Cảnh 6
Ma-nơ-canh
Tôi có một giấc mơ kỳ dị. Khi thức giấc, tôi không thể nhớ được nội dung giấc mơ đó, nhưng cứ nghĩ đến nó thì thấy rùng mình.
Kiyoshi vẫn đang ngủ. Tôi nghe tiếng cậu càu nhàu khi tôi chui ra khỏi túi ngủ.
Bên ngoài trời rất lạnh, nhưng không khí thật trong lành. Tôi hoàn toàn tỉnh táo khi xuống đến chân cầu thang.
Xe của Emoto khởi động rất dễ, tôi lái ra Cao tốc Meishin, hòa vào dòng xe cộ lưu thông một cách thuận lợi. Một tấm biển quảng cáo trên bãi trống bên tay trái lọt vào tầm mắt. Một cô gái đang mỉm cười bên cạnh chiếc tủ lạnh, mái tóc tung bay trong gió. Đột nhiên, giấc mơ trở lại với tôi. Một thiếu nữ xinh đẹp, hoàn toàn khỏa thân, đang vùng vẫy giữa đại dương, mái tóc dài của cô ta dập dờn theo sóng. Hai bầu vú, bụng và đầu gối của cô ta gầy một cách bất thường, như thể được bó chặt lại bằng một sợi dây. Cô gái nhìn thẳng vào tôi, nhưng tôi không tài nào nhận ra cô ta. Dường như cô gái đang ra hiệu cho tôi trong sự im lặng lạnh lùng. Sau đó cô gái biến mất dưới những lớp sóng tối đen.
Tôi ớn lạnh khi nghĩ tới giấc mơ. Phải chăng đó là một dạng thông điệp từ Azoth? Tôi đột nhiên nhớ đến sức mê hoặc kỳ quái đã ám ảnh Tamio Yasukawa khiến người đàn ông hóa điên và nhảy xuống biển...
Tôi ra khỏi đường cao tốc ở giao lộ Komaki và dòng xe cộ đột nhiên trở nên đông đúc hơn. Mãi tới 11 giờ trưa tôi mới đến được Meiji-Mura. Tôi đỗ xe và lên một chiếc xe buýt chở du khách tới lối vào công viên. Đường rất hẹp, cành lá của những cái cây thấp tè liên tục quét qua kính xe buýt chẳng khác gì đang đi trong rừng. Rồi đột nhiên một vùng nước xanh thẫm hiện ra - hồ Iruka. Công viên di sản được thiết kế giống như một bảo tàng ngoài trời khổng lồ.
Tôi lần theo bảng chỉ dẫn tới khu phục chế một trung tâm thị tứ điển hình của thời Minh Trị. Điều làm tôi ấn tượng nhất đó là toàn bộ nơi này trông chẳng khác gì của Mỹ. Rõ ràng là các kiến trúc sư thời Minh Trị chịu ảnh hưởng sâu sắc của phong cách xây dựng phương Tây. Rất ít công trình từ thời đó còn lại nguyên vẹn đến ngày nay ở Nhật Bản: quá trình đô thị hóa nhanh chóng đã làm thay đổi cảnh quan đô thị, dẫn đến tình trạng mai một phong cách truyền thống. Trong khi đó, người Anh vẫn sống trong những ngôi nhà cổ xưa với đồ đạc như cũ từ thời Sherlock Holmes. Một thành phố Nhật Bản điển hình trông rất tẻ nhạt và thiếu điểm nhấn: mọi tòa nhà mới xây đều trông như một nhà máy hoặc nhà tù. Bị bao bọc trong những bức tường trát vữa và những ô cửa sổ nhỏ xíu, người dân chẳng khác gì đang sống trong những nghĩa địa. Dân cư sống không thọ do bị nhồi nhét trong những tòa nhà kiểu phương Tây: có lẽ phong cách này không thật sự phù hợp với khí hậu Nhật Bản. Trước đây, vào mùa hè, người ta ưa để cửa sổ mở để giảm sức nóng và độ ẩm trong nhà. Ngày nay để bảo vệ sự riêng tư của mình, họ xây nhà bằng những khối bê tông dày cộp bốn xung quanh. Kết quả của sự thành công trong kinh tế thời hậu chiến ở Nhật Bản đã khiến hầu hết các hộ gia đình Nhật ngày nay, phụ thuộc vào máy điều hòa nhiệt độ. Sớm muộn, chúng ta cũng phải tìm cách loại bỏ những khối bê tông xấu xí ấy.
Trong lúc lang thang ở Meiji-Mura, tôi bắt đầu ao ước rằng kiến trúc Nhật Bản sẽ lấy lại nét phóng khoáng như đã từng có trước đây.
Tôi đi qua một cửa hàng thịt và Nhà thờ Thánh John, sau đó đến hai công trình truyền thống Nhật Bản. Một trong số đó là ngôi nhà thuần Nhật Bản nơi nhà văn Soseki Natsume đã viết tiểu thuyết nổi tiếng
Tôi là con mèo
. Có vài người đang ngồi ngoài hiên. Một người trong số họ bắt chước Natsume gọi to, “Lại đây, mèo con, mèo con!”. Giá mà Kiyoshi có mặt ở đây, cậu ấy hẳn sẽ rất khoái đóng giả làm nhà văn huyền thoại đó.
Ý nghĩ tiếp nối ý nghĩ, và tôi nhớ lại một dòng trong cuốn tiểu thuyết khác của Natsume, cuốn
Thế giới ba góc
. Tôi nhớ đến nó khi tôi đọc lần đầu tiên:
“Tiếp cận mọi việc một cách lý trí, bạn sẽ trở nên cay nghiệt. Bơi đi trong dòng cảm xúc, bạn sẽ bị cuốn phăng đi… Thế giới này của chúng ta không phải là nơi sinh sống dễ chịu.”
Tôi dám chắc Kiyoshi rất hợp với hình ảnh đầu tiên. Trong khi đó, tôi là tuýp người thiên về tình cảm hơn: tôi luôn dễ dàng bị cuốn đi. Cả hai chúng tôi đều không thành công trong thế giới xô bồ. Lúc này đây tôi càng thấm thía những gì Natsume nói. Bunjiro Takegoshi rất giống tôi ở khía cạnh này - đó là con người của tình cảm. Nếu tôi rơi vào tình huống của ông ta, chắc tôi cũng sẽ làm đúng những gì ông đã làm. Và dĩ nhiên, thế giới này không phải là nơi dễ chịu để ông ấy sống.
Gần ngôi nhà của Natsume có mấy bậc cấp đá, khi tôi bước xuống đó, một con mèo trắng chạy vụt qua trước mặt tôi. Nó khiến tôi mỉm cười: bất kỳ ai nuôi mèo đều có khiếu hài hước cả. Bậc cấp dẫn xuống một quảng trường thực chất là nhà ga xe điện Kyoto cũ chạy quanh thành phố. Ở góc phố khác, một nhóm thiếu nữ đang cười khúc khích khi chụp ảnh cùng một người đàn ông trung niên trong trang phục cảnh sát thời xưa. Ông mặc quần dài màu đen có đường chỉ vàng chạy dọc bên sườn, thắt lưng đeo thanh kiếm cũng màu vàng. Trong khi các cô gái lần lượt tạo dáng thì viên cảnh sát vân vê bộ ria rậm cong vút hình ghi đông của mình khiến cho các cô gái cười ngặt nghẽo. Vài vị khách khác mỉm cười khi xếp hàng chờ đến lượt chụp ảnh.
Mọi thứ ở đây diễn ra thật dễ chịu và nhẹ nhàng. Nhân viên phục vụ đều đã đứng tuổi, tốt bụng và rất yêu thích công việc của mình. Bỗng nhiên tôi có cảm giác rằng người đàn ông mặc giả cảnh sát thời Minh Trị có thể chính là Hachiro Umeda. Tôi quyết định sẽ quay lại để nói chuyện với ông ta sau.
Tôi leo lên xe điện. Người soát vé đứng tuổi đục lỗ vé, đóng dấu và trao trả lại cho tôi rồi nói, “Anh có thể giữ lấy vé để làm kỷ niệm của chuyến đi.” Tôi tự hỏi lẽ nào cuộc sống ở Nhật Bản có thể yên bình dễ chịu đến vậy. Chắc chắn đây là một trải nghiệm khác xa với tàu điện ngầm ở Tokyo vào giờ cao điểm.
“Ngọn hải đăng xuất hiện bên phải quý vị vốn nằm ở Shinagawa thủ đô Tokyo… và ngôi nhà bên tay trái là nhà của nhà văn nổi tiếng Rohan Koda…” Người soát vé nói bằng giọng rất tự tin của một người kể chuyện chuyện nghiệp hoặc một diễn viên sân khấu. Mỗi lần ông chỉ vào một tòa nhà hoặc công trình lịch sử nào đó để giới thiệu, nhóm phụ nữ trung tuổi trên xe điện lại đổ dồn từ một bên này xe sang bên kia để nhìn cho rõ. Họ làm cho tôi nhớ tới hình ảnh những con trâu chạy tán loạn.
Khi xe điện dừng tại ga cuối, người soát vé nhảy ra khỏi ghế ngồi. Ngạc nhiên trước sự vận động nhanh nhẹn như vậy, tôi nhìn theo qua cửa sổ, quan sát hoạt động của ông ấy. Bất chấp tuổi tác và vóc dáng nhỏ thó của mình, người soát vé vẫn nhảy vọt lên tóm lấy sợi dây mắc vào cần truyền điện giống như một con ếch nhảy lên một cành liễu. Sau khi cái cần bị kéo xuống, người soát vé chạy bên cạnh chiếc xe khi nó xoay trên bàn quay đầu. Chuyển cần truyền điện sang hướng ngược lại, người soát vé chạy trở lại chiếc ghế ngồi của mình. Ông ta ra hiệu cho tài xế tiếp tục, chiếc xe điện lại từ từ chạy ngược lên, giống như con bò vừa thức dậy sau một giấc ngủ ngắn.
Động tác nhanh nhẹn của người soát vé khiến tôi ngạc nhiên. Dường như không ai ở Meiji-Mura tỏ ra vội vã cả và có vẻ thời gian biểu không tồn tại ở nơi này, nhưng cho dù vậy thì ông ấy cũng tỏ ra thích thú với việc vận hành mọi thứ suôn sẻ. Tôi tin chắc gia đình ông sẽ rất lo lắng nếu họ nhìn thấy công việc của một người soát vé phụ xe điện nhọc nhằn thế nào. Sự năng nổ hoạt bát cho thấy ông không hề bị đau lưng hay mất ngủ - nhưng nếu ông bị đột quỵ trong khi đang nhảy thì sao nhỉ? Chà, như vậy âu cũng là số phận mà thôi. Thực tế cho thấy người đàn ông đó sẽ hạnh phúc khi được chết cùng với sợi dây xe điện trong tay hơn là bình yên trút hơi thở cuối cùng trên giường bệnh. Tôi nhớ những gì Shusai Yoshida đã nói về việc ghen tị với bạn của mình đang làm việc ở công viên này. Tôi có thể hiểu được tại sao ông ấy lại cảm thấy như vậy.
Rời ga xe điện, tôi đi qua đường tàu hỏa Shimbashi và Nhà máy kính Shinagawa. Cuối cùng, đến Bưu điện Uki-Yamada. Tôi đã sẵn sàng gặp Azoth!
Tôi chậm rãi bước lên bậc đá và vào bên trong. Sàn gỗ ở đây được phủ một lớp dầu. Tôi cảm thấy lo lắng và sợ hãi. Ánh nắng tràn vào qua những ô cửa sổ trên cao. Những hạt bụi lơ lửng trong không trung. Tôi là người duy nhất ở đây.
Phòng triển lãm được bài trí theo trật tự niên đại, bắt đầu với hình tượng một người chạy bộ để truyền tin và phát thư tín. Kế đến là chiếc hòm thư đầu tiên được hệ thống bưu chính Nhật Bản sử dụng. Sau đó là một vài thiết kế khác nhau và kết thúc là một hòm thư màu đỏ rất quen thuộc có dáng một cây cột. Rồi đến hình ảnh bưu tá trong các kiểu đồng phục khác nhau.
Tôi bắt đầu cảm thấy bực bội. “Cô ta đâu nhỉ?” Tôi tự nói với mình khá to. Tôi xoay sang một bên và ở đó, trong một góc tối, là một ma-nơ-canh nữ mặc bộ kimono màu đỏ với mái tóc đen cắt ngang trán.
Ngươi có đúng là cô ta không?
Tôi rụt rè tiến đến gần ma-nơ-canh, ngập ngừng như một đứa trẻ. Cô ta đứng thẳng, đôi mắt to đen vô hồn đăm đăm nhìn tôi. Lớp bụi trên tóc và vai của ma-nơ-canh chính là minh chứng rõ rệt cho lịch sử bốn mươi năm của cô ta.
Ngươi
là ai? Ngươi muốn nói gì với ta nào?
Trong buổi chiều bình yên, đối diện với thứ bí ẩn này, tôi cảm thấy thật đơn độc, rồi đột nhiên sợ hãi. Tôi bắt đầu rùng mình và vòng tay ôm quanh mình. Tôi tựa lưng vào hàng rào bảo vệ để nhìn cho rõ hơn: đôi chân tôi muốn khụy xuống.
Nếu cô ta cử động thì sao nhỉ?
Tôi đứng sững tại chỗ - cách xa gần hai mét - đăm đăm nhìn cô ta. Ma-nơ-canh có những nếp nhăn quanh mắt. Đôi mắt bằng thủy tinh, đôi tay trông đúng là nhân tạo.
Đợi đã… những nếp nhăn trên mặt cô ta? Mình phải nhìn gần hơn nữa…
Tôi nhìn quanh chẳng thấy ai cả. Nhưng khi tôi vừa định bước qua rào chắn, cửa bưu điện bất ngờ mở và lao công bước vào, cầm theo một cây chổi và một cái xẻng và nó phát ra tiếng kêu lanh lảnh khi chạm xuống sàn.
Mất hết cả nhuệ khí, tôi hối hả rời khỏi tòa nhà bưu điện…
Cảm thấy đói ngấu, tôi mua mấy cái bánh bao cùng hộp sữa và ngồi xuống một chiếc ghế băng. Từ đây, tôi có thể quan sát rõ lối vào chính của Khách sạn Hoàng gia Tokyo nổi tiếng. Trước mặt tôi là hồ nước với một cây cầu hai nhịp. Vài con thiên nga đang lướt trên mặt nước. Quá là đẹp và yên bình vô cùng. Không thấy bóng dáng của con người. Một vệt khói bốc lên phía trên những rặng cây, rồi đầu máy hơi nước xuất hiện từ trong rừng, kéo theo ba toa xe hối hả lăn bánh lên cây cầu sắt.
Trong lúc trệu trạo nhai bánh, tôi bắt đầu băn khoăn tự vấn bản thân, tâm trạng hoàn toàn bối rối. Làm sao Tamio Yasukawa lại có thể nghĩ rằng ma-nơ-canh đó là Azoth được chứ? Không thể nào. Không, không phải ma-nơ-canh đó. Yasukawa mất trí rồi chăng? Hay có ai đó đã đánh tráo vật thật?
Tôi quay trở lại để quan sát thêm nhưng thật tiếc, trong nhà bưu điện có vài vị khách. Tôi đăm đăm ngắm nhìn ma-nơ-canh và sau đó đi tìm Hachiro Umeda.
Khi tôi quay lại thì viên cảnh sát có bộ ria ghi đông đang quét khoảng sân rộng trước đồn. “Tạm biệt ông,” một nhóm thiếu nữ vui vẻ cúi người chào khi ra về. Viên cảnh sát cũng cúi người đáp lại.
Tôi bước lại gần ông. “Cháu xin lỗi, hình như bác là Hachiro Umeda phải không ạ?” Tôi hỏi.
“Vâng, chính là tôi đây,” ông cởi mở đáp lại.
“Cháu tên là Ishioka tới từ Tokyo. Bác Shusai Yoshida có nhắc đến tên bác với cháu. Bác ấy giới thiệu cháu đến gặp bác.”
Vẻ tò mò hiện rõ trên mặt ông Umeda. Sau khi tôi giải thích mọi chuyện - lúc này tôi đã có rất nhiều thực tiễn - ông ấy đặt cây chổi xuống, mời tôi vào trong và đưa cho tôi một cái ghế.
“Để xem nào… Tamio Yasukawa… Ồ, ồ, tôi nhớ ông ta rồi. Một tay nát rượu. Ông ta chết rồi phải không? Tội nghiệp thật, lão già đó sẽ được tận hưởng cuộc đời tươi đẹp hơn nếu như chuyển đến đây. Không khí trong lành, thức ăn ngon... Mọi thứ đều tuyệt vời đối với lão ta nếu như ở đây cho phép uống rượu!” Ông ngừng lại, mỉm cười và nói tiếp, “Trong bộ đồng phục này, trông tôi cũng bảnh đấy chứ nhỉ? Đây đúng là giấc mơ của tôi đấy. Để có cơ hội mặc một bộ đồng phục với cây kiếm như thế này, tôi sẵn lòng làm bất kỳ chuyện gì - thậm chí tham gia diễu hành hoặc đứng làm mẫu chụp bích chương. Cho nên khi nhận công việc ở đây, tôi rất phấn khởi. Tôi có vài lựa chọn như soát vé trên tàu hỏa, lái xe điện hay bất kỳ việc gì, nhưng ngay tức khắc tôi chọn công việc của một cảnh sát!”
Umeda vui vẻ và thân thiện, nhưng lại khiến tôi thất vọng. Từ tất cả biểu hiện, nhiều khả năng là người đàn ông trung niên vui vẻ này chẳng thể nào là tác giả kế hoạch phức tạp của Umezawa và thực hiện những vụ sát nhân kinh khủng. Thêm nữa, trông ông ấy chỉ mới ngoài ngũ tuần, trẻ hơn rất nhiều so với Umezawa nếu như ông ta còn sống. Dĩ nhiên, chắc chắn nhờ lối sống lành mạnh mà ông có được sự trẻ trung như vậy.
Tôi hỏi xem liệu ông ấy đã từng nghe nói đến Heikichi Umezawa chưa.
“Heikichi Umezawa hả? À, chuyện đó rất thú vị. Ông Yasukawa từng có lần say khướt và gọi tôi là Heikichi Umezawa. Tôi bảo ông ta tôi không phải là Umezawa, nhưng ông ta cứ cúi gập người và nói với tôi như thể tôi chính là người đó vậy. Có lẽ tôi giống ông ấy chăng? Nhưng Umezawa là một tội phạm, cho nên tôi không thích lắm. Giờ tôi trong giống Tướng Nogi hay Hoàng đế Minh Trị, chuyện rất khác đấy. Chuyện đó làm cho tôi rất hạnh phúc!” Ông ấy cười to.
“Cháu xin lỗi, nhưng cháu có thể hỏi bác đã sống ở đâu vào năm 1936 không? Thời gian cũng quá lâu, gần bốn mươi năm rồi, nhưng…”
“Năm 1936 à? Hừm… tôi mới 20 tuổi… Hồi ấy là trước chiến tranh, cho nên tôi sống ở Takamatsu trên đảo Shikoku. Tôi làm ở một cửa hàng rượu.”
“Bác sinh ra ở Takamatsu ạ?”
“Phải rồi.”
“Nhưng bác lại nói tiếng vùng Osaka?”
“Ồ, bởi vì tôi đã sống ở Osaka một thời gian dài. Khi rời quân ngũ, vì không tìm được việc ở quê nhà, tôi chuyển tới thành phố lớn. Tôi được thuê vào một cửa hàng rượu, nhưng họ bị phá sản. Từ bấy trở đi, tôi làm nhiều việc khác nhau. Có lúc, tôi đẩy xe bán mì
ramen
dạo, có lúc tôi lại làm ở một nhà máy chế tạo ma-nơ-canh.”
“Có phải đó là khi bác gặp ông Yoshida phải không ạ?”
“Không, không phải, tôi gặp ông ấy sau khi tôi bỏ công việc đó, đến làm nhân viên bảo vệ ở một tòa nhà tại Osaka. Hơn mười năm trước rồi… không… có lẽ phải đến gần hai mươi năm rồi. Tôi biết một nghệ sĩ điêu khắc thuê một chỗ làm xưởng nghệ thuật ở trong cùng tòa nhà. Chúng tôi trở thành bè bạn và ông ấy giới thiệu tôi tới sinh hoạt tại câu lạc bộ làm búp bê ở Kyoto do Shusai Yoshida khởi xướng. Yoshida vừa từ Tokyo chuyển đến và còn lạ nước lạ cái nên tôi gợi ý tôi có thể giúp nếu ông ấy cần. Rốt cuộc, tôi trở thành phụ tá làm búp bê cho Shusai Yoshida. Ông ấy nói rằng chỉ làm việc này như một sở thích mà thôi, nhưng ông ấy quá khiêm tốn. Nói đến làm búp bê chẳng ai giỏi hơn ông ấy được. Đây không chỉ là ý kiến của riêng tôi đâu, tất cả các chuyên gia đều nói như vậy. Yoshida là bậc thầy trong lĩnh vực này. Kỹ thuật và nghệ thuật của ông ấy đặc biệt xuất sắc khi sáng tạo gương mặt búp bê theo phong cách Tây phương. Hồi tổ chức Hội chợ năm 1970 ở Osaka, người ta còn đề nghị ông ấy trưng bày một số búp bê của mình, lúc đó tình bạn của chúng tôi thắm thiết lắm. Để chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng cho ngày khai trương, chúng tôi đã phải làm việc thâu đêm. Đó là một công việc vất vả, nhưng tôi rất thích được làm việc với ông ấy.”
Đúng như vậy. Shusai Yoshida có một sức thu hút nhất định. Tôi đã tận mắt chứng kiến. Yasukawa và Umeda đều phục tùng ông; những người khác chắc chắn cũng vậy. Bí mật cho sự thu hút của ông ấy là gì? Khả năng đoán số mệnh chăng? Hay sự nhạy bén nghệ thuật?
Umeda là một người dễ chịu, một người biết tận hưởng cuộc sống, đến mức tôi đã bỏ suy nghĩ ông ấy là Umezawa. Tôi hỏi thăm về gia đình ông.
“Chà, tôi từng kết hôn, đã rất rất lâu rồi cho nên cũng khó mà nhớ được. Vợ tôi chết trong một trận oanh kích, bấy giờ tôi còn tại ngũ, ngày đêm ở mặt trận, thì lại không chết… Chẳng biết tại sao nữa. Nhiệm vụ của chúng ta là bảo vệ phụ nữ, trẻ em và tổ quốc, nhưng tôi lại mất bà ấy. Tôi yêu vợ vô cùng. Kể từ đó, tôi sống độc thân và tận hưởng sự tự do của mình. Có lẽ một số người thích xiềng xích ràng buộc của cuộc sống hôn nhân, nhưng tôi thì không.”
Tôi không biết đáp lời sao, nên chuyển đổi chủ đề. “Bác Yoshida đã đến đây hôm qua, có phải không ạ?”
“Đúng, ông ấy đến đây thường xuyên, mỗi tháng một lần. Tôi rất quan tâm đến ông bạn già, hễ không gặp nhau vài tuần là tôi đi Kyoto thăm ông ấy ngay.”
“Gia đình bác ấy thế nào ạ?”
“Cả tôi và các thành viên câu lạc bộ đều chẳng biết gì về quá khứ của ông ấy,” ông Umeda đáp, “nhưng chúng tôi thật sự không bận tâm. Tôi nghe có người nói ông ấy xuất thân trong một gia đình giàu có và rằng ông ấy có nhà và xưởng riêng khi còn trẻ, nhưng ai bận tâm làm gì? Chúng tôi đều quý Yoshida. Ông ấy như người thầy của chúng tôi. Tôi cảm thấy rất thư thái mỗi khi gặp ông ấy. Yoshida có kiến thức và kinh nghiệm phong phú về nhiều lĩnh vực. Ông ấy sâu sắc và uyên bác lắm, tôi đã từng hỏi ông ấy về tương lai của mình. Để tôi kể với anh, tài năng của Yoshida là gì đó vượt xa đoán vận mệnh. Ông ấy biết mọi thứ… Vâng, đúng thế, biết mọi thứ…”
Umeda nói rất bình thường, nhưng câu cuối cùng của ông khiến tôi sững sờ. Con người chân chất, vô tư lự này hiểu rõ điều gì đó mà tôi hoàn toàn bỏ qua. Kẻ tôi đang tìm kiếm là một hung thủ với sức mạnh, kiến thức cùng trí thông mình siêu nhiên, biết chế tạo búp bê và đoán vận số… đã bị sát hại… Lẽ nào đó chính là Shusai Yoshida?
Đột nhiên có vài chi tiết dường như liên quan với nhau. Yoshida có lẽ đã ngót 80 tuổi, độ tuổi phù hợp. Quan trọng hơn thế, ông ta biết điều mà mấy cuốn sách không hề đề cập đến: rằng Heikichi thuận tay trái. Làm sao ông ta biết được? Khi nói về cuộc sống của một kẻ lánh đời, ông ta vận dụng vốn hiểu biết của một người đã có thực tế trải nghiệm. Ông ta cũng biết lịch sử và triết lý chế tạo búp bê ở Nhật Bản. Nghe rất liên quan đến những ghi chép của Heikichi.
Một câu hỏi khác nảy ra trong trí tôi. Chắc chắn Yoshida là một người quyến rũ, nhưng lý do thật sự khiến Tamio Yasukawa theo ông ta tới Kyoto là gì? Một cảm giác phấn khích trào lên trong tôi.
Không biết đến những gì đang diễn ra trong đầu tôi, Umeda tiếp tục giải bày về sự tuyệt vời của “sư phụ”. Tôi đợi ông nói hết rồi mới hỏi về ma-nơ-canh bí ẩn trong nhà bưu điện.
“Ồ, phải, tôi biết đám ma-nơ-canh. Ông Yoshida và Công ty Ma-nơ-canh Owari tạo ra chúng… Ồ, cậu đã biết chuyện đó rồi à?... Sao cơ? Có một ma-nơ-canh bí ẩn à? Tôi chưa bao giờ nghe nói về nó cả, chưa hề… Ông Yoshida cũng không biết nó từ đâu ra à? Ôi, thật à?... Hừm, tại sao cậu không hỏi ông Murooka, giám đốc của Meiji-Nuro nhỉ? Ông ấy ở khu văn phòng chính gần cổng ra vào ấy.”
Tôi cảm ơn ông Umeda và rời khỏi đồn cảnh sát. Ông ấy thật tốt bụng và thoải mái, tôi cảm thấy như thể mình vừa chia tay một người bạn mới tìm được. Tôi quay lại nhìn ông chắc chắn với chút bâng khuâng và nghĩ rằng có lẽ không bao giờ còn được gặp lại ông ấy nữa. Ông rất thoải mái với cuộc sống đơn giản và khoác lên người bộ đồng phục ưa thích. Tuy nhiên, ông chắc chắn không phải là người mà tôi đang tìm kiếm.
Ở bưu điện, tôi được dẫn tới phòng giám đốc. Khi tôi hỏi ông ấy về ma-nơ-canh nữ kia, ban đầu hơi có vẻ ngạc nhiên nhưng ngay sau đó ông ấy bật cười, “Nó đâu có gì là bí ẩn, anh bạn trẻ. Ban đầu chúng tôi chỉ có ma-nơ-canh nam, cho nên tôi đặt hàng thêm với Công ty Meitetsu. Hôm sau họ mang ma-nơ-canh nữ từ cửa hàng của họ sang thôi.”
Nếu tôi đang giải đáp một bí ẩn bình thường mà không chịu áp lực về thời hạn thì tôi sẽ tìm tới Công ty Meitetsu, nhưng bí ẩn này vượt xa mức bình thường và quan trọng hơn sau ngày mai, thời gian của chúng tôi sẽ rất ít. Tôi bèn lái xe quay về Kyoto. Thêm nữa, mấy ngày nay tôi không nói chuyện với Kiyoshi. Chúng tôi cần phải trao đổi với nhau những nội dung thu thập được.
Trong khi lái xe, tâm trí tôi đầy những ý nghĩ về Shusai Yoshida, lúc này đã trở thành trọng tâm điều tra của tôi. Ông ấy có sức hút, hòa nhã và khôn khéo, nhưng bất kỳ ai cũng có thể mắc sai lầm. Ông ấy là người giàu có và không tì vết. Phải chăng đã có một thủ thuật? Phải chăng Heikichi Umezawa đã được đưa vào một cái hộp đen để rồi xuất hiện trở lại trong lốt Shusai Yoshida?
Vụ việc này quá sức đối với tôi. Tôi cần sự giúp đỡ của Kiyoshi.
Tôi quay về đúng giờ cao điểm lúc chiều tối, nên phải đỗ xe và mua một thứ gì đó ăn tạm tại quán cà phê. Tôi ngắm nhìn hoàng hôn, tâm trí vẫn quẩn quanh về Yoshida. Thật căng thẳng khi thử thách não cân như vậy. Tôi sẽ phải tìm kiếm điều gì đó mà chỉ thủ phạm mới biết. Người bạn của ông ấy là Yasukawa, biết rõ về Heikichi, giờ đã chết. Yoshida có thể khai rằng ông ấy nghe nói về vụ việc từ Yasukawa. Người chết thì không nói được gì nữa, cho nên tôi sẽ không có cách nào xác minh được sự thật.
Tôi quay trở lại căn hộ của Emoto lúc hơn 10 giờ tối một chút. Kiyoshi vẫn chưa về còn Emoto đang xem TV một mình. Tôi tặng một món quà lưu niệm Meiji-Mura và cảm ơn Emoto vì đã cho mượn xe. Vì tôi quá mỏi mệt nên chúng tôi không thể trò chuyện nhiều về chuyến đi. Tôi vào phòng ngủ, quăng hai cái túi ngủ lên sàn, chui vào túi của mình và lập tức chìm vào giấc ngủ say.
Cảnh 7: Đại lộ Triết gia
[26]
Thói quen ngủ nướng của tôi dường như đã thay đổi. Tôi dậy rất sớm, vào đúng thời gian tỉnh giấc của hôm trước. Shusai Yoshida lập tức hiện ra trong tâm trí và tôi cần phải nói chuyện với Kiyoshi. Tôi nhìn sang phía túi ngủ của cậu ấy, nhưng Kiyoshi có vẻ đã dậy và đi mất.
Thật cần cù, thật nhiệt tình với nhiệm vụ!
Tuy nhiên, khi lại gần nhìn kỹ hơn túi ngủ đó tôi mới nhận ra rằng nó vẫn chưa được động tới. Trước lúc đi ngủ đêm hôm trước, tôi chỉ ném túi ngủ của Kiyoshi lên sàn như một ngư dân quăng lưới xuống biển và giờ nó vẫn nằm chồng đống ở đó.
Cậu ấy đâu nhỉ? Có chuyện gì rồi chăng? Cậu ấy gặp nguy hiểm chăng? Cậu ấy đi chỗ quái nào chứ? Hay cậu ấy đã tìm được manh mối quan trọng nào đó?
Hôm nay là thứ Năm ngày 12, ngày cuối cùng của chúng tôi.
Chúng ta cần nói chuyện. Bạn thân mến ơi, chúng ta rất cần nói chuyện!
Phần điều tra của tôi rất hữu ích, nhưng tôi chẳng giải quyết được gì. Chưa làm được gì. Tôi thiết tha muốn chia sẻ thông tin với Kiyoshi. Nhờ vậy cuộc điều tra của chúng tôi hy vọng sẽ đi tới đoạn kết có hậu.
Sao cậu ấy không gọi điện nhỉ?
Tôi cố gằng nằm yên nhưng đầu óc quay cuồng. Tôi ngồi dậy. Emoto vẫn đang ngủ. Tôi khẽ khàng thay đồ và ra ngoài đi bộ. Tôi đi lòng vòng trên bãi cỏ đẫm sương trong công viên, đầu óc quay cuồng.
Khi tôi quay về, Emoto đang đánh răng. Kiyoshi vẫn chưa gọi điện. Tôi quyết định phải ở nhà cho tới khi có tin tức của cậu ấy.
Emoto vừa bước xuống cầu thang để đi làm thì điện thoại đổ chuông, tôi nhảy bổ tối vồ lấy ống nghe.
“Kazumi”… một giọng nói yếu ớt rên rỉ ở đầu dây bên kia. Tôi phải mất vài giây mới nhận ra là Kiyoshi.
“Có chuyện gì thế? Anh ở đâu? Anh ổn chứ?” Tôi tuôn cả tràng bằng giọng gấp gáp.
“Tôi mệt lắm,” Kiyoshi đáp, giọng thều thào. Ngừng một lúc, cậu khẩn khoản, “Tôi nghĩ tôi đang chết… hãy… đến đây giúp tôi…”
“Anh ở đâu? Có chuyện gì thế?”
Tôi chực tuôn ra hàng tràng câu hỏi, nhưng tôi cần biết chính xác cậu ấy ở đâu. Tôi có thể nghe rõ tiếng xe cộ và giọng trẻ con, cho nên tôi cho rằng Kiyoshi đang gọi từ một trạm điện thoại trả tiền trên phố.
“Chuyện gì xảy ra ư? Tôi không thể nói cho anh ngay lúc này được… Tôi yếu lắm rồi.”
“Được rồi, chỉ cần cho tôi biết anh ở đâu thôi!”
“Đại lộ Triết gia… không phải bên bờ Ginkakuji… bên đối diện… ở lối vào…”
Tôi cảm thấy rối bời. Đại lộ Triết gia ư? Đó là cái quái gì vậy? Hay là Kiyoshi mất trí chăng?
“Địa chỉ như thế nào? Tôi đi taxi tới đó có được không?”
“Được, lái xe sẽ biết chỗ. Chỉ cần nói Đại lộ Triết gia. Lái xe sẽ đưa anh đến… Và xin hãy… mua một ít bánh mì với sữa… cho tôi… làm ơn.”
“Bánh mì và sữa à? Được thôi, nhưng tại sao vậy?”
“Để ăn, dĩ nhiên rồi… Tôi còn biết làm gì khác với mấy thứ đó?”
Cậu ấy vẫn có thể châm chọc ngay cả khi không được khỏe. Kiyoshi tội nghiệp.
“Anh có bị thương không?”
“Không…”
“Được rồi, tôi lên đường đây. Cứ ở nguyên chỗ đó nhé!”
Tôi lao ra khỏi nhà và chạy tới ga tàu. Ở Shijo-Kawaramachi, tôi mua mấy cái bánh kẹp và vài hộp sữa. Tôi vẫy một chiếc taxi. Kiyoshi nói đúng - người lái xe biết cần đưa tôi đi đâu.
Tôi hoàn toàn mù mịt về những gì đang diễn ra. Nghe giọng Kiyoshi vó vẻ như sắp chết đến nơi. Hay cậu ấy đang hấp hối thật? Phải chăng đây lại là một màn kịch gay cấn khác? Hay cậu ấy đang trêu chọc tôi? Thỉnh thoảng, Kiyoshi tỏ ra rất đáng ghét nhưng cậu vẫn là người bạn đích thực duy nhất của tôi.
Lái xe thả tôi ở chân một con dốc và chỉ cho tôi lên đỉnh dốc. Đó là một công viên nhỏ, và đương nhiên là cả một tấm biển ghi “Đại lộ Triết gia”. Không có ai ở xung quanh cả.
Tôi đi theo con đường chạy dọc một dòng kênh. Không bao lâu, tôi thấy một chú chó mực đang vẫy đuôi và hít ngửi quanh một gã đàn ông vô gia cư nằm dài trên ghế băng. Đó chính là Kiyoshi!
Tôi gọi tên cậu ấy. Kiyoshi lầm bầm gì đó và cố gắng ngồi dậy. Cậu ấy yếu tới mức phải để tôi đỡ mới có thể ngồi dậy được. Mới có vài ngày kể từ lần cuối gặp nhau, Kiyoshi đã thay đổi ghê gớm. Đôi mắt đỏ ngầu, hai má nhô ra, râu ria tua tủa. Trông cậu không ổn tí nào, thực sự rất ốm yếu.
“Anh có mang ít thức ăn như tôi dặn không?” Kiyoshi lên tiếng. Tôi đưa một chiếc bánh kẹp, cậu ấy mở giấy gói ra. “Ôi, chuyện ăn uống mới phiền toái làm sao! Nếu không cần phải ăn, chúng ta có thể tiết kiệm được rất nhiều thời gian…” cậu làu bàu và chúi mặt ngấu nghiến cái bánh.
Tôi thở phào khi nhìn thấy cậu ấy ăn, nhưng vẫn chẳng hiểu gì cả. Rõ ràng cậu đang mệt lả, vẻ sắc sảo vẫn còn nhưng khá mong manh. Tôi cảm thấy lo ngại cho trạng thái tâm lý của Kiyoshi. Tôi không muốn nghĩ đến khả năng cậu ấy bị rối loạn thần kinh.
“Lần cuối anh ăn uống là khi nào thế?” Tôi hỏi cậu.
“Tôi không biết nữa… Có lẽ hôm qua, có lẽ hôm kia… Tôi quên mất rồi…”
Tôi nhắc Kiyoshi không nên ăn quá nhanh. Sau khi ăn uống xong xuôi, dường như một chút năng lượng đã quay trở về với cậu ấy.
“Anh có thu thập thêm được mạnh mối gì không?” Tôi hỏi nhẹ nhàng.
“Vắt kiệt quả cam anh sẽ được bã!” Kiyoshi giận dữ thốt lên, đứng bật dậy và khoa tay. “Kazumi, chúng ta sinh ra để bị lừa gạt! Nhìn tôi xem. Sau khi chạy long nhong ở vùng này mấy ngày trời không ngủ, tôi không khác gì một con châu chấu sắp chết. Nhịn ăn một hai ngày là điều rất tốt; nó làm cho các giác quan của chúng ta thêm sắc bén. Ôi, giờ tôi có thể thấy điều đó. Cả một cánh đồng cải hoa mênh mông đang nở bung! Thành phố này được hình thành từ lịch sử và bí ẩn! Tôi thấy hằng hà sa số nóc nhà trông như những cuốn sách đang mở. Và tôi nghe thấy tiếng xe hơi ở khắp mọi nơi! Chúng không hề mệt mỏi ư?... Không, có khi không phải là hoa cải dầu, đó là cúc vạn thọ. Tôi có thể dùng liềm cắt. Bây giờ thì tôi thậm chí còn không nhớ nổi làm thế nào mình cắt được chúng… À, mà tôi để cái liềm ở đâu nhỉ? Chắc nó hoen gỉ rồi! Tôi phải tìm nó đã. Tôi phải tiếp tục đào như con chuột chũi! Thời gian thì trôi đi vùn vụt. Ngay lúc này hoặc là không bao giờ nữa!”
Chẳng thần kinh thì gì đây: Kiyoshi đã hóa điên. Tôi cảm thấy toàn bộ cơ thể mình tê dại. “Không, không, không, Kiyoshi. Anh kiệt sức rồi. Bình tĩnh đi, bình tĩnh lại nào!” Tôi cứ lặp đi lặp lại mấy từ đó. Tôi nắm lấy vai và từ từ đẩy cậu ấy ngồi xuống ghế đá.
Cuối cùng Kiyoshi cũng bình tĩnh trở lại và tôi thở phào nhẹ nhõm. Tôi thấy sốc trước tình cảnh trớ trêu cay đắng này: sự kiệt sức và áp lực đã khiến Kiyoshi phát điên, nhưng nó lại chẳng giúp ích gì cho việc điều tra của chúng tôi. Tôi nhận ra mình không nên để Kiyoshi tham gia vào vụ này; tôi biết sức khỏe tinh thần của cậu không được tốt. Nhưng cậu là người đưa ra lời thách thức với lão Takegoshi Con. Giờ kết quả rất rõ ràng: Kiyoshi sẽ phải chịu thất bại. Thật là vô vọng. Lão Takegoshi Con chẳng cần phải làm gì ngoài việc chờ đợi chúng tôi tới cúi đầu xin lỗi như những thằng ngốc đáng ghét. Bí ẩn này đã không thể giải quyết được suốt bốn mươi năm rồi; chúng tôi quả là điên rồ mới nghĩ rằng mình có thể khám phá trong vòng một tuần. Tôi vẫn hy vọng rằng Shusai Yoshida chính là Heikichi Umezawa cải trang. Chỉ là một chút hy vọng mong manh, nhưng vì một lý do nào đó, tôi cảm thấy rất tự tin. Tuy nhiên, với tình hình này, Kiyoshi không thể nói chuyện một cách tỉnh táo được. Tôi phải tự hành động ngay lập tức cho dù phải bỏ lại Kiyoshi tội nghiệp trong tình trạng gần như hóa điên này. Chỉ còn vài tiếng nữa thôi. Tôi cần bắt Yoshida, vì cả hai chúng tôi.
Lúc này đã là hơn 10 giờ sáng. Tôi định gọi Emoto tới giúp thì Kiyoshi lại lên tiếng.
“Tôi không nên báng bổ Sherlock Holmes. Anh nói đúng, Kazumi, lẽ ra tôi nên biết vị thế của mình. Tôi nghĩ mọi việc với tôi rất dễ dàng, và trên thực tế tôi đã gần như tới đích. Trời ơi, tất cả rất dễ dàng - như bàn cờ đô-mi-nô. Tôi chỉ cần biết chạm vào vị trí nào để tất cả đổ rạp xuống. Chỉ cần một quân thôi - đó là tất cả những gì tôi cần - và khi đó mọi quân khác sẽ đổ xuống đúng vị trí! Chó chết thật! Tôi đã dồn hết mọi nỗ lực của mình vào vụ này và giờ tôi thua cuộc. Tôi cần cảm hứng. Tôi cần cái gì đó, một chút gì đó truyền cảm hứng cho tôi.” Cậu ấy ôm đầu “Ôi! Chuyện này thật kinh khủng. Anh bảo tôi sẽ phải trả giá cho sự kiêu ngạo của mình và giờ tôi có thể cảm nhận được đôi môi mình sưng lên. Tôi cử động môi rất khó khăn. Làm sao tôi có thể nói được với tình trạng như thế này? Tôi đã để lỡ đà của mình: thật vô vọng. Ít nhất anh còn có vẻ làm được mọi việc rất ổn. Kể tôi nghe những gì anh đã khám phá được đi nào.”
Thái độ tán dương một cách tỉnh táo và sự nhún nhường hiếm thấy này thật đáng mừng, nhưng trạng thái ổn định và mình mẫn của cậu ấy lại là chuyện khác. Anh chàng này - người bạn thân nhất của tôi - đang bị suy sụp về tinh thần. Và giờ cậu ấy sẽ phải nhận thua trước mặt một gã thám tử cảnh sát ngạo mạn. Tôi không tài nào chịu được ý nghĩ đó. Thậm chí phải làm việc một mình tôi càng quyết tâm gắng sức vượt qua thử thách này.
“Nào, kể tôi nghe những gì anh đã tìm được,” Kiyoshi lại giục.
Vậy là, với thái độ rất cân nhắc, tôi giải thích cho Kiyoshi nghe toàn bộ những việc tôi đã làm: trở lại gặp con gái ông Yasukawa; cuộc gặp với Shusai Yoshida; chuyến đi tới Meiji-Mura để gặp ma-nơ-canh mà Yasukawa đã nhắc đến và cuộc trò chuyện với Hachiro Umeda, người mà Yasukawa nghĩ là Heikichi.
Trong khi tôi nói, Kiyoshi nằm dài trên ghế, hai tay ôm đầu, nhìn lên trời với đôi mắt vô hồn, chẳng tỏ vẻ quan tâm dù là nhỏ nhất. Hoặc là thật sự cậu ấy đã hóa điên, hoặc là cậu ấy đã từ bỏ cuộc đấu. Tôi cảm thấy thất vọng tràn trề.
Đột nhiên, cậu ngồi thẳng dậy. “Đã đến lúc viếng thăm Nyakuoji rồi…” Kiyoshi nói bằng giọng ngái ngủ.
“Nyakuoji ư? Là ai vậy? Một đền thờ à?”
“Đó là một đền thờ… không, tôi không muốn nói vậy! Ý tôi là, tòa nhà ở đằng kia…”
Cậu ấy chỉ lên đỉnh một tháp đồng hồ nhỏ theo kiểu phương Tây.
“Ấy là nơi tôi muốn đến! Hãy quên chuyện đền thờ đi!”
“Tòa tháp đó là gì thế?”
“Một quán cà phê. Anh nghĩ là gì nào? Tôi cần đồ uống nóng.” Kiyoshi đã trở lại với cuộc sống rồi.
Quán cà phê nằm ở sân nhà của một diễn viên nổi tiếng. Có một cái giếng kiểu Tây Ban Nha và vài bức tượng. Bất chấp tình trạng của Kiyoshi và thực tế rằng thời gian sắp hết, việc được ngồi bên một chiếc bàn trong ánh nắng ban mai thật là khoan khoái. Chúng tôi là những khách hàng duy nhất ở đó và không gian yên tĩnh làm cho chúng tôi thêm tỉnh táo.
“Một chỗ tuyệt vời,” tôi nói với Kiyoshi.
Cậu ấy gật đầu. “Ừ…”
“Tôi nghĩ tôi sẽ đi gặp Yoshida bây giờ. Anh có muốn đi với tôi không?”
“À, có, tôi rất vui…”
“Nào, vậy thì đi!” Tôi khích lệ. “Chúng ta sắp hết thời hạn rồi…”
Tôi đứng dậy, cầm phiếu thanh toán trên bàn. Trong túi tôi chỉ còn mỗi một tờ 10.000 yên, và còn rất sớm nên nhân viên thu ngân phải mất một lúc mới có đủ tiền lẻ trả lại. Kiyoshi vẫn đợi tôi bên ngoài. Khi chúng tôi quay xuống Đại lộ Triết gia, tôi sắp xếp lại chín tờ tiền 1.000 yên để tất cả quay về một hướng - đó là một thói quen của tôi. Một tờ tiền bị rách và được dán lại. Để gợi chuyện, tôi chìa tờ tiền chắp vá cho Kiyoshi xem.
“Băng dính à? Mà lại không phải băng dính mờ đúng không?” Cậu nói và cầm lấy tờ tiền, săm soi nó. “Không, họ dùng băng dính trong. Đúng như vậy.”
“Băng dính mờ thì có gì không ổn à?”
“Người ta dùng thứ đó với các tờ tiền giả, thường là với các tờ 10.000 yên chứ không phải những tờ tiền mệnh giá thấp thế này.”
“Tại sao họ lại dùng băng dính mờ?”
“Bởi vì… Ồ, quá khó để giải thích. Tôi cần một cây bút và một mẫu giấy để cho anh thấy. Mà này, giả mạo chưa phải là từ chính xác. Đúng hơn… có lẽ… lừa đảo… có lẽ…” Giọng cậu nhỏ dần. Thỉnh thoảng vẫn như vậy. Thông thường, điều đó là dấu hiệu của tâm trạng chán nản. Thật đáng buồn!
Tôi quay lại đối diện với Kiyoshi lúc này vừa tới một chỗ nghỉ. Tôi rất ngạc nhiên. Đôi mắt đỏ ngầu của cậu mở to một cách bất thường và miệng há hốc. Cậu siết chặt nắm tay và bắt đầu hét: “AAAAAAAAAA!”
Vài ba khách du lịch dừng lại trên đường. Chú chó mực nhìn cậu ấy chòng chọc.
Tôi vẫn thường phàn nàn về hành xử kỳ quặc của Kiyoshi, nhưng chưa bao giờ tôi nghi ngờ tài năng, trí thông minh, kiến thức và sức mạnh trực giác của cậu ấy. Đó là những ưu điểm. Nhưng giờ chúng trở nên nhạt nhòa so với thảm họa này.
Tất cả đã chấm hết!
Rõ ràng Kiyoshi đã bước vào ngưỡng cửa điên khùng.
“Bình tĩnh nào!” Tôi nói, nắm lấy vai và cố gắng lay Kiyoshi.
Gương mặt mệt mỏi của cậu ấy ngay sát mặt tôi. Nhưng kẻ đờ người ra không phải là cậu ấy mà chính là tôi. Kiyoshi trông như một con sư tử - đói và yếu, nhưng vẫn tràn đầy giá trị đích thực. Đột nhiên, cậu ngừng hét, giật khỏi tay tôi và bắt đầu chạy.
Giờ cậu ấy làm gì không biét? Ảo giác chăng?
Kiyoshi nhắm thẳng tới chỗ con kênh.
Cậu ấy định nhảy xuống sao? Cứu một đứa trẻ đang chết đuối chăng?
Tôi chạy theo sau nhưng Kiyoshi nhanh quá. Chạy khoảng 100 mét, Kiyoshi dừng bước, quay nhìn xung quanh và chạy trở về chỗ tôi. Vài du khách phải nhảy bật ra. Cách đó một quãng, chú chó mực vẫn nhìn người bạn cuồng điên của tôi.
Kiyoshi ngồi thụp xuống, hai tay ôm đầu, thở phì phò. Sau đó cậu ngước nhìn tôi và mỉm cười, “Ồ, Kazumi! Anh vừa ở đâu thế?”
“Được rồi, anh chạy nhanh thật đấy,” tôi lầm bầm.
“Tôi ngu ngốc quá!” Kiyoshi kêu lên, nhưng lần này không thật lớn. “Tôi đang làm gì không biết? Tôi cứ đi tìm cặp kính vẫn nằm nguyên trên đầu tôi! Mẹ kiếp! Lẽ ra tôi nên cố gắng hết sức với vụ này ngay từ đầu! Ơn Trời, tôi không làm khổ ai với cái sự cẩu thả của mình. Chúng ta rất may mắn!”
“Chà, anh rất may! Nếu tôi không ở đây, những người kia sẽ gọi xe cứu thương đến đấy.”
“Chỉ là một cái đinh ghim nhỏ xíu, Kazumi ạ! Tôi đã tìm ra nó! Tôi nhổ cái đinh ghim và, RẦM, mọi thứ rơi xuống đúng chỗ! Quả là một phù thủy đại tài! Một mẹo rất đơn giản! Thực chất là nó quá ư đơn giản, chúng ta chẳng hề nghĩ đến… đơn giản một cách nực cười. Tôi đang làm gì không biết? Tôi không khác gì một con chuột chũi đào củ cải từ bên này đến tận bên kia trái đất… Anh nói gì đi Kazumi! Cười nhạo tôi đi. Xin tất cả hãy cười nhạo tôi đi! Tôi muốn cả thế giới cười nhạo tôi. Tôi quá ngu ngốc. Sao tôi lại mù quáng đến thế chứ? Đứa trẻ nào cũng nhận ra điều này. Giờ tôi phải rất khẩn trương. Mấy giờ rồi nhỉ?”
“Sao cơ?”
“Tôi hỏi anh mấy giờ rồi. Anh không đeo đồng hồ à?”
“Mười một giờ rồi…”
“Trời ơi! Chuyến tàu cao tốc cuối cùng về Tokyo là mấy giờ?”
“Ờ… 8 giờ 29 phút tối nay, tôi nghĩ…”
“Đúng, tôi sẽ bắt chuyến tàu đó. Anh có thể chờ tôi ở căn hộ của Emoto được không? Tôi sẽ gọi cho anh sau. Hơi lâu đấy!” Cậu ấy bắt đầu quay đi.
“Đợi đã, đợi đã nào! Anh đi đâu đấy?”
“Dĩ nhiên là đi gặp hung thủ rồi!”
Tôi sững sờ. “Anh điên à? Anh thậm chí còn không biết kẻ đó ở đâu, nhưng anh vẫn cứ lao đầu vào sao?”
“Sẽ mất một thời gian, nhưng đừng lo. Đến tối là mọi việc xong xuôi.”
Tôi đã phải chạy đuổi theo Kiyoshi suốt cả buổi sáng và cảm thấy như sắp xỉu đến nơi. “Anh không biết mình đang làm gì mà, Kiyoshi,” tôi nói. “Chúng ta không hề nói về việc đi tới một văn phòng tìm kiếm người mất tích. Thế chúng ta làm gì với Yoshida? Chúng ta sẽ không đi gặp ông ta nữa à?”
“Yoshida nào? Ông ta là ai? Ồ, phải, anh đã kể về ông ta. Không, không, chẳng có gì cần phải gặp ông ấy cả.”
“Nhưng sao lại không chứ?” Tôi lên giọng.
“Bởi vì ông Yoshida không phải là hung thủ.”
“Sao anh biết?”
“Anh không hiểu ư? Bởi vì giờ tôi đã biết kẻ nào ra tay rồi!”
“Đợi đã! Anh đang giỡn phải không?”
Kiyoshi ngoặt một góc và biến mất.
Tôi đứng đó, bất lực, kiệt sức.
Mình đã làm gì để bạn mình ra nông nổi này chứ? Nếu đây là nghiệp chướng thì ắt hẳn mình đã làm việc gì đó rất xấu xa ở kiếp trước.
Giờ thì tôi lại đơn độc và tôi phải quyết định. Tôi có nên tới gặp Yoshida không? Kiyoshi đã nói hãy quên ông ta đi, nhưng liệu cậy ấy có thực sự biết được nhiều hơn tôi không?
Đơn giản một cách nực cười ư? Một vụ án đơn giản đến nực cười ư? Có gì đơn giản một cách nực cười trong vụ án này chứ? Chưa hề có vụ án nào phức tạp đến bực mình như vậy! Thậm chí một đứa trẻ cũng nhìn thấy ư? Thậm chí một đứa trẻ cũng có thể thấy cậu ấy bị điên thì có…
Cứ cho là Kiyoshi đột nhiên nhìn thấy ánh sáng thì liệu cậu ấy có thể tìm ra hung thủ vào tối nay không?
Thiên hạ đã tìm cách giải quyết vụ này suốt bốn mươi năm - bốn mươi năm trời! - và Kiyoshi vừa bỏ đi để tìm hung thủ cứ như đang tìm một cái ô bỏ quên tại một trạm điện thoại cách đây năm phút đi bộ ư? Không, mình không nghĩ vậy. Mình không sai, mình sẽ tự thân đào xới khắp Kyoto…
Kiyoshi không thể có nhiều thông tin hơn tôi. Cậu ấy vẫn nằm dài trên ghế và nhịn đói, không gặp Yoshida cũng chẳng gặp Umeda. Và giờ lại bảo đã biết kẻ đó là ai.
Làm sao cậu ấy dám nói thế chứ!
Cậu ấy muốn tôi ngồi ở nhà Emoto đợi điện thoại muốn tôi đừng làm gì cả và cứ tin rằng cậu ấy biết mình đang làm gì.
Chỉ vài phút trước cậu ấy không hề biết mình định làm gì. Nhưng nếu cậu ấy cần giúp đỡ thì sao? Tôi phải làm gì đây? Thế còn trực giác của tôi thì sao?
Cuối cùng trực giác của tôi cũng gạt được mọi nghi ngờ sang một bên và cố gắng hình dung ra cách Kiyoshi giải quyết bí ẩn này. Điều gì đã bất ngờ khiến cậu nhận ra tất cả? Điều đó xảy ra khi cậu ấy nhìn thấy tờ tiền 1.000 yên bị dán băng dính của tôi. Tôi rút ví ra và nhìn lại tờ tiền. Chẳng có gì khác lạ cả: chỉ là một đoạn băng dính trên vị trí bị rách. Kiyoshi có thể phát hiện ra cái gì từ thứ đó chứ? Băng dính nằm ở cả hai mặt tờ tiền; Kiyoshi chỉ nhìn mặt trước mà thôi.
Trên mặt trước có gì nhỉ? Có gì được viết lên chăng?... Không. Mọi thứ đều rất bình thường. Vẫn là gương mặt của chính trị gia huyền thoại Ito Hirobumi. Hay có gì đó liên quan đến tên ông ấy? Không thể được. Hay có gì đó liên quan đến một tờ tiền 1.000 yên? Rất có thể. Điểm mấu chốt: Mình không có manh mối. Thử lại lần nữa: Một tờ 1.000 yên đồng nghĩa với tiền, các vấn đề tài chính. Một cuộc đấu vì tiền bạc - được đấy - nhưng chẳng có gì mới cả. Có lẽ đó là - cậu ấy gọi là gì nhỉ? - giả mạo! Cái gì đó giả mạo, cái gì đó không thật. Đúng! Có lẽ hung thủ là kẻ giả mạo. Có lẽ tất cả chỉ là một cái bẫy, để hướng sự chú ý khỏi một tội ác nào khác chăng? Không, như thế cũng không đúng. Nhưng còn tội ác nào nữa không nhỉ? Cậu ấy nói rằng tờ tiền có thể bị làm giả nếu sử dụng băng dính mờ, nhưng bình thường là với tờ 10.000 yên, chứ không phải là tờ 1.000 yên. Giá trị càng cao thì càng tốt ư? Như thế có nghĩa là những tờ 100.000 yên, nếu có tồn tại, sẽ tốt hôn các tờ 10.000 yên. Nhưng thế còn băng dính mờ nghĩa là sao?Những kẻ giả mạo in ra tiền giả. Chúng không dán băng dính lên các tờ tiền thật hiện có… Ặc, mình chẳng hiểu gì cả!
Tôi không cố nghĩ về Kiyoshi nữa. Tôi sẽ đợi ở nhà Emoto như cậu đề nghị. Kiệt sức cũng là một lý do. Không biết làm gì khác là lý do thứ hai. Tôi chỉ không muốn cái lằn ranh mỏng manh giữa một kẻ thần kinh và một thiên tài bị xóa nhòa…
Giải lao: Thông diệp từ tác giả
Độc giả thân mến!
Thật không bình thường khi tác giả xen vào giữa chừng thế này, nhưng đến đây tôi thấy có điều cần phải nói.
Tất cả thông tin cần thiết để giải quyết bí ẩn giờ đã nằm trong tay các bạn, và trên thực tế, gợi ý quan trọng cũng đã được cung cấp. Tôi thắc mắc không biết các bạn có nhận thấy nó không? Nỗi sợ lớn nhất của tôi là có thể tôi đã tiết lộ với các bạn quá nhiều manh mối! Nhưng vì không khí của trò chơi, và cũng muốn hỗ trợ phần nào cho các bạn, nên tôi mạnh dạn làm như vậy.
Để tôi thách đấu nhé: Tôi thách các bạn giải quyết được bí ẩn trước khi đến các chương cuối cùng!
Chúc các bạn may mắn.