, nhưng không. Những bông tuyết bám vào lông mi và tóc cô, tan chảy trên hai cánh tay. Cô không màng phủi cho sạch. Khi nhìn cô, Donald có ấn tượng với khuôn mặt thanh tú, ngoại hình thanh tú, gần giống người Anh. Nhưng mà người có hai dòng máu là thế, giống người da trắng hơn là Da Đỏ.
“Xin vui lòng...” Anh đặt một bàn tay lên cánh tay cô, và thình lình tiếng than khóc lại nổi lên. Anh kinh hãi thụt lùi lại; tiếng than khóc kỳ lạ đó nghe như ma quỷ, như thú rừng. Anh mất can đảm. Dù sao chăng nữa, anh biết gì về cô hoặc người chồng quá cố của cô? Anh có thể nói gì cho cô nguôi ngoai nỗi đau?
Donald nhìn quanh quất để tìm sự hỗ trợ hoặc người chứng. Không thấy bóng người qua lại trong màn tuyết chóng mặt, cho dù qua khung cửa sổ đối diện anh thấy một bóng người lờ mờ, có vẻ như đang ngắm nhìn.
Anh đứng dậy - anh đang ngồi xổm - và quyết định đi tìm một người nào khác. Có lẽ một người bạn gái có thể thuyết phục cô đi vào bên trong. Anh phủi tuyết khỏi quần mình và đi xa khỏi khung cửa sổ kia, tuy anh vẫn quay ngoái lại nhìn người phụ nữ ở đó. Chỉ là một hình bóng màu đen bị tuyết che phủ một phần, giống như hình một người loạn trí trong một bức vẽ Nhật Bản. Anh có một ý tưởng vui: anh sẽ mang cho cô loại cà phê đó - đây là việc tối thiểu mà Nesbit có thể làm được. Anh tin chắc cô sẽ không uống, nhưng có lẽ cô sẽ vui khi anh làm thế.
***
Line nằm thao thức, vẫn còn mặc nguyên bộ trang phục, nhìn qua khung cửa sổ không có màn. Torbin và Anna đang ngủ say bên cạnh. Cô đã không nói gì với chúng, vì không tin tưởng chúng sẽ giữ kín một bí mật như thế. Chẳng bao lâu cô sẽ đánh thức chúng rồi ăn mặc cho chúng, làm ra vẻ như đó là một cuộc phiêu lưu. Hai đứa trẻ không biết gì về kế hoạch của cô. Chỉ sau khi đã đi xa khỏi Himmelvanger, cô mới cho chúng biết. Cô ước gì mình đi đến điểm hẹn sớm hơn - mọi người đã đi ngủ hơn một tiếng đồng hồ rồi. Một tiếng đồng hồ đi đường bị uổng phí. Cô cảm thấy nóng một cách khó chịu, vì cô đã mặc những lớp áo lót dưới hai lớp váy cùng tất cả những chiếc áo sơ mi mặc chồng lên nhau, cho tới lúc hai cánh tay cô trông như hai thỏi xúc xích được nén chặt. Espen cũng làm thế. Thuận lợi trong mùa đông. Cô liếc qua chiếc đồng hồ lần nữa, quay hai cây kim theo ý mình; cô không chờ đợi được nữa.
Cô nghiêng người qua đánh thức hai đứa trẻ: “Nghe này, chúng ta đi chơi. Nhưng quan trọng là phải giữ im lặng, thật sự im lặng. Được chứ?”
Anna sật sừ chớp mắt: “Con muốn ngủ.”
“Con có thể ngủ sau. Bây giờ chúng ta có cuộc phiêu lưu. Này này, mặc cái này vào, nhanh lên.”
“Chúng ta đi đâu?” Torbin có vẻ phấn khích hơn. “Bên ngoài trời còn tối.”
“Gần sáng rồi, xem này - năm giờ. Các con đã ngủ nhiều tiếng đồng hồ rồi. Chúng ta phải đi sớm để hôm nay đến đó.”
Cô kéo chiếc áo của Anna qua đầu cô bé.
“Con muốn ở lại.”
“Không được, Anna.” Chỉ mới lên năm tuổi; do đâu mà cô bé cứng đầu đến thế? “Mặc cái áo này chồng lên cái kia. Trời sẽ lạnh. Mặc theo cách này thì không phải mang nhiều.”
“Chúng ta đi đâu?”
“Miền Nam. Ở đó ấm hơn.”
“Elke đi được không?” Elke là bạn thân nhất của Torbin và là con gái của Britta.
“Có lẽ sẽ đi sau. Có lẽ vài người khác cũng đi.”
“Con đói bụng.” Anna không vui và muốn mọi người biết điều này. Line cho mỗi đứa trẻ một chiếc bánh quy do cô ăn cắp cho dịp này, để mua sự im lặng của chúng.
Cô bắt chúng hứa sẽ giữ im lặng, nghe ngóng ở hành lang trong một phút rồi kéo chúng đi theo. Cô đóng lại cánh cửa của căn phòng mà họ đã cư ngụ trong ba năm qua. Tất cả đều vắng lặng. Chiếc túi nặng nề chứa thực phẩm và ít món vật dụng cá nhân - mà cô không đành bỏ lại - va đập vào lưng cô. Họ đi ngang qua khoảnh sân đến chuồng gia súc. Khung cảnh tối đen vì không có ánh trăng; cô vấp ngã và lầu bầu chửi rủa. Torbin há hốc miệng vì ngôn từ cô đã dùng, nhưng cô không có thời giờ để lo lắng chuyện này. Line có cảm giác hàng nghìn đôi mắt đang nhìn sau lưng mình, nỗi sợ hãi khiến cô nắm chặt lấy tay hai đứa trẻ, cho đến lúc Anna rên rỉ.
“Mẹ xin lỗi con yêu. Ta tới rồi, xem kìa.” Cô mở cánh cửa chuồng gia súc. Càng tối hơn nhưng ấm hơn, với âm thanh của các con ngựa dậm móng xuống cỏ khô. Cô dừng lại, nghe ngóng tiếng anh.
“Espen?”
Anh chưa đến, vì họ đến sớm vài phút. Cô mong anh đừng chính xác giờ giấc quá. Đáng lẽ họ đã có thể ra đi từ một tiếng đồng hồ trước, mỗi bước càng rời xa khỏi Himmelvanger hơn. Cô để cho hai đứa trẻ ngồi xuống trong một chuồng trống.
Chỉ vài phút nữa thôi, rồi Espen sẽ đến.
Cô không có đồng hồ, nhưng có thể ước tính thời gian trôi qua với việc các ngón tay và ngón chân bị tê cóng, và các ngón tay cô đã có cảm giác như nước đá. Hai đứa trẻ cựa quậy một lúc, nhưng bây giờ Anna đã co mình lại mà thiếp ngủ, còn Torbin ngồi dựa vào cô mà chập chờn. Ít nhất một tiếng đồng hồ đã trôi qua từ khi họ đến đây, và không ai đến. Rồi cô bắt đầu nghĩ, có lẽ anh nghĩ đó là hai giờ, có lẽ anh đã nhầm. Rồi thì, với thời khắc trôi qua và vẫn không có ai đến, cô tưởng tượng rằng Merete đã không ngủ được, và rằng đứa bé hoặc cơn bệnh hoặc nguyên do gì đó đã khiến cho anh không ra đi được. Có lẽ anh đang nằm trằn trọc, chửi rủa và lo lắng cho cô.
Và rồi, có lẽ chẳng bao giờ anh muốn đến.
Cô tính toán điều khả dĩ ảm đạm này. Không. Anh không thể làm cho cô thất vọng như vậy được. Cô lay cho hai đứa trẻ thức dậy, một cách mạnh bạo hơn cần thiết.
“Nghe này. Có sự chậm trễ. Hóa ra chúng ta không thể đi tối nay được. Chúng ta sẽ đi tối mai. Mẹ xin lỗi...” Cô chặn ngang những lời than phiền: “Mẹ xin lỗi, nhưng hoàn cảnh là vậy.”
Cô nhớ lại mình đã nói câu này khi bảo hai đứa trẻ là cha chúng sẽ không bao giờ trở về và chúng phải đi sống ở nơi xa xôi. “Không ích gì mà than van. Hoàn cảnh là vậy.”
Cô bắt hai đứa trẻ thề thốt phải giữ bí mật - nếu nói với bất cứ ai về việc này thì chúng sẽ không được đi chơi đâu hết, và cô đã vẽ vời một hình ảnh ở miền Nam ấm áp khiến cho cả hai mê thích. Hy vọng rằng một ngày nào đó ngay cả chúng có thể đi tới đó.
Khi cô đứng dậy và bắt đầu dẫn hai đứa trẻ quay lại phòng ngủ - ít nhất trời vẫn còn tối - có một chuyển động gần cánh cửa. Cô điếng người, và hai đứa trẻ cũng thế, vì bị ảnh hưởng lây từ nỗi sợ hãi của cô.
Rồi có một giọng nói: “Có ai ở đây không?”
Trong một thoáng - chỉ một phần tích tắc cô tin đó là Espen, và tim cô nhảy dựng lên. Rồi cô nhận ra đó không phải là giọng nói của anh. Họ đã bị phát hiện.
Người đàn ông bước đến ba mẹ con. Cô bất động vì bị sốc. Liệu cô có thể nói gì? Trong tích tắc kế tiếp, cô nhận ra là anh ta nói tiếng Anh, không phải tiếng Na Uy. Đấy là cái anh Jacob có hai dòng máu. Cô đã không bị phát hiện, chưa bị. Anh đốt đèn lên, và giơ nó lên cao giữa anh và cô.
“À, Bà...” Rồi anh nhận ra là mình không biết - hoặc không thể phát âm - tên cô. “Chào Torbin. Chào Anna.”
Line nói một cách xơ cứng: “Tôi xin lỗi nếu quấy rầy anh. Anh đang làm gì ở đây? Anh có ngủ trong chuồng gia súc không?”
“Không, không sao.”
“Được rồi. Chúc ngủ ngon.”
Cô mỉm cười rồi bước qua anh, và khi hai đứa trẻ đang đi phía trước qua khoảnh sân, cô quay lại: “Xin anh vui lòng, nhất thiết đừng nói gì về chuyện này với bất cứ ai. Ai cũng vậy. Tôi van anh... nếu không đời tôi không đáng sống, tôi không thể nào nói rõ hơn nữa. Tôi tin anh được không?”
Jacob đã tắt đi chiếc đèn bão, như thế nhận thức được cần thiết phải giữ bí mật. Anh chỉ nói đơn giản: “Được.” Thậm chí anh không tỏ vẻ hiếu kỳ: “Cô tin tôi được.”
Line giúp hai đứa trẻ thay trang phục và nhìn chúng thiếp ngủ. Cô quá dao động nên không ngủ được. Cô đẩy cái túi phía sau chiếc ghế. Cô không còn lòng dạ nào mà dỡ túi ra, làm như thế là công nhận thất bại. Đến sáng cô sẽ ném quần áo chung quanh để che giấu cái túi; hy vọng việc này sẽ đánh lừa bất cứ ai muốn nhòm ngó. Ôi chao, cần phải đi đến nơi mà cô có nhà riêng cho mình. Cô ghét khi không có sự riêng tư; nó chà xát cô như là sợi dây cương.
Lúc ăn sáng, cô tỏ ra cảnh giác, tạo bộ mặt tỉnh táo và vui vẻ đối với cộng đồng. Thậm chí đến giữa bữa cô mới nhìn qua Espen, nhưng anh đang cúi đầu. Anh không nhìn về phía cô. Cô cố dò xét liệu anh hoặc Merete có vẻ gì mệt mỏi hay không, nhưng khó mà nói được. Đứa bé của họ đang khóc; có lẽ nó bị cơn đau bụng quặn. Cô sẽ phải chờ cơ hội.
Vào buổi chiều, cô có dịp. Anh đến khi cô đang cho đàn gà ăn. Chỉ một phút anh đã ở đây, cho dù cô không thấy anh đến. Cô chờ cho anh lên tiếng.
“Line, anh tiếc. Anh rất tiếc. Anh không biết nói gì với em... Trong nhiều tiếng đồng hồ Merete không ngủ được và anh không biết phải làm gì.” Anh đang bồn chồn, áy náy, mắt anh nhìn đâu đâu nhưng không nhìn đến cô.
Line thở dài: “Được rồi. Em sẽ kiếm chuyện giải thích cho hai đứa trẻ. Chúng ta sẽ đi tối nay. Một giờ.”
Anh im lặng.
“Anh đã đổi ý phải không?”
Anh thở dài.
Cô thấy mình đang run rẩy: “Bởi vì nếu anh đổi ý, em sẽ không đi mà không có anh. Em sẽ ở lại, rồi em sẽ nói với mọi người là em đang mang trong bụng đứa con của anh. Em sẽ làm cho anh xấu hổ trước mặt mọi người. Trước mặt vợ anh và con cái anh. Nếu Per đuổi em, em không màng. Bọn em sẽ lạnh cóng mà chết. Con anh sẽ chết và em sẽ chết. Và anh sẽ chịu trách nhiệm. Anh đã chuẩn bị tinh thần chưa?”
Mặt Espen tái xanh: “Line, đừng nói mấy chuyện đó! Thật là kinh khủng... Anh không có ý nói sẽ không đi. Chỉ là khó khăn, vậy thôi. Những gì anh phải bỏ lại... em không phải bỏ lại gì cả.”
“Anh yêu nó không?”
“Ai? Merete hả? Em biết anh không yêu mà. Anh yêu em.”
“Thế thì tối nay lúc một giờ. Nếu Merete không ngủ được, anh phải tìm cách viện lý do.”
Anh lộ vẻ cam chịu. Sẽ ổn thôi. Chỉ có điều anh là người đàn ông cần được dẫn dắt, giống như nhiều người khác.
Tuy thế, Line không biết làm thế nào để thời giờ còn lại qua nhanh. Cô không thể ngồi yên. Thấy cô bồn chồn trong khi hai người đang may chăn bông, Britta nói: “Có việc gì vậy, em gái? Kiến cắn trong quần hả?” Line chỉ biết cười trừ.
Nhưng cuối cùng, dĩ nhiên, cuối cùng thì cũng tới một giờ, và ba mẹ con lại đi đến chuồng gia súc. Ngay khi đẩy cánh cửa, cô có thể cảm nhận Espen đang ở đấy. Anh thì thào tên cô trong bóng tối.
Cô đáp: “Bọn em đây.”
Anh thắp đèn và mỉm cười với hai đứa trẻ. Chúng nhìn anh với vẻ bẽn lẽn, hồ nghi.
“Hai cháu có mong đi chơi không?”
“Tại sao chúng ta đi vào giữa khuya? Chúng ta đi trốn hả?” Đó là giọng nói của Torbin với nhận thức sắc sảo.
“Không phải. Ta cần khởi hành sớm để đi được xa trước khi trời lại tối. Đó là cách người ta đi trong mùa đông.”
Line lo lắng, giọng nghe sắc lẻm: “Nhanh lên, không được nói tầm phào nữa. Hai con sẽ thấy khi tới nơi.”
Espen cột các túi phía sau hai chiếc yên ngựa - anh đã chuẩn bị sẵn sàng cho hai con ngựa. Line cảm thấy trào dâng lòng yêu thương đối với hai con vật chắc khỏe, di chuyển từ tốn; chúng làm bất kỳ việc gì được đòi hỏi, không quấy rầy hoặc cãi cọ, ngay cả lúc một giờ khuya. Họ dắt hai con ngựa đi ra ngoài, vì có nhiều bùn nên móng ngựa không gây ra tiếng động. Cả vùng Himmelvanger không có ánh sáng, nhưng họ vẫn dẫn hai con ngựa đến một trảng cây cáng lò nhỏ, tránh xa tầm mắt của các cửa sổ, rồi Espen đỡ hai đứa trẻ và Line lên lưng ngựa và nhảy lên yên phía sau Torbin.
Line nắm trong tay một chiếc địa bàn ăn cắp được: “Ta bắt đầu đi về hướng đông-nam.” Cô nhìn lên bầu trời: “Nhìn xem, có những ngôi sao. Sẽ giúp cho ta. Ta sẽ đi về hướng ngôi sao đó, thấy không?”
“Bác không định cầu nguyện Thượng đế ban phúc cho chuyến đi của chúng ta hay sao?” Torbin cựa quậy qua lại để nhìn đến mẹ. Nhiều lúc nó có thể là một đứa trẻ mô phạm, luôn muốn tỏ ra đúng đắn, và nó đã sống ở Himmelvanger qua ba năm, nơi mà người ta ít khi di chuyển mà thiếu cầu nguyện.
“Dĩ nhiên rồi. Bác sắp cầu nguyện đây.”
Espen kìm dây cương, và cúi đầu xuống. Thì thầm nhanh, như thể đôi tai mộ đạo của Per cách vài dặm có thể nghe được lời cầu nguyện: “Cầu xin Thượng đế, Vua của muôn loài trên thượng giới và trần gian, nhìn thấy và che chở tất cả, trông nom cho cuộc hành trình của chúng con, dìu dắt chúng con tránh các mối nguy hiểm, và giữ cho chúng con đi đúng đường. Amen.”
Line thúc gót chân vào hông con ngựa. Cái khối đen của Himmelvanger nhỏ dần phía sau lưng họ. Trời quang đãng nên lạnh hơn. Lạnh hơn nhiều so với đêm hôm trước. Họ đã ra đi vừa kịp lúc.
***
Từ lúc cha cô trở về nhà sau một đêm bị giam giữ, ông xem dường là một con người khác, ông ngồi một mình trong phòng đọc sách, không đọc sách hoặc viết thư hoặc làm việc gì khác để giúp mình bận bịu, mà bất động nhìn qua khung cửa sổ trong hồi lâu. Maria nhận biết tình trạng này bởi vì cô đã nhìn lén qua lỗ khóa, sau khi ông ra lệnh không được làm phiền. Bản chất của ông không phải là tự mình tách ra khỏi cô, nên cô lo lắng.
Susannah cũng lo lắng, nhưng vì những lý do khác. Dĩ nhiên là cô quan ngại cho người cha và hành vi kỳ lạ của ông, nhưng ông vẫn ngồi dùng bữa cùng với gia đình, và cũng tỏ ra vui tươi. Như cô nói với chị, hẳn vào lúc này ông không thể thi hành các nhiệm vụ của một quan tòa, thế thì ông làm được việc gì khác? Không, Susannah chỉ tỏ lòng quan ngại đối với Donald. Anh và Jacob đã ra đi được ba tuần, không lâu lắm, dù cho họ dự định sẽ trở về sớm hơn. Maria và Susannah đã ức đoán về lý do. Câu trả lời hiển nhiên nhất là họ vẫn chưa tìm ra Francis Ross. Nếu anh con trai kia đã chết, họ hẳn sẽ trở về. Nếu họ tìm thấy anh gần đâu đó thì cũng thế.
Với đôi mắt mở tròn, gần bật khóc, Susannah hỏi: “Nhưng nếu họ tìm ra Francis và anh giết họ để trốn lánh công lý thì sao?”
Maria tỏ vẻ khinh thường: “Em thực sự nghĩ Francis Ross có thể giết anh Moody và Jacob, khi cả hai người đều được vũ trang hay sao? Hơn nữa, anh ta hẳn không đủ sức. Anh ta không cao hơn em. Thực sự đó là chuyện vô lý nhất mà chị từng nghe.”
Bà mẹ trách móc khi ngồi trên ghế lo việc may vá: “Maria...”
Susannah bực bội nhún vai: “Em chỉ nghĩ đến giờ này thì họ đã phải gửi tin tức về.”
“Họ không gửi được nếu không có người mang tin.”
“Ôi chao, không phải như họ đang ở giữa... Ngoại Mông.”
Maria chẳng đặng đừng nhận xét: “Thực ra, Mông Cổ còn có mật độ dân cao hơn Canada nhiều.”
“Nếu chị muốn trấn an em thì... đừng nói vậy!” Susannah đứng dậy bước ra khỏi phòng, đóng sầm cửa lại.
Bà Knox nói nhẹ nhàng: “Đáng lẽ con phải tỏ ra tử tế hơn. Nó đang lo lắng.”
Maria cố kiềm chế cãi lại. Có lẽ cô cũng lo lắng, nhưng như từ trước đến giờ, mọi người đều quan ngại cho trạng thái tinh thần của Susannah hơn là của cô.
“Thực sự là không có gì phải lo lắng. Ta có thể nhận tin tức bất cứ lúc nào. Con lấy làm ngạc nhiên Công ty đã không cử người đi tìm họ.”
Không khí trong gia đình ngột ngạt vì người cha ngồi như phỗng đá trong phòng đọc sách, Susannah đang rơi nước mắt, còn người mẹ im lìm một cách kỳ lạ. Maria quyết định phải thoát ra khỏi tất cả. Sự thật là cô bứt rứt phần nào vì phản ứng của mình khi bàn về Moody. Cô cũng đang thắc mắc chuyện gì đã xảy ra đối với họ, và cầu mong anh được bình an; tương tự như người ta quan ngại về bất kỳ người bạn nào họ không nghe tin tức trong một thời gian. Điều này chẳng có nghĩa gì cả. Nhưng cô đang nghĩ đến gương mặt của anh: tàn nhang trên đôi gò má, đôi gọng kính xệ thấp trên sống mũi, và nụ cười khôi hài mỗi khi anh được hỏi, như thể anh nghi ngờ khả năng mình trả lời, nhưng vẫn sẵn lòng trả lời.
Cô đi đến cửa hàng với đôi giày ủng và chiếc váy lấm bùn. Bà Scott đang đứng sau quầy, và chỉ ngẩng đầu trong một tích tắc. Khi chào bà, cô thoáng thấy một vết sưng đang ngả màu vàng trên gò má trái, hủy hoại nét cân đối của khuôn mặt. Bà Scott - có thời là cô Rachel Spence - đóng vai trò Đức mẹ Đồng trinh trong ảnh Chúa giáng trần ở trường học. Cư dân lớn tuổi vẫn nhắc cho bà nhớ điều này, nhưng đó là ngày xưa, còn bây giờ họ hay hỏi đến những sự cố xảy ra mà bà thường xuyên chịu đựng.
Ông Sturrock đang ở trong phòng. Maria ngồi chờ gần bếp lò ở tầng dưới, không chắc ông chịu gặp mình, nhưng chỉ một phút sau ông đi xuống.
“Cô Knox. Cơ may nào giúp cho tôi gặp cô?”
“Ông Sturrock à, tôi e là do nỗi buồn chán.”
Ông nhún vai một cách tao nhã, hiểu ý nghĩa câu nói của cô theo cách khác: “Tôi lấy làm vui, nếu chuyện đó mang cô tới đây.”
Có nét gì đó trong diễn cảm của ông làm cho cô e dè. Nếu ông là người trẻ tuổi hơn thì cô hẳn nghi ông có tình ý với mình. Có lẽ là vậy. Cô nghĩ nếu chỉ có người lớn tuổi hơn cha cô để ý đến cô thì đó là chuyện bình thường.
Sturrock gọi cà phê rồi nói: “Cô đừng nghĩ tôi thiếu phép tắc nếu tôi mời cô lên phòng nhé? Chỉ là một cái mà tôi muốn cho cô xem.”
“Không, tôi không cho đó là thiếu phép tắc.” Điều kỳ lạ là cô đã nghĩ thế, tuy có phần nghi ngại.
Phòng ông có mùi mốc, nhưng sạch sẽ. Ông thu dọn chồng giấy trên chiếc bàn gần cửa sổ, và kéo hai chiếc ghế. Maria ngồi xuống, cảm thấy thích sự chăm sóc của ông. Lúc còn trẻ hẳn ông khá đẹp trai, và thật ra bây giờ vẫn thế, với mái tóc bạc dầy và đôi mắt xanh lam trong trẻo. Cô cười thầm với chính mình về ý nghĩ ngốc nghếch.
Quang cảnh nhìn từ cửa sổ là mặt tiền con đường; vị trí tốt cho người muốn nhìn cảnh qua lại. Chẳng chóng thì chầy, mọi người sống ở Caulfield đều sẽ đến cửa hàng. Ngay cả ngôi nhà của cô cũng được nhìn thấy thấp thoáng đằng xa, và xa hơn nữa là mặt nước xám lặng lờ dưới trần mây thấp.
“Không bằng lâu đài, nhưng tôi thấy nó được việc.”
“Ông làm việc ở đây hở?”
“Theo một cách nói thì là vậy.” Ông ngồi xuống, trao cho cô một tờ giấy: “Cô nghĩ gì về cái này?”
Maria cầm tờ giấy, trông cũ kỹ, được xé ra từ một quyển sổ. Có những đường vẽ bút chì, nhưng thoạt tiên cô không nhìn ra phương hướng trên dưới ra sao. Có những dấu hiệu có góc cạnh - chủ yếu là những đường theo các cấu hình khác nhau: đa giác, đường song song, đại loại như thế. Chung quanh các dấu này là nét vẽ phác của một số hoa văn hình gậy, nhưng không có khuôn mẫu rõ ràng. Cô xem xét một cách cẩn thận.
“Tôi rất tiếc phải làm cho ông thất vọng, nhưng tôi không nhìn ra cái gì hết. Đây là bản chép hoàn chỉnh chứ?”
“Vâng - theo những gì tôi biết. Nó được chép lại từ một mảnh nguyên vẹn, nhưng dĩ nhiên còn có những hình khác.”
“Chép lại từ cái gì? Đây không phải thuộc về Babylon
[48]
, đúng không, mặc dù trông khá giống chữ viết hình nêm
[49]
.”
“Đó cũng là ý nghĩ đầu tiên của tôi. Nhưng không thuộc về Babylon, hoặc chữ viết tượng hình
[50]
, hoặc chữ Hy Lạp. Nó cũng không phải Sanskrit
[51]
, hoặc Do Thái, hoặc Aramaic
[52]
, hoặc Ả Rập.”
Maria mỉm cười; ông đang nói về việc đánh đố, và cô thích việc đánh đố. “Nó không phải chữ Hán hoặc chữ Nhật. Tôi không biết, tôi không nhận ra - các hình thể này... Nó có phải là một loại chữ viết ở châu Phi không?”
Ông lắc đầu: “Nếu cô nhận ra thì tôi rất khâm phục. Đây là cái gì đó mà tôi đã mang đến các viện bảo tàng và trường đại học để cho các chuyên viên ngôn ngữ xem, nhưng họ đều không nhận ra nó là cái gì.”
“Và cái gì đó khiến cho ông nghĩ rằng... nó còn hơn là một khuôn mẫu trừu tượng, đúng không? Ý tôi nói là, mấy hình thể này trông như trò trẻ con.”
“Đó là bởi vì tôi không có kỹ năng sao chép lại cho chính xác. Nguyên bản có một khuôn mẫu nhất định. Như cô nói, đây chỉ là một phần. Nhưng đúng, tôi vẫn nghĩ nó còn hơn là vài nét nguệch ngoạc.”
“Ông nói nét nguệch ngoạc là sao?”
“Nguyên bản được cắt thành một mảnh xương, và được nhuộm với một loại phẩm màu đen nào đó, có lẽ là một hỗn hợp bồ hóng. Công việc này rất công phu. Đây là những hình thể xếp đầy chung quanh, theo một chuỗi. Tôi nghĩ các dấu hiệu là một thứ ngôn ngữ và ghi lại một sự kiện nào đó, và các hình thể minh họa sự kiện đó.”
“Thật vậy sao? Ông đã diễn dịch tất cả điều này hở? Nguyên bản hiện đang ở đâu?”
“Ước gì tôi biết được. Người làm chủ nó đã hứa trao nó cho tôi, nhưng...” Ông nhún vai.
Maria nhìn ông chăm chú: “Người đó... có phải là Jammet không?”
“Cô đoán giỏi lắm!”
Cô cảm thấy kích xúc với một niềm tự mãn: “Thế là nó nằm trong số tài sản của anh ấy phải không?”
“Nó mất rồi.”
“Mất rồi? Ý ông nói là bị đánh cắp chứ gì?”
“Tôi không biết. Hoặc nó bị đánh cắp, hoặc anh ấy bán nó hay cho ai đó. Nhưng tôi nghĩ hai việc sau là không đúng; anh ấy nói sẽ giữ nó cho tôi.”
“Vì thế... ông đang chờ anh Moody mang nó về phải không?”
“Có thể là hão huyền, nhưng đúng vậy.”
Maria lại nhìn vào tờ giấy: “Ông biết không, nó gợi cho tôi nhớ đến cái gì đó... hoặc đúng hơn là các hình thể gợi cho tôi. Nhưng tôi không chắc đó là cái gì. Tôi không nhớ.”
“Nếu cô cố nhớ ra thì tôi rất cám ơn.”
“Ông Sturrock à, xin đừng bắt tôi phải khổ sở. Nó là cái gì vậy?”
“Tôi rất tiếc. Tôi không biết.”
“Nhưng ông có một ý tưởng.”
“Đúng. Điều này nghe ra không tưởng, nhưng tôi... có một - à, tôi nghĩ hy vọng là cách nói đúng nhất. Tôi hy vọng đây là một thứ chữ viết của người Da Đỏ.”
“Ý ông nói... người Da Đỏ Bắc Mỹ? Nhưng họ không có chữ viết - ai cũng biết điều này.”
“Có thể xưa kia họ có chữ viết.”
Maria suy nghĩ về lời ông nói. Ông có vẻ hoàn toàn nghiêm túc.
“Nguyên bản cũ là như thế nào?”
“À - tôi cần phải tìm hiểu.”
“Ông biết nó từ đâu ra không?”
“Không, và bây giờ khó mà tìm hiểu.”
“Thế thì...” Cô tìm cách chọn ngôn từ cho đúng, không muốn làm ông phật lòng: “Dĩ nhiên là ông đã nghĩ nó có thể là vật giả mạo.”
“Tôi đã nghĩ tới điều này. Nhưng thường người ta chỉ làm ra vật giả mạo để kiếm chác. Khi có thị trường cho những vật như thế. Tại sao ai đó lại cất công làm ra một vật mà không có giá trị?”
“Nhưng đó chính là lý do khiến cho ông đến đây, Caulfield, phải không? Thế thì ông hẳn tin nó không phải là vật giả mạo.”
Ông mỉm cười, tự chế nhạo mình: “Tôi không phải giàu có. Nhưng luôn vẫn có thể - tuy rằng không chắc - đó là vật thực.”
Maria lại mỉm cười, không chắc chắn mình nghĩ gì. Tính hay nghi ngại là rào cản giúp bảo vệ cô chống lại sự giễu cợt, và đó là cách cô thể hiện thái độ kịch liệt phản đối. Nhưng cô e rằng ông đang đi theo con đường sai lầm.
“Các hình thể đó... gợi cho tôi nhớ lại những hình vẽ của người Da Đỏ mà tôi đã từng thấy. Như là lịch, đại loại như vậy, ông biết chứ.”
“Cô không thấy thuyết phục.”
“Tôi không biết. Có lẽ nếu tôi xem qua nguyên bản...”
“Dĩ nhiên rồi, cô cần xem qua. Cô nói đúng, chính vì thế mà tôi đến đây. Đó là mối quan tâm của tôi: các sự vụ và lịch sử của người Da Đỏ. Tôi thường viết các bài nghiên cứu. Tôi được tiếng nhờ đó, tuy chỉ là nhỏ nhoi thôi. Tôi thực lòng tin...” ông ngập ngừng, nhìn ra khung cửa sổ, “… tôi thực lòng tin rằng nếu người Da Đỏ có một nền văn hóa chữ viết, thì người ta sẽ đối xử với họ khác đi.”
“Ông có thể đúng.”
“Tôi có một người bạn, một người bạn Da Đỏ, thường nói đến điều khả dĩ này. Cô thấy không, điều này không phải là hoàn toàn chưa ai nói tới.”
Nếu Sturrock cảm thấy thất vọng vì phản ứng của cô thì ông vẫn không để lộ ra.
Cảm thấy mình đã quá khắt khe, cô đưa tay nắm lấy tờ giấy: “Tôi chép lại được không? Nếu ông cho phép - Tôi có thể mang đi mà... thử làm việc gì đó.”
“Làm việc gì?”
“Chữ viết là một thứ mã, phải không. Và bất kỳ thứ mã nào cũng có cách giải mã.” Cô nhún vai, cho thấy mình không có kinh nghiệm trong việc này.
Sturrock mỉm cười và đẩy tờ giấy về phía cô: “Được rồi, cô cứ tự nhiên. Tôi đã thử, nhưng không thành công.”
Maria không hề tin rằng mình có thể giúp, nhưng ít ra việc này cũng giúp tâm trí cô thoát khỏi mấy chuyện chán nản và lo lắng đang vây phủ cô mọi bề.
***
Ông ở độ tuổi trung niên, người tầm thước, với đôi mắt xanh lam tinh anh trên gương mặt phong sương, và mái tóc muối tiêu cắt ngắn. Ngoài đôi mắt, bộ dạng ông không có gì nổi bật, nhưng tạo ấn tượng của một con người khiêm tốn, có sức thu hút, đáng tin cậy. Tôi có thể hình dung ông là một luật sư hoặc bác sĩ miền quê, một mẫu người công chức vốn đã đem trí thông minh làm việc tốt - ngoại trừ có lẽ đôi mắt ấy: như soi mói, nhìn sâu rộng, sáng sủa như mơ mộng. Đôi mắt của một nhà tiên tri. Tôi thấy ngạc nhiên, thậm chí bị thu hút. Không hiểu sao tôi đã nghĩ mình sẽ gặp một quái vật.
Stewart bắt tay tôi và khẽ cúi đầu chào: “Bà Ross. Rất hân hạnh được gặp bà.”
Tôi gật đầu.
“Còn anh hẳn là Moody. Hân hạnh được quen biết với anh. Frank nói với tôi anh làm việc ở Vịnh Georgian. Một vùng đẹp đẽ của phần đất này.”
Moody mỉm cười và bắt tay với Stewart: “Vâng, đúng vậy. Tôi cũng hân hạnh được gặp ông. Tôi đã nghe nói nhiều về ông.”
Stewart lắc đầu với một nụ cười, có vẻ như ngượng ngập: “À, thế... Ông Parker. Tôi nghĩ cần cảm ơn ông đã dẫn đường cho hai vị này trong cuộc hành trình khó khăn như vậy.”
Parker lưỡng lự một giây đồng hồ rồi đưa tay bắt. Theo tôi nhận xét, khuôn mặt Stewart không tỏ vẻ gì là ghi công Parker cả.
“Ông Stewart, tôi rất vui được gặp lại ông.”
Stewart lộ vẻ như vừa muốn tạ lỗi vừa lúng túng: “Gặp lại? Xin lỗi, tôi không nhớ...”
“William Parker. Gần Hồ Clear. Mười lăm năm về trước.”
Mặt ông tỏ vẻ tươi tắn dễ chịu: “Hồ Clear à? Ông Parker, xin ông thứ lỗi, trí nhớ tôi bây giờ đã kém.”
Parker không cười: “Có lẽ nếu ông vén tay áo bên trái, ông sẽ nhớ.”
Nét mặt Stewart thay đổi, và trong một giây khắc tôi không hiểu nổi. Rồi ông cười phá lên, đập tay lên vai Parker: “Trời đất! Làm thế nào tôi quên được? William! Đúng rồi, đương nhiên. Mà này, đã lâu lắm rồi, như ông nói.” Rồi ông nghiêm sắc mặt lại: “Rất tiếc tôi đã không đến gặp ông sớm hơn khi mới trở về. Có một tai nạn thương tâm, như quý vị đã nghe.”
Chúng tôi gật đầu, như bọn học trò gật đầu với thầy hiệu trưởng.
“Nepapanees là một trong số những nhân viên giỏi nhất của tôi. Chúng tôi đang săn thú dọc một con sông cách đây không xa.” Ông nói nhỏ lại, và tôi nghĩ tuy không chắc, tôi thấy long lanh giọt lệ trong đôi mắt ông: “Chúng tôi đang theo dấu vết nào đó và... tôi vẫn không tin chuyện gì đã xảy ra. Nepapanees là người có kinh nghiệm theo dõi dấu vết; người săn thú giỏi. Trong vùng lùm bụi thì không ai biết rành như anh ấy. Nhưng trong khi đi theo một dấu vết dẫn ra dọc bờ sông, anh ấy bước lên một lớp băng mỏng rồi chìm nghỉm.”
Ông ngưng lại, đôi mắt chú mục vào cái gì đấy không hiện diện trong phòng. Tôi nhận thấy gương mặt ông, vốn thoạt tiên toát vẻ tự tin, bây giờ hằn vẻ mệt mỏi. Có thể ông ở tuổi bốn mươi. Có thể ông già hơn mười lăm tuổi. Tôi không biết chắc.
“Chỉ một phút anh ấy ở đó, phút kế tiếp đã biến mất. Anh chìm xuống, cho dù tôi bò ra xa đến mức có thể được nhưng vẫn không thấy anh ấy. Tôi còn gục mặt xuống để tìm, nhưng vô ích. Tôi vẫn tự hỏi - có lẽ mình đã làm được hơn thế nữa?”
Ông lắc đầu: “Bạn có thể làm một việc cả ngàn lần mà không nghĩ ngợi gì. Giống như đi trên mặt nước đóng băng. Bạn đã biết rõ lớp băng dày bao nhiêu, biết dòng nước bên dưới chảy mạnh hay yếu. Và rồi sau những lần như thế bạn biết là an toàn, lần kế tiếp bạn đặt chân lên thì bạn phạm phải sai lầm, và mặt băng không đỡ được sức nặng của bạn.”
Moody gật đầu với vẻ cảm thông. Parker đang nhìn ông với chút ít chú ý, săm soi ông với cùng dáng vẻ mà tôi đã thấy trên gương mặt ông khi đang xem xét mặt đất, cố tìm ra dấu vết. Tôi không rõ ông thấy khó hiểu chỗ nào, vì Stewart chỉ lộ vẻ hối tiếc và buồn rầu.
Tôi hỏi: “Người ngoài kia là vợ anh ấy phải không?”
“Elizabeth tội nghiệp. Đúng. Họ có bốn đứa con; bốn đứa trẻ không cha. Một hoàn cảnh kinh khủng. Tôi thấy anh đi ra gặp cô ấy.” Ông đang nói với Moody: “Có lẽ anh nghĩ chúng tôi vô cảm khi để cô ấy một mình, nhưng đó là cung cách của họ. Họ tin rằng không ai có thể nói gì vào thời khắc như thế này. Phải để họ than khóc theo cách của họ.”
“Nhưng hẳn là, họ có thể nói cho cô ấy biết là cô không phải đơn độc. Và trong thời tiết này...”
“Nhưng trong nỗi đau của riêng cô ấy, thì cô đơn độc, phải không? Anh ấy chỉ có một vợ, và cô ấy chỉ có một chồng.” Đôi mắt xanh của ông nhìn qua tôi, và tôi phải nhìn nhận là ông nói đúng. “Cô ấy đặc biệt đau khổ vì tôi không mang thi hài anh ấy về được. Quý vị biết không, theo người Da Đỏ thì chết đuối là vô phúc. Họ tin rằng linh hồn không thể siêu thoát. Ít nhất cô ấy đã được rửa tội, nên có lẽ cô sẽ tìm thấy ít an ủi. Và các đứa trẻ cũng thế. Đó là phúc lành.”
Dù đang ở trong không khí gây sốc, Stewart vẫn nhất quyết muốn dẫn chúng tôi đi xem chung quanh. Chuyến tham quan là cử chỉ lịch sự đối với tất cả khách viếng thăm, nhưng có tính cách khập khiễng và hão huyền, như thể chúng tôi đang đóng vai trò của các vị khách thì thầm lời khen tặng.
Đầu tiên, ông dẫn cho chúng tôi đi xem tòa nhà chính; ba mặt là quảng trường. Tòa nhà một tầng bằng gỗ với một hành lang chính giữa như là cột sống, và các phòng nằm dọc theo hai bên. Trong khi chúng tôi đi xem, sự khác biệt giữa quá khứ và hiện tại của Hanover càng lúc càng rõ nét. Toàn thể một chái của tòa nhà là dành cho khách; ít nhất có chục phòng. Các phòng dành cho chúng tôi hướng ra phía ngoài, nhìn ra con sông và khu đồng bằng. Bây giờ quang cảnh toàn một nền trắng cùng những đường chân trời màu xám lờ mờ hòa trộn nhau, có một dốc đá màu nâu cắt ngang. Nhưng vào mùa hè thì cảnh này hẳn là đẹp. Rồi có một phòng ăn, nhưng khi không có bàn ăn dài thì xem trống vắng và cô đơn. Stewart cho chúng tôi biết rằng xưa kia, khi Hanover còn là trung tâm của một vùng có nhiều lông thú, nơi đây chứa một trăm nhân viên và gia đình của họ, và lợi nhuận cao tạo ra những buổi tiệc tùng kéo dài thâu đêm. Nhưng đó là nhiều năm về trước, trước khi Stewart đến nhận công tác. Trong khoảng hai mươi năm qua, thương điếm này hoạt động với một đội ngũ nhân viên ít ỏi, cố duy trì quyền kiểm soát chông chênh của Công ty trong vùng hoang dã, nhằm giữ thể diện của quá khứ hơn là vì lý do tài chính hợp lý.
Chái trung tâm dài của tòa nhà phần lớn là trống vắng; lúc trước là nơi cư ngụ của nhân viên điều hành, bây giờ là hang ổ của nhện và chuột. Thay vì có hàng chục nhân viên điều hành, bây giờ chỉ còn Stewart và Nesbit. Một nhân viên duy nhất cư ngụ ở đây là thông dịch viên chính, Olivier, một anh trai trẻ không lớn tuổi hơn Francis. Stewart kêu anh này đến gặp chúng tôi, và có lẽ anh không vui nhưng vẫn không lộ ra ngoài mặt. Anh có đầu óc nhanh lẹ, sẵn sàng làm vui lòng người, và với vẻ tự hào Stewart nói với chúng tôi rằng anh nói giỏi bốn thứ tiếng vì có lợi thế ở cha mẹ anh: một người nói tiếng Pháp và một người nói tiếng Anh, có gốc gác ở hai sắc tộc bản địa khác nhau.
Stewart nói: “Olivier sẽ tiến xa trong Công ty,” và Olivier mặt sáng lên với vẻ vui mừng lẫn ngượng ngập. Tôi tự hỏi có đúng thế không: làm thế nào một anh trai trẻ da ngăm đen tiến thân trong một công ty của người nước ngoài? Nhưng rồi, có lẽ anh đã tiến khá. Anh có công ăn việc làm và có tài năng, lại có người nâng đỡ là Stewart.
Từ chái thứ ba của tòa nhà, gồm các văn phòng, Stewart dẫn chúng tôi đến một kho chứa hàng, ông giải thích là trong mùa hè họ đã chở đi phần lớn lượng lông thú, nên bây giờ hàng tồn kho còn ít. Người đặt bẫy làm việc trong mùa đông để kiếm lông thú, và đến mùa xuân họ mang sản phẩm đến bán cho thương điếm. Donald dọ hỏi về các loại hàng hóa và sản lượng, và Stewart chú tâm trả lời khiến cho Donald cảm thấy tự mãn. Tôi liếc qua Parker để thăm dò phản ứng của ông, nhưng ông ngó lơ. Tôi cảm thấy bị hắt hủi. Những người khác phớt lờ, nhưng có cái gì đấy đập vào mắt tôi. Tôi cúi xuống và nhặt lên một mẩu giấy hình vuông. Viết trên đó là một số chữ cái và chữ số: 66HBPH, tiếp theo là tên các con thú. Tôi nhớ lại rằng mình vẫn còn giữ mẩu giấy mà Jammet đã cẩn thận giấu - có lẽ vậy - trong ngôi nhà gỗ của anh.
Tôi trao mảnh giấy cho Stewart: “Cái gì thế?”
“Đó là giấy đóng gói. Khi chúng tôi đóng gói lông thú...” ông đang nói với mình tôi, là người duy nhất không biết đến cách làm việc của Công ty, “… danh sách các món hàng được để trên cùng để chúng tôi biết mình không mất món nào. Mã số trên cùng chỉ ra loại hàng hóa - đây là tháng Năm năm rồi, tên Công ty, dĩ nhiên là vậy, tên hạt, tức là Missinaibi, được chỉ danh bằng chữP, và thương điếm - Hanover, H. Vì vậy mà mỗi gói hàng được xác định xuất xứ và thời điểm.”
Tôi gật đầu. Tôi không nhớ các chữ cái trên mảnh giấy của Jammet, chỉ biết rằng đấy là vài năm trước, có lẽ là vào lần cuối anh làm việc ở đấy. Vẫn còn cần được giải thích thêm.
Đi quá các nhà kho là khu chuồng gia súc, trống trơn ngoại trừ các con chó và vài con ngựa. Và quá nữa, là bảy hoặc tám ngôi nhà gỗ nơi các nhân viên tải hàng sống với gia đình của họ, và nhà nguyện.
“Bình thường thì tôi dẫn quý vị đi gặp mọi người, nhưng hôm nay... Đây là một cộng đồng gần gũi, đặc biệt bây giờ chúng tôi không có nhiều người. Có nhiều chuyện buồn.” Rồi ông quay đầu lại, hình như nói với riêng tôi lần nữa: “Xin tự nhiên đến nhà nguyện bất kỳ lúc nào. Luôn mở cửa.”
“Ông Stewart, tôi biết lúc này đầu óc ông bận rộn nhiều việc, nhưng ông biết là chúng tôi có lý do để đến đây không?” Tôi không màng liệu bây giờ có phải là lúc thuận tiện để nêu ra việc này hay không, tôi không muốn Moody là người đầu tiên nói ra.
“Vâng, tôi biết chứ. Frank nói với tôi về chuyện nào đó... Quý vị đang đi tìm ai đó, phải không?”
“Con trai tôi. Chúng tôi đã theo dấu nó. Dấu vết dẫn chúng tôi đến đây... hoặc ít nhất là gần đâu đây. Lúc gần đây ông có thấy người lạ mặt nào không? Nó là đứa trẻ mười bảy tuổi, tóc đen...”
“Không, tôi rất tiếc. Trước khi quý vị đến đây, chúng tôi không thấy ai cả. Tôi e mình đã bỏ sót, với mọi chuyện như thế này... Tôi sẽ hỏi mấy người khác. Nhưng theo tôi được biết thì không có ai khác đang ở đây.”
Vậy là trước mắt chỉ có thế. Moody có vẻ không hài lòng với tôi chút nào, nhưng đó là vấn nạn nhỏ nhặt nhất của tôi.
Stewart kiếu chúng tôi để đi lo vài công việc của Công ty và tôi nhìn qua Parker và Moody. Chúng tôi ngồi trong phòng khách của Stewart, với một lò sưởi tạo cảm giác khá thoải mái, và một bức tranh sơn dầu phía trên lò sưởi, vẽ các thiên thần.
“Tối qua, ngay sau khi chúng ta đến đây, tôi nghe Nesbit đang đe dọa một phụ nữ. Anh ta bảo cô ấy sẽ biết tay anh ta nếu cô không giữ mồm giữ miệng ‘về ông ấy’. Anh ta nói thế - ‘về ông ấy’. Cô ấy đang tranh cãi; tôi nghĩ cô không muốn làm theo. Và rồi anh ta nói chuyện gì đó sẽ xảy ra khi ‘ông ấy’ trở về. Đấy hẳn là Stewart.”
Moody hỏi: “Cô ấy là ai vậy??’
“Tôi không biết. Tôi không thấy mặt cô này, và cô nói khẽ hơn anh ta.”
Tôi lưỡng lự, không biết có nên kể cho Moody nghe về Nesbit và Norah hay không. Có cái gì đấy khiến cho tôi nghĩ người ấy là Norah; xem dường cô là mẫu người thích tranh cãi. Nhưng cánh cửa đã bật mở và anh thông dịch trẻ Olivier bước vào. Dường như anh được sai phái đến để làm bạn với chúng tôi. Nhưng tôi có cảm tưởng như người nào đấy muốn theo dõi chúng tôi.
***
Có lần cô nghe chuyện một phụ nữ lâm vào cảnh rối rắm vì người chồng đe dọa giết cô này. Cô đi đến thương điếm gần nhất của Công ty và đứng chờ bên ngoài, với tư trang của cô chất đống trước mặt. Đầu tiên, cô đốt tư trang của mình. Rồi châm que diêm đốt chiếc túi treo quanh cổ. Chiếc túi chứa đầy thuốc súng và nổ tung, khiến cho cô mù mắt, mặt và ngực bị bỏng. Sống sót vì lý do khó hiểu, cô lại lấy một sợi dây thừng treo cổ mình trên một nhánh cây. Nhưng cô vẫn sống, rồi lấy một cây kim dài đâm vào lỗ tai phải. Cho dù cây kim đâm lút sâu vào đầu, cô vẫn không chết. Cô chưa tới số, và linh hồn cô không muốn rời xa cô. Thế là cô từ bỏ ý định, đi đến nơi nào đó để bắt đầu cuộc sống mới, rồi khấm khá lên. Tên cô là Chim-bay-trong-ánh-nắng.
Điều lạ lùng là cô còn nhớ những chi tiết như thế trong câu chuyện. Tên người phụ nữ; lỗ tai bên phải. Có lẽ cô nhớ cái tên vì nó có phần giống tên cô: Bird - tức Chim. Cô không biết gì khác về người phụ nữ kia, ngoại trừ cô biết muốn chết là như thế nào. Nếu không vì các con cô thì cô nghĩ mình cũng muốn treo cổ. Alec sẽ ổn: mười ba tuổi, lanh lợi, đã có việc làm, đang học việc với Olivier làm thông dịch. Josiah và William thì nhỏ tuổi hơn nhưng không có nhiều trí tưởng tượng khiến cho chúng sợ hãi và hoang mang. Nhưng Amy còn nhỏ, và trong cuộc sống này con gái cần được hỗ trợ nhiều hơn, nên cô bé sẽ phải chịu đựng trong thời gian dài hơn. Nhưng khi không có chồng bên cạnh thì lúc nào cũng như là trong mùa đông.
Không cần phải chú tâm nhìn qua cửa sổ, cô vẫn thấy các vị khách đi đến và đứng cách ngôi nhà dăm bảy bước, nhìn về phía cô. Cô có thể nhận ra họ đang nói về mình; ông ta sẽ nói về chồng cô, kể câu chuyện chồng cô chết như thế nào. Cô không còn tin nơi ông ta nữa; khi nói chuyện với cô, ông ta luôn giữ kín các bí mật. Ông ta bắt chồng cô phải giữ kín các bí mật tuy chồng cô không thích, dù anh nhún vai mà phó mặc; sau các chuyến đi săn trở về anh bỏ lại các bí mật bên ngoài ngôi nhà.
Sáng hôm ấy - cô đang mong chờ anh trở về ngay khi cô thức giấc, Amy hỏi hôm nay pa-pa trở về phải không, và cô nói phải - cô bước ra cánh cổng phía tây, nghe tiếng các con chó sủa từ đằng xa, rồi cô mỉm cười với chính mình. Cô nghe rõ đến nỗi cô tin chắc mình nghe được tiếng nói của những người chạy trên nền tuyết. Cô vẫn còn mỉm cười khi anh trở về sau chuyến đi săn, dù cho họ đã cưới nhau một thời gian lâu như thế. Cô nghe tiếng các con chó và bước đến mô đất nơi người ta có thể nhìn qua hàng rào. Và thấy chỉ có một người đi với chiếc xe trượt tuyết. Cô đứng đấy mà nhìn cho đến khi ông ta đi đến vách đá, rồi cô đi xuống khoảnh sân để nghe ông ta nói gì, dù cô đã biết. Những người khác - William và George và Kenowas và Mary - đã thấy ông trở về một mình và đi ra để tìm hiểu, nhưng ông nói trực tiếp với cô, chiếu đôi mắt xanh đến cô như là một loại thần chú màu xanh, đến nỗi cô không thể thốt nên lời. Cô không nhớ những gì khác cho đến khi anh khách - cái anh lính mới tò te đó với vết thương do dao đâm và chân bị đau - đi ra và cố gắng ngỏ lời với cô, nhưng tiếng nói của anh nghe như tiếng ong kêu vo ve và cô không hiểu anh nói gì. Rồi một lúc sau anh mang ra một cốc cà phê, đặt bên cạnh cô. Cô không nhớ mình đã yêu cầu cà phê, nhưng có lẽ cô đã yêu cầu; cà phê thơm ngon, ngon hơn là bất kỳ loại nào cô đã từng dùng, và cô nhìn những bông tuyết li ti rơi xuống đất rồi biến mất trên nền đen trơn như dầu. Rơi xuống rồi tan chảy, thế là mất hút hẳn. Và rồi tất cả những gì cô có thể nghĩ tới là khuôn mặt của người chồng đang cố nói chuyện với cô, nhưng cô không thể nghe anh vì anh đang bị kẹt dưới một phiến băng dầy trên mặt sông, và anh đang chết đuối.
Cô cầm lấy cốc cà phê, rót xuống làn da ở mặt dưới cánh tay. Cà phê nóng, nhưng không nóng đủ. Làn da ửng hồng, tất cả chỉ có thế, và cánh tay cô bốc khói như thịt trong gió lạnh.
Họ dẫn cô vào nhà, và Mary ngồi bên cô, cho thêm củi vào lò sưởi, mang thức ăn đến cho các đứa trẻ. Mary vẫn ở đấy, như thể lo sợ Elizabeth sẽ nhảy vào lửa nếu ở một mình. Alec đến và vòng tay ôm lấy cô, bảo cô đừng khóc, dù cô không khóc lúc này. Đôi mắt cô khô khốc như một khúc củi. Amy cũng không khóc, nhưng đấy chỉ vì cô bé còn quá nhỏ nên không hiểu. Ba đứa con trai khóc cho đến khi thiếp ngủ vì mệt mỏi. Mary ngồi kế bên cô mà không nói năng gì, vì đã hiểu biết rõ. Một lần, George đến và nói sẽ cầu nguyện cho linh hồn của anh: George là tín đồ Cơ đốc và rất mộ đạo. Mary đẩy anh ra ngoài; cô và Elizabeth là tín đồ Cơ đốc nhưng Nepapanees là người ngoại đạo. Anh thuộc sắc tộc Chippewa, không có giọt máu da trắng nào trong huyết quản. Đôi lần anh đi nhà thờ nghe giảng đạo, nhưng nói đó không phải cho mình. Elizabeth gật đầu với George; cô biết anh có ý giúp. Và có lẽ giúp cô được; ai nói rằng Cha trên Trời không thể can thiệp trong số phận của chồng cô? Có lẽ có một thỏa thuận hỗ tương.
Với giọng the thé như tiếng chìa khóa trong ổ khóa gỉ sét, Elizabeth nói: “Mary, hãy nói với tôi tuyết đang rơi.”
Mary ngước lên. Cô đang đặt Amy trên lòng mình, và trong một khoảnh khắc Elizabeth mơ tưởng như Mary là người mẹ và Amy là đứa trẻ mà cô không hề quen biết.
“Không, tuyết đã ngưng rơi một giờ rồi. Nhưng bây giờ trời đang trở tối. Tuyết sẽ rơi ngày mai.”
Elizabeth gật đầu. Tuyết đã ngưng rơi chỉ vì một lý do, và cô biết mình sẽ làm gì vào buổi sáng. Đáng lẽ phải làm sớm hơn nếu không có tuyết, khiến cho lúc này họ phải dừng lại và suy nghĩ. Hầu họ sẽ làm chu toàn hơn. Vào buổi sáng họ sẽ trở lại con sông để tìm anh và mang anh về.
Amy thức giấc, nhìn qua mẹ. Dù sao thì mẹ là của cô bé, với đôi mắt nâu-xám và làn da xanh xao. Họ đã muốn có thêm một đứa con gái. Nepapanees đã nói trêu rằng anh muốn có một đứa con gái giống anh, thay vì giống cô.
Bây giờ sẽ không có thêm một đứa con gái nào cả. Linh hồn của đứa con gái này, nếu Nepapanees tin đó là thực, sẽ phải chờ được sinh ra nơi khác, vào một lúc khác.
Vấn đề là cô không còn tin vào bất kỳ việc gì nữa.
***
Donald quay về phòng mình để viết thư cho Susannah. Tuyết rơi thêm trong khi họ dùng bữa; nếu Stewart nói đúng thì cơn bão tuyết này sẽ kéo dài nhiều ngày, và sẽ không có cơ hội đi đâu trước khi nó chấm dứt. Nhưng anh có hơn một lý do mà cảm ơn cho điều này. Anh cảm thấy mệt mỏi một cách đáng ngại. Hai bàn chân anh nhức dữ dội mặc dù mang giày da đanh, còn vết thương trên bụng nổi đỏ và nhỉ nước. Anh ngồi chờ trong phòng ăn một lúc rồi kéo Stewart qua một bên, nói nhỏ rằng mình cần chăm sóc y tế. Stewart gật đầu và hứa sẽ kêu người nào đó với một ít chuyên môn đến giúp anh. Rồi, khá bất ngờ, ông nheo mắt với anh.
Dù gì chăng nữa, bây giờ anh cảm thấy không đau lắm, ngồi ở chiếc bàn ọp ẹp mà anh yêu cầu, với tập giấy và ít mực đã rã đông. Trước khi bắt đầu, anh cố định hình khuôn mặt hình trái xoan của Susannah trong tâm trí mình, nhưng một lần nữa thấy khó mà nhận ra. Một lần nữa, khuôn mặt của Maria hiện ra sắc nét tuyệt đối, và anh nhớ ra rằng hẳn là lý thú mà viết cho Maria để thảo luận tình trạng phức tạp của họ, mà anh tin chắc sẽ làm buồn cô em. Chưa kể đến vụ việc rối ren của người góa phụ. Anh muốn biết Maria sẽ nói gì về mấy chuyện này. Ngày mai hoặc ngày mốt, không có gì phải vội vã, anh sẽ dọ hỏi. Nhưng bây giờ, có thể gạt những nhiệm vụ ra khỏi đầu óc của mình.
Anh viết với đủ tự tin: “Susannah thân mến”. Nhưng tiếp theo đó, anh lưỡng lự. Tại sao không viết thư cho cả hai chị em? Dù sao chăng nữa, anh quen biết với cả hai. Anh chấm cây viết lên mặt bàn đôi ba lần, rồi lấy một tờ giấy mới mà viết: “Maria thân mến”.
Khoảng một tiếng đồng hồ sau, có tiếng gõ cửa. Anh đáp mà vẫn tiếp tục viết: “Mời vào.”
Cánh cửa mở, một cô gái Da Đỏ trẻ đi vào, không một tiếng động. Anh đã được chỉ cho thấy cô; tên cô là Nancy Eagles, vợ của một nhân viên tải hàng trẻ. Cô không quá hai mươi tuổi, có gương mặt dễ thương lôi cuốn, và giọng nói nhỏ nhẹ đến mức anh phải cố lắng nghe mới hiểu ra.
Anh cảm thấy ngạc nhiên và vui vui: “À, Nancy, phải cô đó không? Cám ơn...”
Giọng nói cô nhỏ nhẹ và thiếu sinh khí, như thể nói với chính mình: “Ông Stewart nói anh đang bị đau.” Cô cầm một tô nước và vài mảnh vải - hiển nhiên là cô đến để chăm sóc anh. Không nói gì thêm, cô ra dấu cho anh hiểu phải cởi áo ra, và đặt tô nước xuống sàn nhà. Donald lấy giấy thấm đặt lên tờ thư rồi mở các nút áo, thình lình nhận biết về thân người trắng trẻo mảnh khảnh của mình.
“Không có gì nặng, nhưng... đây này, cô xem, tôi bị một vết thương hai... ba tháng trước, mà chưa lành hẳn.” Anh tháo bông băng ra, màu hồng và ướt vì chất dịch nhỉ ra.
Nancy đưa bàn tay đẩy nhẹ ngực anh, cho anh ngồi xuống trên giường: “Đó là một con dao.” Cô chăm chăm nhìn vết thương, không hỏi anh trực tiếp.
“Đúng. Nhưng đó là một tai nạn...” Donald cười, bắt đầu dông dài kể cho cô nghe câu chuyện về trận đấu bóng bầu dục.
Nancy quỳ gối trước mặt anh, không quan tâm đến nguồn gốc của vết thương. Khi cô dùng bông chấm vết thương, anh hít một hơi mạnh và ngưng nói, chưa kịp giải thích về động tác ngã người truy cản. Nancy nghiêng người tới trước ngửi vết thương. Donald cảm thấy nóng bừng mặt, ngừng thở, nhận thấy đầu cô gần tựa vào lòng mình. Tóc cô đen tuyền, mượt mà như lụa, không thô ráp như anh đã nghĩ. Làn da cô cũng mượt mà, mềm mại, trông vô tội. Anh thắc mắc cô có biết mình đẹp hay không. Anh mường tượng người chồng Peter của cô - một nhân viên tải hàng có vóc người cao, vạm vỡ - lúc này bước vào, và mặt anh tái nhợt vì ý nghĩ này. Có vẻ như Nancy không bận tâm. Cô lấy bông băng sạch đắp một thứ bột dược thảo rồi ra dấu anh giơ hai tay lên, rồi băng chặt đến nỗi Donald lo sợ mình sẽ chết ngạt trong đêm.
“Cám ơn cô. Tử tế quá…” Anh tự hỏi mình có cái gì đó để tặng cô, và đầu óc lục lọi trong số ít vật dụng anh mang theo người. Anh không tìm ra được món gì thích hợp.
Nancy thoáng mỉm cười, lần đầu tiên đôi mắt huyền của cô nhìn vào mắt anh. Anh nhận thấy đôi lông mày cô có nét cong thanh tú của đôi cánh chim mòng biển, và rồi, trong nỗi kinh ngạc cùng cực của anh, cô cầm lấy bàn tay anh ép vào ngực mình. Trước khi anh có thể thốt lên một tiếng hoặc rụt tay lại, cô ép môi mình lên môi anh, còn bàn tay kia của cô nắm lấy cơ quan không phải là vô cảm giữa hai đùi anh. Anh thốt lên tiếng nào đó - anh không chắc là tiếng gì - và sau một khoảnh khắc những cảm giác dâng trào khiến cho anh không biết chuyện gì đang tiếp diễn, rồi anh cương quyết đẩy cô xa ra. (Moody, hãy trung thực đi - khoảnh khắc đó kéo dài bao lâu? Đủ lâu.)
“Không? Tôi… tôi xin lỗi. Chuyện đó thì không. Không.”
Tim anh đập thình thịch, âm thanh của nhịp đập vang vang như tiếng sóng đập vào màng nhĩ. Nancy nhìn anh, đôi môi dày màu hạt dẻ hé mở. Trước đây anh chưa từng nghĩ phụ nữ bản địa có thể đẹp như phụ nữ da trắng, nhưng bây giờ anh không thể hình dung ra bất kỳ ai đẹp hơn cô gái trước mặt mình. Donald nhắm mắt lại để thoát khỏi hình ảnh của cô. Các ngón tay của cô vẫn còn đặt trên cánh tay anh nơi anh giữ cho cô cách xa mình, như thể họ là cặp khiêu vũ đã đông cứng giữa bước nhảy.
“Tôi không thể... Cô xinh đẹp, nhưng... không, không được.”
Cô nhìn xuống quần anh, trông như nó không đồng ý với lời anh nói.
“Chồng cô...”
Cô nhún vai: “Không sao.”
“Đối với tôi thì không được. Tôi xin lỗi.”
Anh cố gắng quay người đi, có phần thầm mong cô tấn công anh lần nữa. Nhưng không có chuyện gì xảy ra. Khi anh liếc nhìn lại, cô đang thu nhặt cái tô nước bẩn, quần áo và bông băng cũ.
“Cám ơn, Nancy. Xin đừng... cảm thấy xúc phạm.”
Nancy nhìn nhanh đến anh nhưng không nói gì. Donald thở dài, và cô đi ra không một tiếng động như khi bước vào. Anh nhìn cánh cửa đã khép, thầm rủa. Rủa mình, rủa cô và rủa cả nơi chốn đổ nát hoang vu. Bức thư đặt trên bàn đang trách móc anh. Những ngôn từ tươi sáng, khúc chiết; ngoài tính hóm hỉnh... tại sao anh lại viết thư cho Maria? Anh cầm lấy tờ thư vò thành một nhúm tròn, và lập tức hối tiếc. Rồi anh nhặt lấy chiếc áo sơ mi dự phòng và ném xuống sàn nhà, chỉ là kiếm chuyện để ném cái gì đó (nhưng cái gì đó không vỡ được). Sàn nhà bẩn thỉu. Tại sao anh giận dữ như thế khi anh làm việc phải? (Có lẽ hối tiếc? Bởi vì anh là người hèn nhát, không đủ can đảm để đón nhận khi được dâng hiến tuy vẫn khao khát?)
Chết tiệt, chết tiệt, chết tiệt.
***
Sau khi Moody xin kiếu để rời bàn ăn, Parker cũng đứng dậy xin đi nghỉ. Sau khi ông đã đi, tôi thắc mắc hai người tính toán việc gì hay không, cho dù Donald có vẻ rất mệt mỏi đến nỗi có lẽ anh thật sự muốn đi ngủ. Về phần Parker thì tôi không chắc. Tôi mong ông đang tìm cách suy luận theo phép mầu nào đó, và tôi chưa đoán ra. Stewart đề nghị Nesbit dẫn tôi đến phòng khách để uống gì đó. Ông nói mình sẽ đến sau ít phút - theo cách mà tôi lập tức tự hỏi ông định làm gì. Cũng là điều hay mà có đầu óc luôn nghi ngại, nhưng tôi vẫn không thể nói cho đến giờ mình tìm thấy những gì.
Nesbit rót hai ly whisky mạch nha và trao cho tôi một ly. Chúng tôi cùng chạm ly.
Tối nay anh đang căng thẳng và cáu kỉnh; đôi mắt sôi sục, hai bàn tay vặn xoắn liên tục hoặc gõ trên mặt bàn. Anh hầu như không ăn gì. Thế rồi, trước khi uống cà phê, anh xin kiếu để đi ra ngoài. Stewart đáp lời theo cách phù hợp, nhưng đôi mắt tỏ ra gượng gạo. Tôi nghĩ ông đã biết. Norah giúp phục vụ chúng tôi suốt bữa ăn, và dù nhìn cô chăm chú tôi vẫn không phát hiện nét căng thẳng nào trên mặt cô. Bây giờ khi Stewart ở đây, cô trở nên dễ bảo hơn, không tỏ lộ nét u sầu nào như tối qua. Khi Nesbit trở lại mười hoặc mười lăm phút sau, tư thái anh đã thay đổi; những cử động của anh uể oải, đôi mắt trông ngái ngủ. Parker và Moody không tỏ vẻ nhận ra điều gì khác lạ.
Tôi đi đến cửa sổ, vén bức màn nhìn ra. Tuyết không còn rơi, nhưng đóng trên mặt đất dày dăm ba phân.
“Anh Nesbit, anh nghĩ sẽ có tuyết rơi thêm hay không?”
“Tôi không tự phụ là người hiểu biết về thời tiết ở đây, nhưng có vẻ là vậy. Bà nghĩ sao?”
“Tôi chỉ băn khoăn không biết lúc nào chúng tôi có thể ra đi. Nếu chúng tôi phải tiếp tục cuộc tìm kiếm...”
“À, dĩ nhiên rồi. Đây không phải là mùa thuận lợi trong năm.” Có vẻ như anh không quan tâm đến số phận của đứa con trai mười bảy tuổi của tôi đang một mình ở ngoài vùng hoang dã. Hoặc có lẽ anh sâu sắc hơn là tôi tưởng.
“Nơi chốn dễ sợ, như ở đây. Vô cùng thuận lợi cho các can phạm. Tôi luôn nghĩ, đáng lẽ nên mang họ đến Tasmania
[53]
là nơi chốn xa xôi nhất mà tôi nghĩ ra, thì vui hơn. Khá giống Hạt Lake.”
“Nhưng ở đây không cách biệt lắm. Hoặc không xa khu dân cư.”
“Cảm thấy khá cách biệt. Bà biết không, mấy năm trước có một đám nhân viên - tôi nghĩ họ là người nước ngoài - cố trốn chạy khỏi Thương điếm Nai Sừng tấm. Trong tháng Giêng! Dĩ nhiên là không ai trông thấy họ nữa. Lạnh cóng đến chết giữa vùng hoang vu, tội nghiệp bọn khốn kiếp.” Anh cười nhẹ, cay đắng: “Bà Ross, thứ lỗi cho tôi ăn nói bỗ bã. Đã lâu rồi không trò chuyện với một quý bà nên tôi đã quên cách ăn nói.”
Tôi không muốn chấp nhận; có điều gì đấy trong câu nói mà tôi đã nghe còn tệ hơn.
Anh nhìn tôi với vẻ suy đoán mà tôi không thích. Tối nay anh không say, nhưng đôi đồng tử anh rất nhỏ, ngay cả trong ánh sáng lờ mờ. Bây giờ đôi bàn tay anh bất động và thư giãn; được làm dịu. Tôi hiểu được anh, tôi nghĩ thế. Tôi biết cảm giác là như thế nào.
“Anh nói họ mất tích hay sao?”
“Đúng. Nhưng bà đừng sợ hãi - như tôi đã nói, họ là người nước ngoài. Người Đức hay đại loại như vậy.”
“Anh không thích người nước ngoài sao?”
“Không hẳn thích. Ngày nào họ cũng la rầy tôi. Cho tôi một người Scotland thì hay hơn.”
“Giống như Ông Stewart?”
“Chính xác. Giống như Ông Stewart.”
Tôi nốc cạn ly rượu. Anh hùng rơm, nhưng còn hơn là chẳng anh hùng gì cả.
Khi Stewart bước vào, mặt tôi đã nóng vì whisky nhưng đầu óc tôi vẫn còn tỉnh táo. Nesbit rót một ly cho ông và chúng tôi thoải mái trò chuyện trong ít phút.
Rồi Stewart quay sang nhìn tôi: “Tôi đang suy nghĩ về Ông Parker. Bà biết không, ban đầu tôi không nhớ ra ngay tên ông ấy vì đã lâu rồi. Cho tôi biết, bà gặp ông ấy như thế nào?”
“Chúng tôi mới gặp nhau lúc gần đây. Ông ấy đến Caulfield và khi tôi cần người hướng đạo thì có người giới thiệu ông ấy.”
“Thế thì bà không biết rõ ông ấy lắm, phải không?”
“Không rõ lắm. Tại sao?”
Stewart mỉm nụ cười, ra vẻ như có tin tức thú vị sẽ loan báo: “À... Ông ấy, hoặc ít nhất là lúc trước, có cá tính khá thú vị. Có vài sự cố ở Hồ Clear... Một số nhân viên tải hàng khá ngông cuồng, và ông ấy nằm trong số đó.”
Làm ra vẻ như đang buôn chuyện tầm phào, tôi mỉm cười nói: “Quả là kỳ lạ! Xin ông kể tiếp.”
“Đúng ra thì không kỳ lạ lắm. Chỉ là vài sự cố xấu xa. Khi còn trẻ, William hay dùng vũ lực. Chúng tôi đi cùng chuyến tải hàng - đó là hơn mười lăm năm về trước, bà hiểu chứ - một chuyến đi trong mùa đông. Cũng có mấy người khác đi cùng, nhưng... đó là chuyến đi vất vả, và diễn ra cãi cọ. Về việc tiếp tục đi hay quay về, đại loại như vậy. Thực phẩm đang cạn dần. Dù sao chăng nữa, xảy ra chuyện chúng tôi xô xát với nhau.”
“Xô xát! Trời đất!” Tôi ngồi nghiêng người về phía trước, mỉm cười để khuyến khích ông kể tiếp.
“Có lẽ bà còn nhớ ông ấy nói gì, và đúng vậy, ông ấy cho tôi cái gì đó để nhớ tới ông,” Stewart vén cánh tay áo bên trái. Chạy dọc theo cẳng tay là một vết sẹo trắng dài, rộng vài ba li.
Tôi cảm thấy sốc mà không che giấu được.
“Đôi lúc mấy anh con lai này, nếu cho họ nửa chai rượu là họ biến thành quỷ dữ. Chúng tôi cãi vã nhau và anh ta cầm dao đâm tôi. Mà giữa vùng hoang vu; đó không phải là chuyện đùa, tôi có thể nói với bà như vậy.”
Ông lại kéo cánh tay áo xuống. Lúc này tôi không thể nghĩ ra phải nói gì.
“Tôi xin lỗi, có lẽ tôi không nên cho bà xem. Một số quý bà hãi hùng khi trông thấy vết sẹo.”
Tôi lắc đầu: “Không đâu...”
Nesbit rót thêm rượu cho tôi. Không phải là vết sẹo làm cho tôi khó chịu, nhưng chính vì hình ảnh cuối cùng của Jammet luôn ám ảnh tâm trí tôi. Và hình ảnh đầu tiên của Parker: người nhân tạo đang lùng sục ngôi nhà gỗ: một con người hoang dại, kỳ dị, trông mà phát khiếp.
Nesbit vui vẻ nói: “Không phải vì trông thấy vết sẹo của mình, mà vì ý nghĩ người hướng đạo của bà luôn thủ con dao kề cận bên bà.”
“Trong ba tuần qua, tôi thấy ông ấy không có vẻ gì như thế. Ông ấy là người hướng đạo mẫu mực. Có lẽ như anh nói, tính bạo lực của ông ấy là do rượu rum. Bây giờ ông ấy không uống rượu.”
Tôi nghĩ thầm Stewart có thể đã nói dối. Tôi nhìn vào đôi mắt ông, cố đọc tâm hồn ông. Nhưng ông chỉ có vẻ tử tế, chân thật; có phần kỳ vọng, khi nghĩ về ngày xưa.
“Kể cũng tốt mà nghe có người rút tỉa được bài học từ lỗi lầm của họ, phải không?”
Tôi nói nhẹ: “Đúng như vậy. Nếu thêm nhiều người trong chúng ta làm thế.”
Sau đó, trong phòng mình, tôi vẫn mặc nguyên bộ trang phục và ngồi trên ghế để tránh ngủ gục. Tôi không thích gì hơn là nằm xuống và thả lỏng để quên hết. Nhưng tôi không làm được, và tôi không chắc mình quên hết được; tôi đang phiền muộn, công tâm mà nói thế. Tôi muốn hỏi Parker về Stewart, về quá khứ của hai người, nhưng tôi ngại đến đánh thức ông lần nữa. Ngại, hoặc sợ. Hình ảnh lúc trước trở về khiến tôi bị sốc. Tôi đã quên làm thế nào hình ảnh Parker khiến tôi lạnh cả sống lưng; làm thế nào ông trông tàn bạo và kỳ dị. Dĩ nhiên là tôi không quên vẻ bề ngoài của ông, nhưng tôi đã quên ảnh hưởng của vẻ bề ngoài ấy đối với mình lần đầu tiên. Quả là kỳ lạ như thế, khi bạn hiểu biết thêm về người nào đấy.
Nhưng tôi không thấu hiểu Donald. Trong thái độ tự bảo vệ, anh không muốn giấu diếm việc lúc trước hai người bọn họ đã gặp nhau, nhưng có lẽ anh chỉ đi trước một bước mà làm việc không tránh khỏi; một màn tháu cáy nhân đôi.
Đôi mắt tôi đã quen với bóng tối, và lớp tuyết phản chiếu ánh sáng lờ mờ, vô định hướng, đủ cho tôi mò mẫm khi bước ra hành lang. Tôi gõ cửa phòng anh thật nhẹ, rồi tự đi vào, đóng cánh cửa lại sau lưng mình. Tôi nghĩ mình đã cố rón rén, nhưng anh ngồi bật dậy trên giường.
Giọng anh nghe hoảng hốt và giận dữ: “Trời ơi... Không! Đi ra!”
“Anh Moody, tôi đây, Bà Ross.”
“Cái gì? Cái quái gì vậy?” Anh lần mò tìm diêm quẹt và đốt cây đèn cầy kế bên giường ngủ. Khi khuôn mặt hiện ra từ bóng tối, anh đã mang vào đôi kính, và đôi tròng mắt anh gần như lọt ra khỏi hố mắt.
“Xin lỗi, tôi không muốn làm anh sợ.”
“Làm cái quái gì mà bà vào đây giữa đêm khuya vậy?”
Tôi đã nghĩ sẽ gặp phản ứng ngạc nhiên và khó chịu chứ không phải giận dữ: “Tôi phải trao đổi với ai đó. Xin anh vui lòng... không mất nhiều thời giờ đâu.”
“Tôi nghĩ bà đã trao đổi với ông Parker.”
Trong giọng anh có điều gì đấy, nhưng tôi không biết chắc là gì.
Tôi ngồi trên chiếc ghế duy nhất, sau khi đã dẹp quần áo anh qua một bên: “Tôi không biết nghĩ thế nào, và ta cần bàn với nhau.”
“Để chờ tới sáng mai không được sao?”
“Họ không muốn chúng ta một mình với nhau. Anh có thấy như thế không?”
“Không.”
“À... tôi đang nói cho anh hay những gì tôi đã nghe lỏm Nesbit nói, rồi Olivier đi vào và chúng ta không thể trao đổi thêm.”
“Thế thì sao?” Giọng nói của anh vẫn nhanh nhẩu do tức giận, nhưng anh đã bớt sợ so với khi tôi mới bước vào. Như thể anh sợ tôi là một người nào khác.