PHẦN MỞ ĐẦU
Thứ Bảy, ngày 27-04-1991
Vua Charles đệ tam đi đến quyết định cuối cùng. Cuộc bỏ phiếu đã diễn ra một cách đúng đắn theo sắc lệnh của Hoàng gia. Các phòng đầu phiếu đã đóng cửa, các phiếu đã được đếm, các máy điện toán đã tắt, và các chuyên gia cũng như các tay nghiệp dư đều ngã quỵ không còn tin vào tai mình khi họ nghe kết quả cuối cùng.
Vị vua mới đã không thể ngủ đêm thứ sáu hôm ấy. Trong lúc ngài vẫn còn chưa xem xét lại tất cả khuyến cáo mà những quan cận thần đã đệ trình cho ngài trong suốt hai mươi bốn giờ qua. Sự lựa chọn mà ngài cho phép đã chẳng đơn giản một chút nào, so với việc ngài vừa mới lên ngôi.
Mấy phút sau đồng hồ trong tháp Big Ben
[[i]]
đổ 6 giờ sáng, các Nhật báo buổi sáng được đặt ở hành lang bên ngoài phòng ngủ của ngài. Nhà vua lặng lẽ ra khỏi giường, mặc áo khoác và mỉm cười với người hầu vừa giật nảy mình khi ngài mở cửa. Nhà vua gom các tờ báo và mang tất cả vào phòng riêng để cho Hoàng hậu sẽ không bị quấy rầy.
Ngay sau khi ngài đã yên vị một cách thoải mái trong chiếc ghế bành mà ngài thích nhất, ngài giở qua trang xã luận.
Chỉ có một vấn đề đáng cho ngài quan tâm trong ngày hôm ấy. Tất cả báo giới London đều đi đến cùng một kết luận: Kết quả của cuộc bầu cử không thể nào gay go hơn, và vị vua mới đã bị đặt vào một tình thế hết sức tế nhị về vấn đề ai là người mà ngài sẽ bổ nhiệm làm Thủ tướng.
Hầu hết các báo vẫn tiếp tục trình bày với Nhà vua khuyến cáo riêng của họ về người ngài nên xem xét theo các quan hệ chính trị của riêng họ. Riêng tờ
Times London
không nêu quan điểm như thế, mà chỉ gợi ý rằng Nhà vua sẽ phải tỏ ra hết sức can đảm và dũng cảm trong lúc đương đầu với cơn khủng hoảng hiến pháp đầu tiên của ngài nếu nền quân chủ cần phải duy trì niềm tin trong một thế giới hiện đại
Vị vua bốn mươi ba tuổi thả mấy tờ báo xuống sàn và xem xét lại một lần nữa những vấn đề về nên lựa chọn người nào. Chính trị quả thực là một trò chơi kỳ lạ. Mới cách đây một thời gian ngắn rõ ràng đã có tới ba người để xem xét, thế rồi đột nhiên một trong số đó không còn là một người thi đấu nữa. Hai người còn lại – những người mà ngài nghi ngờ cũng không ngủ được đêm hôm ấy – tuy nhiên theo chừng mực nào đấy họ vẫn hết sức giống nhau. Cả hai người đó đã vào Hạ nghị viện năm 1964, đã điều khiển sự nghiệp sáng chói ở tuổi hai mươi lăm với tư cách thành viên của Nghị viện Anh. Họ đã chia nhau giữ các chức vụ Bộ trưởng Thương mại, Quốc phòng, Ngoại giao và Tài chính trước khi được bầu làm lãnh tụ Đảng của riêng họ.
Với tư cách Hoàng tử xứ Wales, Nhà vua đã quan sát cả hai người từ nhiều đường biên và dần dần khâm phục những đóng góp khác nhau của họ cho đời sống xã hội. Ngay thẳng mà nói, ngài phải thừa nhận ngài vẫn luôn luôn thích một người và trọng người kia.
Nhà vua xem đồng hồ tay rồi bấm một cái chuông trên chiếc bàn bên cạnh ngài. Một người hầu mặc bộ đồng phục màu xanh dương bước vào phòng như thể anh ta đang chờ đợi bên ngoài cửa suốt đêm. Anh ta bắt đầu bày bộ y phục sáng ra trong lúc vị quân vương đi vào phòng bên cạnh, ở đó mọi thứ để cho ngài tắm đã sẵn sàng. Khi Nhà vua trở lại, ngài mặc áo quần trong im lặng trước khi ngồi vào một cái bàn nhỏ bên cạnh cửa sổ để được phục vụ bữa điểm tâm. Ngài ăn một mình. Ngài đã để lại chỉ thị dứt khoát rằng không một người con nào được phép quấy rầy ngài.
Lúc tám giờ ngài lui về phòng đọc để nghe bản tin buổi sáng. Không có gì mới lạ. Các bình luận viên lúc này chỉ chờ xem ai là người sẽ được ngài mời vào Hoàng cung để hôn tay.
Lúc chín giờ mười lăm ngài nhấc điện thoại lên.
- Ông hãy lên ngay, - ngài chỉ nói như thế.
Một lát sau viên bí thư riêng của Nhà vua bước vào phòng. Ông ta cúi đầu chào, nhưng không nói gì, ông ta có thể thấy vị quân vương có vẻ đang bận tâm đến một chuyện gì đó. Mãi một hồi lâu sau ngài mới lên tiếng:
- Tôi đã đi đến quyết định, - ngài thanh thản nói.
PHẦN MỘT
Dân biểu (1964 – 1966)
1
Nếu Charles Gurney Hampton chào đời sớm hơn chín phút chắc là anh đã trở thành một bá tước và thừa hưởng một lâu đài ở Scotland, hai mươi hai nghìn mẫu
[[ii]]
đất ở Somerset
[[iii]]
và một ngân hàng Thương mại phát đạt ở London.
Phải mất mấy năm sau cậu bé Charles mới hiểu được ý nghĩa đầy đủ về việc đến đích thứ hai trong cuộc chạy đua đầu tiên của đời mình.
Người anh song sinh với cậu, Rupert sống sót qua cuộc thử thách này, và trong những năm kế tiếp chẳng những ốm đau mà còn bị thêm bệnh ban đỏ, bệnh bạch cầu và bệnh viêm màng não, khiến cho mẹ cậu, bà Hampton, luôn luôn lo sợ không qua khỏi.
Charles thì trái hẳn lại vẫn tồn tại và đã thừa hưởng tham vọng của dòng họ Hampton đối với cả người anh và bản thân cậu. Chỉ ít năm sau những người có cơ hội tiếp xúc với hai anh em lần đầu tiên đã tưởng lầm Charles là người thừa kế tước vị bá tước.
Suốt những năm dài, cha của Charles hết sức cố gắng khám phá một điều gì đó mà Rupert có thể vượt trội hơn cậu – và ông đã thất bại. Khi lên tám, cả hai cậu vào trường Sơ cấp tư
[[iv]]
ở Summerfields, nơi đây nhiều thế hệ của dòng họ Hampton đã từng được chuẩn bị cho những khuôn khổ khắc nghiệt của Eton
[[v]]
.
Trong tháng đầu tiên ở trường Charles đã được bầu làm lớp trưởng, và không một ai cản trở tiến bộ của cậu trên đường trở thành Trưởng khối học sinh ở lứa tuổi mười hai, vào thời gian đó Rupert đã bị xem là “cậu em Hampton”. Cả hai cậu bé tiếp tục vào Eton, nơi đây trong học kỳ đầu tiên Charles đã đánh bại Rupert với từng môn học, chèo xuồng nhanh hơn cậu anh trên sông và gần như đánh chết cậu anh trong lúc đấu quyền Anh.
Năm 1947, khi ông nội của hai cậu, vị Bá tước thứ mười ba của Bridgewater, cuối cùng qua đời, cậu bé Rupert mười sáu tuổi trở thành Tử tước Hampton trong lúc Charles thừa hưởng một tước hiệu vô nghĩa.
Honorable Charles Hampton thường tức giận mỗi lần nghe cậu anh của mình được nhiều người lạ thưa gọi một cách cung kính: “Ông chủ”.
Ở Eton, Charles vẫn tiếp tục xuất sắc và kết thúc những ngày ở trường với chức Chủ tịch câu lạc bộ Pop độc đáo ở Eton trước khi được đề nghị một chỗ ở Christ Church, Oxford, để học lịch sử. Rupert cũng học qua những năm tương tự nhưng không đạt được một bảng danh dự nào. Tới tuổi mười tám vị tử tước trẻ quay trở về sản nghiệp của gia đình ở Somerset để trải qua phần còn lại của đời mình với tư cách một địa chủ. Không một ai được thừa hưởng hai mươi hai nghìn mẫu đất mà lại bị xem là một nông dân.
Ở Oxford, Charles, thoát khỏi cái bóng của Rupert, tiến bộ với dáng vẻ của một người nhận thấy trường đại học có một điều gì đó buồn chán. Anh thường trải qua những ngày trong tuần đọc lịch sử các mối quan hệ, và những ngày cuối tuần các bữa tiệc ở nhà hoặc đi săn bằng ngựa. Vì không ai gợi ý rằng Rupert sẽ bước vào thế giới tài chính, người ta đoán rằng ngay sau khi Charles tốt nghiệp Oxford, anh sẽ kế tục cha anh tại Ngân hàng của dòng họ Hampton, đầu tiên với tư cách một viên giám đốc rồi lên chức Chủ tịch – mặc dầu chính Rupert sẽ là người cuối cùng thừa hưởng số cổ phần của gia đình.
Tuy nhiên, điều phỏng đoán này đã thay đổi khi một buổi tối Honorable Charles Hampton bị lôi kéo tới Oxford Union, cô ta đã yêu cầu anh đến nghe Sir Winston Churchil
[[vi]]
xuất hiện trước công chúng để thảo luận chủ đề: “Tôi thà làm một thường dân hơn là một người quý tộc”.
Charles ngồi ở phía sau một gian đại sảnh đông nghẹt những sinh viên đầy nhiệt huyết như bị mê hoặc bởi bài phát biểu của nhà lãnh tụ. Anh đã không bao giờ rời mắt dù chỉ một lần khỏi vị lãnh đạo chiến tranh vĩ đại trong suốt bài diễn văn vừa hóm hỉnh vừa hùng hồn của ông, mặc dầu điều vẫn lướt qua tâm trí anh là sự nhận thức rằng, nếu không có một sự tình cờ về việc ra đời, Churchil chắc đã là vị Công tước Marlborough. Đây là một con người đã chi phối sân khấu thế giới trong ba thập kỷ rồi sau đó gạt bỏ mọi vinh dự kế truyền mà một đất nước chịu ơn có thể ban tặng, kể cả tước vị Công tước London.
Charles không bao giờ tự cho phép mình đề cập tới tước vị của anh nữa. Kể từ lúc đó, tham vọng tột bực của anh không phải chỉ là các tước vị.
Một sinh viên khác lắng nghe Churchil đêm hôm ấy cũng đang suy xét tương lai của chính mình. Nhưng anh không quan tâm những lời lẽ nhồi nhét như các bạn của anh ở cuối gian đại sảnh đông đúc. Chàng thanh niên cao lớn mặc áo khoác dài và mang cà vạt trắng ngồi một mình trong một chiếc ghế rộng lớn trên bục cao, vì anh chính là Chủ tịch của Oxford Union. Dáng dấp đẹp trai một cách tự nhiên của anh không liên quan tới việc tuyển cử bởi vì phụ nữ vẫn còn không thể trở thành Hội viên.
Simon Kerslake không có được các lợi thế của Charles Hampton, là con trai độc nhất của một luật sư gia đình, anh đã hiểu được cha anh đã phải tự hạn chế như thế nào để đảm bảo cho con trai của mình phải luôn được học trong trường công ở địa phương. Cha anh đã qua đời trong lúc mẹ anh đang học năm cuối ở trường, để lại cho mẹ anh một khoản trợ cấp hàng năm thật nhỏ và một đồng hồ treo tường tuyệt đẹp của ông nội Mackinley. Mẹ của Simon bán chiếc đồng hồ một tuần sau đám tang để cho con trai bà có thể hoàn tất năm học cuối cùng với tất cả những món “phụ phí” mà các học sinh khác cho là đương nhiên. Bà cũng hy vọng rằng điều đó sẽ giúp Simon có cơ may tiếp tục lên đại học.
Từ ngày đầu tiên biết đi, Simon vẫn luôn luôn muốn vượt xa những cậu bé cùng tuổi. Người Mỹ chắc sẽ mô tả cậu như một kẻ “thành đạt”, trong lúc nhiều người nghĩ về cậu như một kẻ huênh hoang, hoặc thậm chí ngạo mạn, theo bản tính ganh tị của họ. Trong học kỳ cuối cùng của cậu ở Lancing, Simon đã bị mất chức Trưởng trường, và mãi mãi nhận thấy mình không thể tha thứ cho ông hiệu trưởng về sự thiếu lo xa của ông. Sau đó trong năm ấy, cậu hụt mất một chỗ ở trường Đại học Magdalen của Oxford. Đó là một quyết định mà Simon không muốn chấp nhận.
Trong cùng chuyến thư đó, trường Đại học Durham tặng anh một học bổng mà anh đã viết thư từ chối “Các Thủ tướng tương lai không ai lại học ở Durham”. Anh thông báo với mẹ.
- Còn Cambridge thì sao? – Mẹ anh nhẹ nhàng hỏi.
- Không có truyền thống chính trị, Simon đáp.
- Nhưng nếu không có may mắn được một chỗ ở Oxford, chắc là…?
- Đó không phải là điều con nói, mẹ à, - chàng thanh niên trả lời. – Con sẽ là một sinh viên tại Oxford vào ngày đầu tiên của học kỳ.
Sau mười tám năm thắng lợi viển vông, bà Kerslake đã rút kinh nghiệm nên ngừng hỏi con: “Làm sao con xoay xở được việc đó?”.
Mười bốn ngày trước khi bắt đầu kỳ nghỉ lễ Noel tại Oxford, Simon đăng ký ở trong một nhà khách nhỏ chỉ cách đường Iffley một khoảng. Trên một cái bàn được kê bằng một bộ ngựa gỗ trong góc phòng trọ mà anh định sử dụng lâu dài, anh viết ra một danh sách tất cả các trường Đại học ở Oxford, rồi chia chúng thành năm cột, dự tính sẽ đến ba trường mỗi buổi sáng và ba trường mỗi buổi chiều cho đến khi câu hỏi của anh đã được trả lời một cách rõ ràng bởi một thầy trợ giáo nội trú phụ trách tiếp nhận: “ Năm nay trường có tiếp nhận sinh viên năm thứ nhất nào mà lúc này vẫn không thể đến trình diện hay không?”.
Vào buổi chiều ngày thứ bốn, ngay khi mối nghi ngờ đang bắt đầu phát sinh và Simon đang tự hỏi phải chăng xét cho cùng anh sẽ phải đi đến Cambridge tuần tới, nơi anh vừa nhận được giấy gọi nhập học đầu tiên.
Vị trợ giáo phụ trách tiếp nhận ở trường Đại học Worcester nhấc cặp kính khỏi chóp mũi và chăm chú nhìn lên cậu thanh niên cao lớn có mớ tóc đen xõa trên trán. Cặp mắt nâu cuồng nhiệt của cậu thanh niên vẫn không rời khỏi vị trợ giáo. Alan Brown là vị trợ giáo thứ hai mươi hai mà Simon Kerslake đã tìm đến trong bốn ngày.
- Có, ông trả lời. – Đã có một chuyện đau buồn xảy đến: một em ở trường Trung học Nottingham, đã được nhận vào học ở đây, vừa chết trong một tai nạn xe gắn máy tháng trước.
- Anh ấy đã định học lớp… môn nào, thưa thầy? – Simon hỏi với giọng ngập ngừng một cách khác thường.
Anh cầu nguyện đó không phải là hóa học, kiến trúc hoặc văn học cổ điển. Alan Brown xem qua tập hồ sơ trên bàn, rõ ràng thích thú với trò đối chất nhỏ này. Ông nhìn kỹ vào một tấm thẻ trước mặt ông.
- Lịch sử, - ông thông báo.
Nhịp tim của Simon chợt lên tới một trăm hai mươi.
- Em vừa hụt mỗ chỗ ở Magdalen để học chính trị, triết học và kinh tế, - anh nói. – Thầy có thể cho em thế vào chỗ trống đó không ạ?
Ông già không thể che giấu một nụ cười. Trong hai mươi bốn năm qua, ông chưa bao giờ nghe thấy một đề nghị như thế.
- Tên họ của em là gì? – Ông vừa nói vừa đeo lại kính tựa hồ công việc nghiêm túc của cuộc gặp gỡ lúc này đã bắt đầu.
- Simon John Kerslake.
Tiến sĩ Brown liền nhấc máy điện thoại bên cạnh ông và quay một số.
- Nigel đó à? – Ông nói. – Đây là Alan Brown. Anh đã từng xem xét việc thu nhận một người tên Kerslake vào học ở Magdalen phải không?
Bà Kerslake không ngạc nhiên khi cậu con trai của bà tiếp tục giữ chức Chủ tịch của Oxford Union. Xét cho cùng, bà nghĩ, có phải đây chỉ là một bàn đạp nữa trên con đường đến chức Thủ tướng – Gladstone
[[vii]]
, Asquith
[[viii]]
… Kerslake?
Ray Gould ra đời trong một căn phòng nhỏ kín không có cửa sổ phía trên cửa hàng thịt của cha cậu ở Leeds. Trong chín năm đầu tiên của đời mình cậu đã sống chung trong căn phòng đó với người bà đau yếu của cậu, cho đến khi cụ qua đời ở tuổi sáu mươi mốt.
Việc gần gũi của Ray với bà cụ đã mất chồng trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thoạt tiên có vẻ lãng mạn đối với cậu. Cậu thường lắng nghe hết sức thích thú trong lúc bà kể cho cậu những câu chuyện về ông cậu trong bộ đồng phục kaki chỉnh tề - một bộ đồng phục hiện giờ được xếp một cách ngay ngắn trong ngăn kéo phòng ngủ của bà, nhưng vẫn còn trưng bày trong bức ảnh màu nâu đã phai mờ bên cạnh giường bà. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau các câu chuyện của bà khiến cho lòng Ray tràn đầy buồn bã trong lúc cậu hay biết rằng bà đã trở thành một người vợ góa trong gần ba chục năm. Cuối cùng trông bà thật là thảm hại khi cậu nhận thức được rằng bà có kinh nghiệm thật ít ỏi như thế nào về thế giới bên kia căn phòng chật chội, trong đó và đã bị vây bọc bởi tất cả các vật sở hữu của bà và một chiếc phong bì ngả màu vàng đựng năm trăm tấm trái phiếu chiến tranh không thể đổi thành tiền.
Bà nội của Ray không hề có ý định làm một bản chúc thư, bởi vì tất cả những gì cậu thừa hưởng chỉ là căn phòng. Ban đêm nó không còn là một phòng ngủ đôi mà trở thành một phòng học, đầy những sách mượn ở thư viện và sách giáo khoa, loại sau thường trả trễ, tận dụng hết những món tiền túi vụn vặt ít ỏi của Ray. Nhưng cứ mỗi báo cáo của nhà trường được gửi về nhà, cha của Ray lại càng thấy rõ hơn rằng ông sẽ không nới rộng tấm bảng hiệu phía trên cửa hàng thịt để thay bằng hàng chữ “Gould và con trai”.
Lúc mười một tuổi, Ray nhận được học bổng cao nhất vào trường Trung học Roundhay. Mặc chiếc quần dài đầu tiên – đã được mẹ cậu cắt ngắn bớt mấy inch – và mang cặp kính gọng sừng không thích hợp một chút nào, cậu lên đường đến trường mới vào ngày khai giảng. Mẹ Ray hy vọng còn có các cậu bé khác cũng gầy gò và đầy mụn như con bà, và mái tóc đỏ gợn sóng của con sẽ không khiến cho cậu liên tục bị chọc ghẹo.
Vào cuối học kỳ đầu tiên, Ray ngạc nhiên vì cậu vượt xa các bạn cùng tuổi, quả thực xa đến nỗi ông Hiệu trưởng phải thận trọng đặt cậu lên một dạng “cần để cho cậu bé thư giãn một chút” như ông giải thích với cha mẹ của Ray. Vào cuối năm, người ta dùng thì giờ chủ yếu trong lớp học, Ray được xếp thứ ba trong lớp, và đứng nhất tiếng La tinh về tiếng Anh. Chỉ khi xảy ra việc chọn lựa các đội thể thao Ray mới phát hiện cậu là hạng bét trong môn này. Tuy nhiên trí tuệ của cậu vẫn luôn luôn sắc sảo, dường như không hề phù hợp với cơ thể cậu.
Trong bất cứ trường hợp nào, sự cạnh tranh duy nhất mà cậu lưu tâm trong năm ấy là giải thưởng tiểu luận của trường cấp II. Người đoạt giải thưởng sẽ phải đọc bài thi của mình trước tập thể học sinh và phụ huynh vào ngày lễ phát thưởng hàng năm. Ngay cả trước khi cậu nộp bài thi, Ray đã diễn tập nhiều lần trong phòng ngủ vừa là phòng học, sợ rằng cậu sẽ không được chuẩn bị một cách hoàn chỉnh nếu đợi tới khi công bố người đoạt giải.
Thầy giáo dạy nghi thức của Ray đã nói cho tất cả học sinh biết rằng chủ đề của bài tiểu luận có thể do các cậu tùy ý chọn, nhưng cần phải cố hồi tưởng một kinh nghiệm nào đó độc nhất đối với các cậu. Sau khi đọc bài thuật lại cuộc đời của bà nội cậu trong căn phòng nhỏ phía trên cửa hàng thịt, thầy giáo dạy nghi thức không muốn xem một bài nào nữa. Tuy nhiên ông vẫn phải chật vật đọc hết các bài còn lại theo đúng nhiệm vụ của mình, và ông đã không do dự đề nghị trao giải thưởng cho bài tiểu luận của Gould. Sự dè dặt duy nhất, ông nhìn nhận với Ray, là việc lựa chọn đầu đề. Ray cám ơn ông về lời khuyên đó nhưng đầu đề vẫn giữ nguyên.
Vào buổi sáng lễ phát thưởng, gian đại sảnh của trường chật ních với chín trăm học sinh và phụ huynh. Sau khi ông hiệu trưởng đọc bài diễn văn và tiếng vỗ tay lắng xuống, ông thông báo:
- Bây giờ tôi sẽ mời học sinh đoạt giải thưởng tiểu luận lên đọc bài thi của cậu. Ray Gould.
Ray liền rời khỏi chỗ và bước một cách tự tin lên sân khấu. Cậu chăm chú nhìn xuống hai nghìn khuôn mặt chờ đợi và không tỏ vẻ lo sợ một chút nào, một phần vì cậu khó nhìn rõ quá khỏi hàng thứ ba. Khi cậu thông báo đầu đề của bài tiểu luận, một số cậu bé nhỏ tuổi hơn bắt đầu cười khẩy, khiến Ray ấp úng mấy dòng đầu tiên. Nhưng lúc cậu đọc tới trang cuối cả gian đại sảnh đông nghịt im phăng phắc, và sau khi cậu kết thúc đoạn cuối cậu đã được cử tọa đứng dậy vỗ tay tán thưởng lần đầu tiên trong đời.
Cậu bé mười hai tuổi Ray Gould rời sân khấu để trở về chỗ ngồi bên cạnh cha mẹ. Đầu của mẹ cậu cúi xuống nhưng cậu vẫn có thể trông thấy nước mắt chảy dài trên má. Cha cậu thì cố không tỏ ra quá hãnh diện. Ngay cả khi Ray đã ngồi xuống, tiếng vỗ tay vẫn còn tiếp tục, vì thế cậu cũng cúi đầu xuống như thể chăm chú nhìn vào đầu đề của bài tiểu luận đoạt giải thưởng: “ Những đổi thay đầu tiên tôi sẽ tạo nên khi tôi trở thành Thủ tướng”.
2
Thứ Năm, ngày 10-12-1994
Vị chủ trì hội nghị đứng dậy và quan sát các Nghị viên. Ông giật mạnh chiếc áo choàng dài bằng lụa đen, rồi bồn chồn vặn bộ tóc giả phủ trên cái đầu hói. Nghị viện Anh đã hầu như không thể kiểm soát trong suốt phiên họp mất trật tự một cách đặc biệt về các câu hỏi của Thủ tướng và ông vui sướng khi trông thấy chiếc đồng hồ treo đã chỉ ba giờ rưỡi. Thời gian cần phải chuyển sang công việc tiếp theo của ngày hôm ấy.
Ông đứng chuyển đổi chân liên tục, chờ cho hơn năm trăm thành viên của Nghị viện hiện diện ổn định chỗ ngồi trước khi ông trang nghiêm lên tiếng:
- Có thành viên muốn tuyên thệ.
Toàn thể mọi người chuyển cái nhìn từ vị chủ trì Hội nghị về phía cuối phòng, như một đám người đang xem một trận đấu quần vợt.
Thành viên vừa mới được bầu vào Nghị viện đứng ở cửa vào. Với chiều cao sáu feet bốn
[[ix]]
, trông anh giống như một người sinh ra với đảng Bảo thủ trong đầu. Cái đầu quý tộc của anh được đặt trên một thân hình thượng lưu, một mái tóc vàng được chải một cách tỉ mỉ. Mặc một bộ com lê cài chéo màu xám sẫm, với một chiếc cà vạt của Vệ binh trung đoàn màu đỏ và xanh, hai bên là người tiến cử và người ủng hộ anh, Charles Hampton bước lên bốn bước về phía trước. Như những vệ binh đã được tập luyện kỹ, họ dừng lại và cúi chào, đoạn tiến tới chiếc bàn dài đặt phía trước ghế của vị chủ trì Hội nghị giữa hai ghế Nghị viên phía trước. Charles ngạc nhiên vì căn phòng trong thực tế nhỏ như thế nào: những chiếc ghế của phe Chính phủ và phe Đối lập ở đối diện nhau chỉ cách nhau một khoảng dài bằng lưỡi kiếm. Charles chợt nhớ lại rằng trong lịch sử một khoảng dài bằng lưỡi kiếm đã có một lần đảm bảo sự an toàn của các đối thủ không đội trời chung ngồi đối diện với nhau.
Rời khỏi hai người bảo lãnh đang theo sát phía sau, anh đi qua cái bàn dài, bước qua chân của vị Thủ tướng và Bộ trưởng Ngoại giao trước khi được thư ký của Nghị viện trao lời thề.
Anh nắm tấm thẻ nhỏ trong bàn tay phải và đọc từng từ một cách quả quyết như lời thề hôn lễ của anh.
- Tôi, Charles Hampton, xin tuyên thệ tôi sẽ trung thành với Nữ hoàng Elizabeth, những người kế tục theo đúng pháp luật, vì vậy xin Chúa phù hộ tôi.
- Nghe, nghe, - những đồng nghiệp của anh thốt lên trong lúc thành viên mới của Nghị viện cúi xuống để ghi vào Text Roll, một tấm giấy da xếp lại theo dạng một cuốn sách.
Charles tiếp tục đi về phía ghế của vị chủ trì hội nghị rồi anh dừng lại và cúi chào.
- Chào mừng ông Hampton vào Nghị viện, - vị chủ trì hội nghị vừa nói vừa bắt tay anh.– Tôi hy vọng anh sẽ phục vụ Nghị viện trong nhiều năm sắp tới.
- Xin cảm ơn ông, - Charles nói, và cúi chào một lần cuối trước khi tiếp tục đi tới khu vực nhỏ phía sau ghế của vị chủ trì hội nghị.
Anh đã tiến hành buổi lễ nhỏ giống hệt như Nghị viên Bảo thủ phụ trách tổ chức đã diễn tập với anh trong dãy hành lang bên ngoài văn phòng của ông.
- Chúc mừng chiến thắng tuyệt vời của anh, Charles – vị cựu Thủ tướng và hiện giờ là lãnh tụ phe Đối lập, Sir Alec Douglas – Home, vừa nói vừa bắt tay anh một cách nồng nhiệt – Tôi biết anh sẽ có nhiều cống hiến cho đảng Bảo thủ và đất nước của anh.
- Cảm ơn ông, - vị nghị sĩ mới trả lời.
Sau khi chờ Sir Alec trở lại chỗ của ông trên ghế trước của phe Đối lập, Charles Hampton bước lên bậc thang của lối đi giữa các ghế để tìm một chỗ ở hàng ghế dài có màu xanh lá cây ở sau cùng.
Trong hai giờ kế đó anh theo dõi những nghi lễ của Nghị viện với một tâm trạng vừa thán phục vừa hứng thú.
Anh khâm phục sự thẳng thắn và công bằng của hệ thống Nghị viện trong cuộc tranh cử sôi nổi trước mắt anh. Đảng Lao động chống lại đảng Bảo thủ, phe Chính phủ chống lại phe Đối lập, Bộ trưởng thuộc phe Chính phủ chống lại Bộ trưởng thuộc phe Đối lập. Và như với hai đội bóng đá Charles biết mọi vị trí đều được kiểm soát. – Bộ trưởng phe Chính phủ liên tục được Bộ trưởng phe Đối lập xem xét cẩn thận. Anh cũng biết rằng nếu đảng Bảo thủ thắng thế trong cuộc bầu cử sắp tới, phe Đối lập đã được chuẩn bị kỹ càng để nắm quyền kiểm soát Chính phủ Lao động sắp mãn nhiệm.
Liếc mắt lên chỗ khách mời, anh trông thấy vợ, Fiona, cha anh, vị Bá tước thứ mười bốn của Bridge Water, và anh trai của anh, Tử tước Hampton, tất cả đang chăm chú nhìn xuống anh với niềm kiêu hãnh. Chắc chắn lúc này không một ai có thể nghi ngờ một chút gì về việc trong hai anh em ai là người nên thừa hưởng tước vị của gia đình Hampton. Lần đầu tiên trong đời, anh đã tìm ra một thứ không phải do anh được thừa kế hoặc do chiếm được mà không cần phải cố gắng.
Charles thoải mái ngồi xuống trên nấc thang đầu tiên.
Raymond Gould chăm chú nhìn xuống tờ giấy mời. Anh chưa bao giờ trông thấy bên trong của số 10 đường Downing
[[x]]
. Trong suốt mười ba năm cuối cùng dưới quyền của đảng Bảo thủ ít người thuộc đảng Lao động có thể đến đó. Anh chuyển tấm thiệp in nổi qua bàn điểm tâm cho vợ.
- Em nên nhận lời hay từ chối, Ray? – Nàng hỏi bằng giọng nặng miền Yorkshire.
Nàng là người duy nhất vẫn còn gọi anh là Ray, và ngay cả sự cố gắng tỏ ra hài hước của nàng lúc này cũng cho anh khó chịu. Những tác giả bi kịch Hy Lạp đã dựa vào “sai lầm định mệnh” để viết nên các kiệt tác của họ, và anh tin chắc mình cũng thế.
Anh đã gặp Joyce tại một cuộc khiêu vũ do các nữ y tá của Bệnh viện Leeds General tổ chức. Anh đã không muốn đi nhưng một người bạn sinh viên năm thứ hai ở Roundhay thuyết phục anh đó sẽ là một dịp nghỉ ngơi thú vị. Ở trường, anh vẫn tỏ ra ít quan tâm đến các cô gái, và như mẹ anh thường nhắc nhở anh, sẽ có nhiều cơ hội tìm bạn một khi anh đã tốt nghiệp. Khi anh trở thành một sinh viên, anh cảm thấy chắc chắn rằng anh là gã trai tân duy nhất còn sót lại ở trường Đại học.
Rốt cuộc anh đã ngồi một mình trong góc một căn phòng được trang hoàng với những bong bóng rủ xuống nhấm nháp một cách buồn phiền một lon coke qua một ống hút uốn cong. Mỗi lần người bạn học của anh quay tròn khỏi sàn nhảy, - mỗi lần với một cô gái khác. – Raymond lại toét miệng cười với bạn. Với cặp kính của hãng y tế Quốc gia nhét trong túi, anh không sao chắc chắn mình đang mỉm cười với đúng người. Anh bắt đầu nghĩ xem vào giờ nào anh có thể ra về mà không phải thừa nhận buổi tối là cả sự đầy ải. Chắc hẳn anh đã hoảng sợ vì lời nói mở đầu của nàng nếu anh không quen với giọng nói nặng trịch đó.
- Anh ở cùng trường Đại học?
- Cùng với ai? – Anh hỏi mà không nhìn thẳng vào nàng.
- Cùng với bạn anh, - nàng nói.
- Vâng. – anh vừa nói vừa nhìn lên một cô gái mà anh đoán chừng vào khoảng tuổi anh.
- Em ở Bradford.
- Tôi ở Leeds, - anh nhìn nhận, và trong lúc từng giây trôi qua biết rằng mặt anh đang đỏ dần lên như mái tóc của anh.
- Giọng anh không giống ở nơi đó một chút nào.
Lời nói đó khiến anh thích thú.
- Tên em là Joyce, - nàng tự nguyện xưng danh.
- Tên tôi là Ray, - anh nói.
- Thích khiêu vũ chứ?
Anh muốn nói cho nàng biết rằng anh ít khi bước lên sàn nhảy, nhưng anh không có can đảm. Như một con búp bê, anh thấy mình đứng lên và được nàng dẫn về phía những người đang khiêu vũ. Thật là quá đáng đối với giả thuyết của anh rằng anh là một người có bản chất lãnh đạo.
Lúc họ đã ở trên sàn nhảy, anh nhìn nàng một cách đứng đắn lần đầu tiên. Nàng là người mà bất cứ chàng trai Yorkshire nào cũng phải thích. Nàng cao khoảng 1 bảng
[[xi]]
và mái tóc màu nâu vàng của nàng buộc lại thành một cái đuôi ngựa tương họp với đôi mắt màu nâu sẫm được hóa trang hơi nhiều ở chung quanh. Nàng dùng son môi màu hồng giống như chiếc váy ngắn của nàng, từ đó lộ ra đôi chân rất quyến rũ. Chúng có vẻ còn quyến rũ hơn nữa khi nàng xoay tròn theo tiếng nhạc của ban nhạc sinh viên. Raymond khám phá ra rằng nếu anh xoay Joyce thật nhanh anh có thể trông thấy phần trên của tất nàng, và anh đã ở lại trên sàn nhảy lâu hơn rất nhiều so với điều anh nghĩ mình có thể. Sau khi các nhạc công dọn dẹp nhạc cụ của họ, Joyce đã hôn từ biệt anh trước lúc Ray trở về căn phòng nhỏ của anh phía trên cửa hàng thịt.
Ngày Chủ nhật kế tiếp, trong một cố gắng chiếm ưu thế, anh đưa Joyce đi chèo thuyền trên sông Aire, nhưng thành tích của anh ở đó cũng không khá hơn tài khiêu vũ của anh, và mọi việc trên sông đều khiến anh ngỡ ngàng, kể cả một người bơi lội rất chì. Anh những tưởng sẽ nghe một tiếng cười chế nhạo, nhưng Joyce chỉ mỉm cười và nói chuyện về việc hụt vào trường Bradfort và muốn trở về nhà để trở thành một nữ y tá. Ray muốn giải thích với nàng rằng anh ao ước thoát khỏi Leeds. Anh không thể chờ đợi để đi du lịch đến London. Nhưng anh cũng biết anh không muốn rời xa cô gái xinh đẹp này. Cuối cùng khi anh trở lại thuyền, Joyce mời anh quay lại nhà trọ của nàng để uống trà. Anh đỏ bừng mặt trong lúc họ đi qua bà chủ nhà, và Joyce đẩy anh lên cầu thang đá đã mòn tới căn phòng nhỏ của nàng.
Ray ngồi xuống phía cuối chiếc giường hẹp của nàng trong lúc Joyce pha hai ca trà không có sữa. Sau khi cả hai làm bộ uống, nàng ngồi xuống bên cạnh anh, bàn tay đặt trên vế. Anh nhận thấy mình đang chăm chú lắng nghe một tiếng còi xe cứu thương trong lúc nó chạy xa dần. Nàng nghiêng mình qua và hôn anh, nhấc một bàn tay của anh và đặt lên đầu gối của nàng. Nàng tách môi anh ra và lưỡi họ chạm và nhau. Anh nhận thấy một cảm giác lạ lùng như vừa được đánh thức dậy. Hai mắt anh nhắm lại trong lúc nàng nhẹ nhàng dẫn anh qua một kinh nghiệm mới, cho tới khi anh không thể ngăn chặn mình phạm điều mà anh cảm thấy chắc chắn mẹ anh đã một lần mô tả là một tội lỗi nghiêm trọng.
- Lần sau sẽ dễ dàng hơn, - nàng vừa bẽn lẽn nói với anh vừa khéo léo lách mình khỏi chiếc giường hẹp để sắp xếp lại đống áo quần nhàu nát vung vãi trên sàn. Nàng nói đúng: chưa đầy một tiếng đồng hồ sau anh lại muốn nàng, và lần này hai mắt anh mở to.
Sáu tháng sau, Joyce mới gợi ý về chuyện tương lai, và vào lúc đó Ray đã chán nàng và đang để mắt tới một nữ sinh viên toán nhỏ nhắn thông minh học năm cuối. Cô nữ sinh viên toán đến từ Surrey.
Đúng lúc Ray đang mải nghĩ đủ can đảm để cho nàng biết mọi chuyện đã kết thúc, thì Joyce cho anh hay nàng có thai. Cha anh chắc sẽ cho anh một trận nếu anh đề nghị một vụ phá thai bất hợp pháp. Mẹ anh chỉ an ủi nàng là một cô gái Yorkshire.
Ray và Joyce làm lễ thành hôn ở nhà thờ St. Mary tại Bradfort trong kỳ nghỉ hè dài. Khi các bức hình đám cưới được in ra, Ray trông có vẻ hết sức khổ sở, còn Joyce lại hết sức sung sướng, rằng họ giống như cha và con gái hơn là chồng với vợ. Sau một buổi tiệc trong đại sảnh của nhà thờ đôi vợ chồng mới cưới đi xuống Dover để đáp chuyến phà đêm. Đêm đầu tiên với tư cách ông và bà Gould là một thảm họa. Ray hóa ra là một thủy thủ tồi một cách đặc biệt. Joyce chỉ hy vọng Paris sẽ tỏ ra là đáng nhớ, - và như thế thật. Nàng đã bị sẩy thai trong đêm thứ hai của tuần trăng mật.
- Có lẽ tại vì quá kích động, - mẹ nàng nói khi hai người trở về. – Nhưng, con vẫn có thể có một đứa khác kia mà? Và lần này người ta sẽ không thể gọi đó đó là một…
Bà đột ngột dừng lại.
Ray không hề tỏ quan tâm đến việc có một đứa con khác. Anh tốt nghiệp cử nhân luật loại xuất sắc ở Leeds rồi chuyển về London, như dự tính, để hoàn tất việc thực tập nghề luật sư. Chỉ ít tháng sau khi đến thủ đô, Leeds đã phai mờ trong ký ức của anh, và vào cuối năm thực tập thứ hai Ray đã được thu nhận vào một văn phòng luật sư thời thượng ở London để trở thành một luật sư thực thụ. Kể từ lúc đó anh rất ít khi nhắc tới cội rễ miền Bắc nước Anh của mình với giới bằng hữu đã được vun đắp một cách thận trọng, và những bạn thân này nếu gọi anh bằng Ray thì sẽ được dứt khoát chỉnh lại “Raymond” để cho họ quen miệng.
Ngoại lệ duy nhất mà Raymond chấp thuận là khi cần cho sự nghiệp chính trị bắt đầu nảy nở của anh. Leeds North đã chọn Raymond làm ứng cử viên đảng Lao động vào Nghị viện. Dân chúng Yorkshire thích những người sinh sống tại địa phương, và Raymond đã nhanh chóng chứng tỏ với ủy ban Tuyển chọn, bằng một giọng Yorkshire đặc sệt, rằng anh đã được học tại trường Trung học Roundhay thuộc thành phần của cử tri và anh đã từ chối một học bổng vào Cambridge vì thích tiếp tục việc học ở trường Đại học Leeds.
Mười năm đã trôi qua kể từ tuần tăng mật đáng ghi nhớ của hai vợ chồng Gould, và Raymond đã từ lâu chấp nhận rằng anh sẽ bị buộc chặt vào Joyce suốt đời. Mặc dầu nàng chỉ mới ba mươi hai, nàng đã cần phải phủ kín đôi chân, một thời thon thả thoạt tiên đã hết sức lôi cuốn anh.
Làm sao anh có thể bị trừng phạt quá nặng nề về một lỗi lầm tầm thường như thế? Raymond muốn hỏi các vị Thánh thần. Anh đã tưởng mình trưởng thành như thế nào? Hóa ra anh đã non nớt như thế nào? Ly dị là hợp lý, nhưng như thế có nghĩa là chấm dứt các tham vọng chính trị của anh. Không một người dân Yorkshire nào nghĩ đến việc lựa chọn một người đàn ông đã ly dị vợ. Không kể đến vấn đề sẽ gây nên với cha mẹ anh, sau mười năm trợ cấp cho cặp vợ chồng trẻ trong các chuyến đi đến Leeds, họ đã dần dần quý mến cô con dâu. Công bằng mà nói, mọi việc không hẳn là một thảm họa, anh phải nhìn nhận rằng những người trong vùng cũng rất quý mến nàng. Trong suốt cuộc bầu cử sáu tuần lễ trước nàng đã trò chuyện với nhiều thành viên nghiệp đoàn và những bà vợ khủng khiếp của họ giỏi hơn anh đã từng làm, và anh phải thừa nhận rằng nàng là tác nhân chính trong việc anh thắng ở khu vực bầu cử Leeds bằng trên mười chín ngàn phiếu bầu. Anh tự hỏi làm sao nàng có thể có vẻ hết sức thành thực trong toàn bộ thời gian; anh chưa bao giờ nghĩ điều đó là tự nhiên.
- Tại sao em không đi mua một cái áo dài mới cho vụ Downing Street? – Raymond nói trong lúc họ rời khỏi bàn điểm tâm.
Nàng mỉm cười, theo nàng nhớ thì anh không bao giờ có một đề nghị như thế. Joyce không hề có ảo tưởng nào về chồng nàng và tình cảm của anh đối với nàng, nhưng vẫn hy vọng rằng cuối cùng anh sẽ nhận thức được nàng có thể giúp đỡ anh hoàn thành tham vọng chưa nói thành lời.
Trong đêm tiếp tân ở Downing Street, Joyce cố gắng hết sức cho nàng thật đẹp. Nàng đã mất trọn buổi sáng ở
Marks & Spencer
để tìm kiếm một bộ đồ thích hợp cho dịp này, cuối cùng quay lại với một bộ mà nàng đã thích ngay lúc nàng bước vào cửa hàng. Bộ đồ này không hoàn toàn vừa vặn nhưng nhân viên bán hàng cam đoan với Joyce rằng “trông bà hết sức tuyệt diệu khi mặc vào”. Nàng chỉ hy vọng nhận xét của Ray sẽ là nửa khen nửa chê. Vào lúc nàng về tới nhà, nàng mới nhận ra nàng không có các trang phục phụ thêm để phù hợp với màu sắc khác thường.
Raymond từ Nghị viện trở về trễ và hài lòng khi thấy Joyce đã sẵn sàng khi anh nhảy ra khỏi phòng tắm. Anh cố nín một nhận xét xúc phạm về sự tương phản giữa bộ đồ mới với đôi giày cũ của nàng. Trong lúc họ cho xe chạy về phía Wesminster, anh kể lại tên của mỗi thành viên trong Nội các với nàng, bắt Joyce nhắc lại các tên đó như thể nàng là một đứa trẻ.
Không khí đêm hôm ấy khô mát nên Raymond đậu chiếc Volkswagen của anh ở New Place Yard và họ cùng nhau thả bộ ngang qua Whitehall đến số 10. Một cảnh sát viên lẻ loi đứng gác ở cửa dinh Thủ tướng. Trông thấy Raymond tới gần, viên sĩ quan dập cái khoen đồng và cánh cửa mở ra cho thành viên mới và vợ của anh.
Raymond và Joyce đứng một cách ngượng nghịu trong đại sảnh tựa hồ họ đang chờ bên ngoài Văn phòng Hiệu trưởng cho tới khi cuối cùng họ được chỉ dẫn lên lầu một. Họ bước chậm lên cầu thang hóa ra lại không lớn bằng Raymond đã dự đoán, đi qua nhiều tấm hình của các vị cựu Thủ tướng.
- Quá nhiều người thuộc đảng Bảo thủ, - Raymond khẽ bảo trong lúc anh đi qua Chamberlain, Churchill, Eden, Macmillan và Home, với chỉ Attlee
[[xii]]
có đóng khung.
Ở đầu cầu thang là Harold Wilson thấp lùn, miệng ngậm ống điếu, đang chờ để chào đón khách mời. Raymond định giới thiệu vợ anh thì vị Thủ tướng đã nói:
- Chị vẫn khỏe đấy chứ, Joyce? Tôi hết sức vui mừng chị đã thành đạt.
- Thành đạt à? Tôi đã mong mỏi dịp này suốt cả tuần. Sự thẳng thắn của nàng khiến Raymond hổ thẹn. Anh không để ý thấy rằng điều đó khiến Wilson cười mỉm.
Raymond trò chuyện với Thủ tướng phu nhân về tập thơ mới xuất bản của bà cho đến khi bà quay đi để chào đón người khách kế tiếp. Anh liền bước vào phòng khách và nói chuyện với các Bộ trưởng trong Nội các, các Lãnh đạo Nghiệp đoàn cùng vợ của họ, vẫn luôn luôn để mắt tới Joyce lúc đó dường như đang say sưa trò chuyện với viên Tổng thư ký của Hội đồng Nghiệp đoàn.
Raymond tới gần vị đại sứ Mỹ đang kể Jamie Sinclair, một trong số người mới được thu nhận từ Scotland, anh đã thích thú nhiều như thế nào với Liên hoan Edinbugh mùa hè năm ấy. Raymond ganh tị với Sinclair về thái độ thoải mái dễ hòa đồng vốn là đặc điểm gia đình thượng lưu của anh ta.
Anh chặn lời họ một cách lúng túng:
- Tôi rất muốn đọc thông cáo mới nhất của Johnson về Việt Nam, và tôi phải thú thực rằng việc leo thang…
- Anh ấy đang tra hỏi ông về chuyện gì vậy? – Một giọng nói phía sau anh cất lên.
Raymond quay người lại và nhận thấy vị Thủ tướng bên cạnh anh trong lúc ông Wilson nói tiếp:
- Tôi thấy cần phải cảnh báo với ông Đại sứ rằng Raymond Gould là một trong những nỗ lực sáng chói mà chúng tôi có, và rất có khả năng trích dẫn đúng nguyên văn lời nói ông nhiều năm sau khi ông đã quên những gì ông đã nói.
- Cách đây không lâu người ta thường nói tương tự như thế về ông, - vị đại sứ trả lời.
Vị Thủ tướng mỉm cười, vỗ vai Raymond và tiếp tục đi tới nhóm khách khác.
Raymond day dứt vì sự chiếu cố mà anh tưởng tượng đã nghe được trong giọng nói của vị Thủ tướng, biết quá rõ rằng sự nhút nhát của anh đã dẫn dắt anh phạm phải một sự hớ hênh về mặt giao tiếp. Như trong quá khứ, nỗi nhục nhã của anh biến đổi một cách nhanh chóng thành nỗi tức giận chính mình. Anh biết rằng lời nói của vị Thủ tướng đã chứa đựng một sự khâm phục chân thật nào đó, bởi vì nếu Raymond đã đạt được bất kỳ danh tiếng nào trong sáu tuần lễ đầu tiên của anh ở Nghị viện, thì đó là với tư cách của các nhà trí thức trong đảng Lao động. Nhưng anh vẫn cảm thấy nỗi lo sợ quen thuộc rằng cuối cùng anh sẽ không đủ sức chuyển biến sự sắc bén tinh thần của anh thành xu hướng chính trị. Trong khi một số người cùng thời với anh trong đám Nghị viên mới, những người như Simon Kerslake, đã đọc nhiều bài diễn văn đầu tiên khiến cho những người kỳ cựu trong Nghị viện phải ngồi thẳng lên và ghi chép, thì những nỗ lực đầu tiên của Raymond đã không được tiếp nhận một cách sốt sắng: đọc một cách nhút nhát từ một bài đã soạn sẵn, anh đã không thể khiến cho Nghị viện lắng nghe từng từ một.
Đứng yên tại chỗ, với cảm giác mặt đỏ rần như thường lệ, Raymond quyết tâm giữ bình tĩnh. Sự nghiệp của anh, anh tự trấn an không biết bao nhiêu lần, sẽ chỉ phải theo một lối đi khác biệt. Anh đã bắt đầu làm việc cho mục tiêu đó, và nếu anh có thể thành công, sẽ có rất ít thành viên khác không chú ý hoặc thách thức anh.
Cảm thấy an tâm, Raymond tiếp tục đi để được giới thiệu với nhiều người mà anh chỉ đọc qua các báo trong thời gian qua. Anh ngạc nhiên nhận thấy họ đối xử với anh như một người ngang hàng. Lúc cuối buổi tối, sau khi họ đã ở lại một thời gian mà sau đó Raymond nói với Joyce là hơi quá lâu, anh lái xe đưa vợ trở về nhà ở đường Landsdowne.
Trên đường về nhà anh nói chuyện không ngừng về tất cả những người anh đã gặp, những gì anh suy nghĩ về họ, mô tả công việc của họ, cho nàng biết những ấn tượng của anh, hầu như tựa hồ nàng đã không có mặt tại đó.
Họ đã ít trông thấy nhau trong sáu tuần lễ đầu tiên của Simon Kerslake ở Nghị viện, khiến cho đêm hôm nay lại càng thêm đặc biệt. Đảng Lao động có thể đã trở lại nắm chính quền sau mười ba năm, nhưng chỉ hơn được bốn ghế, điều đó chứng tỏ Simon không sao lên giường trước mười hai giờ khuya. Anh đã không thể cảm thấy giảm bớt sức ép cho đến khi một Đảng đạt được một bộ máy thích hợp có hoạt động hữu hiệu, và điều đó sẽ không xảy ra cho đến khi có một cuộc Tổng tuyển cử khác. Nhưng vấn đề Simon sợ hơn hết; sau khi đã thắng sát nút trong đơn vị bầu của anh, là một cuộc bầu cử như thế sẽ làm anh mất ghế; và như thế anh có thể kết thúc một trong những sự nghiệp chính trị ngắn nhất đã được ghi nhận.
Chính vì vậy mà Lavinia hết sức tốt đẹp đối với anh. Anh thích thú được làm bạn với cô gái có dáng người cao và thướt tha, và anh vô cùng tức giận vì những chuyện ngồi lê; đôi mách mà anh biết rất rõ chung quanh mối quan hệ của họ.
Quả thực, sự nghiệp chính trị của anh đã bắt đầu một cách khá chậm trước khi anh gặp Lavinia Maxwell-Herrington. Sau khi rời khỏi Oxford, suốt hai năm thi hành nghĩ vụ quân sự ở Sussex Light, anh vẫn không bao giờ bỏ qua mục tiêu của mình. Khi anh tìm được một chỗ làm ở đài BBC với tư cách một thực tập viên tổng quát, năng lực thiên bẩm của anh tỏa sáng trong các cuộc phỏng vấn bảo đảm cho công việc của anh, nhưng anh tận dụng mỗi lúc rảnh rỗi để thúc đẩy những tham vọng chính trị: anh đã nhanh chóng gia nhập nhiều tổ chức của đảng Bảo thủ, viết các tập sách chuyên đề và phát biểu trong những hội nghị cuối tuần. Tuy nhiên, anh vẫn không hề được nghiêm túc xem là một ứng cử viên tương lai cho đến năm 1959, khi trong cuộc Tổng tuyển cử, công việc cật lực của anh đã giúp anh có được chức vị phụ tá riêng của chủ tịch Đảng.
Trong chiến dịch này anh đã gặp Lavinia Maxwell-Harrington tại một buổi dạ tiệc được tổ chức ở Tòa thị chính Harrington để tỏ lòng tôn kính với vị chủ tịch của anh. Cha của Lavinia, Sir Rufus Maxwell-Harrinton, “trước đây trong quá khứ mơ hồ xa xôi”, theo lời Lavinia mô tả, cũng đã từng chủ tịch của đảng Bảo thủ.
Khi những người Bảo thủ trở lại nắm chính quyền, Simon trở thành một khách mời thường xuyên ở Tòa thị chính Harrington. Vào thời gian cuộc bầu cử năm 1964 được tổ chức, Sir Rufus đã chấp nhận Simon là Hội viên của Carlton – câu lạc bộ dành riêng cho đảng bảo thủ ở St.Jame – và nhiều lời đồn đại về một cuộc đính hôn sắp xảy ra giữa Simon và Lavinia được ám chỉ một cách đều đặn trong mục tin đồn của báo chí London.
Vào mùa hè năm 1964, ảnh hưởng của Sir Rufus đã một lần nữa tỏ ra có tính cách quyết định, và Simon có được cơ hội bảo vệ đơn vị bầu cử nhỏ Coventry Central. Simon vẫn giữ được ghế cho đảng Bảo thủ trong cuộc Tổng tuyển cử nhờ một số phiếu bầu ít ỏi chín trăm bảy mươi mốt.
Simon đậu chiếc MBG của anh bên ngoài số 3 quảng trường Chelsea và xem đồng hồ tay. Anh nguyền rủa vì lại trễ mấy phút một lần nữa, mặc dầu anh biết Lavinia hết sức thông thạo về các thói quen của những nhà chính trị. Anh vuốt mớ tóc nâu cứ xõa xuống trán, cài nút chiếc áo khóac mới và sửa lại cà vạt cho ngay ngắn. Anh lại nguyền rủa trong lúc anh kéo quả nắm chuông bằng đồng. Anh đã quên ghé lấy bó hoa hồng mà anh đã đặt mua cho Lavinia, mặc dầu anh đã chạy xe qua cửa hàng trên đường đến đây.
Viên quản gia mở cửa và Simon được hướng dẫn tới phòng khách đi gặp Lavinia và Lady Maxwell-Harrington đang thảo luận về buổi khiêu vũ Chelsea sắp đến.
- Ôi, Simon, - Lavinia vừa nói vừa xoay thân hình thon thả về phía anh, - gặp được anh tuyệt quá.
Simon mỉm cười. Anh vẫn còn chưa quen với ngôn ngữ của các cô gái sống giữa quảng trường Sloané Kensington .
- Em hy vọng anh đã xoay xở được để thoát khỏi cái nơi khủng khiếp đó trong phần còn lại của buổi tối, - nàng nói.
- Nhất định, - Simon thấy mình đang nói, - và anh còn thoát khỏi một bàn ăn ở Caprice.
- Ôi, vui quá, - Lavinia nói. – Và họ có trông chờ anh trở lại và bỏ phiếu cho một đạo luật ngớ ngẩn nào đó vào lúc mười giờ?
- Không, anh là của em suốt đêm, - Simon nói, hối tiếc ngay sau khi vừa thốt ra những từ đó.
Anh chợt bắt gặp vẻ lãnh đạm trên gương mặt của Lady Maxwell-Harrington và nguyền rủa một lần thứ ba.
3
Charles Hampton lái chiếc Daimler của anh từ Hạ nghị viện đến ngân hàng của cha anh trong thành phố, anh vẫn còn nghĩ về đường Threadneedle của dòng họ Hampton như là ngân hàng của cha anh mặc dầu trong hai thế hệ gia đình chỉ là người có cổ phần thiểu số, với bản thân Charles với bản thân Charles làm chủ vỏn vẹn hai phần trăm phần hùn. Tuy nhiên, trong lúc ông anh Rupert của anh không tỏ ra ham muốn đại diện cho lợi ích gia đình, thì hai phần trăm đó đảm bảo cho Charles một chỗ trong Hội đồng Quản trị và một số thu nhập đủ để bảo hiểm rằng tiền lương nghị viên ít ỏi của anh gồm 1750 bảng mỗi năm đã được bổ sung một cách đầy đủ.
Kể từ ngày đầu tiên Charles có chân trong Hội đồng Quản trị của ngân hàng Hampton, anh đã không một chút nghi ngờ rằng vị tân chủ tịch, Derek Spencer, xem anh là một đối thủ nguy hiểm. Spencer đã vận động để cho Rupert thay thế cha anh khi ông nghỉ hưu, và chỉ vì sự khăng khăng của Charles đã khiến cho Spencer không thể chuyển vị bá tước già ra khỏi luồng tư tưởng của ông ta.
Khi Charles tiếp tục thắng được một ghế ở Nghị viện, Spencer lập tức đưa ra vấn đề trách nhiệm nặng nề của anh ở Nghị viện sẽ ngăn cản anh thi hành phận sự hàng ngày trong Hội động Quản trị. Tuy nhiên, Charles có thể thuyết phục đa số các giám đốc thân thiết về những lợi ích khi có một người nào đó thuộc Hội động Quản trị tại Westminster
[[xiii]]
, mặc dầu luật lệ quy định rằng việc làm riêng tư của anh phải ngừng lại nếu anh được mời làm một vị Bộ trưởng của Quốc vương.
Charles bỏ chiếc Daimler trong ngân hàng Hampton. Anh vẫn thấy tức cười khi nghĩ đến chuyện chỗ đậu xe của anh có giá trị gấp hai mươi lần chiếc xe. Khu vực phía trước của ngân hàng Hampton là một di tích của thời ông cố anh. Vị bá tước thứ mười hai của Bridgewater đã đòi hỏi một cửa vào rộng đủ cho chiếc xe tứ mã của ông cụ quay trọn một vòng. Phương tiện vận chuyển này đã biến mất từ lâu, để được thay thế bởi mười hai chỗ đậu xe cho các giám đốc ngân hàng
Hampton Derek Spencer
, mặc dù có tất cả ưu điểm của trường Trung học chuyên ban văn chương, đã không hề gợi ý khu đất nên được sử dụng cho bất kỳ mục đích nào khác.
Cô gái ngồi ở bàn tiếp tân bất thân ngừng đánh móng tay vừa kịp: “Chào ông Charles” trong lúc anh đi xuyên qua cửa xoay và mất hút vào một thang máy đang chờ sẵn. Mấy giây sau Charles ngồi vào phía sau một cái bàn trong văn phòng nhỏ lót ván gỗ sồi. Anh bấm một nút trên hệ thống liên lạc và cho viên thư ký hay rằng anh không muốn bị quấy rầy trong một tiếng đồng hồ kế tiếp.
Mười thành viên đảng Bảo thủ trong Nghị viện phỏng đoán rằng sau khi thất bại của ông trong cuộc bầu cử, Sir Alex Douglas – Home sẽ xuống một bước làm lãnh tụ phe Đối lập. Giờ đây, vào mùa xuân năm 1965, Charles biết anh phải quyết định bám theo đuôi áo ai. Trong lúc anh vẫn ở trong phe Đối lập, hy vọng duy nhất của anh là được giao một chức vụ nhỏ trong đảng Đối lập, nhưng như thế có thể hóa ra là bàn đạp để trở thành một vị Bộ trưởng trong Chính phủ nếu đảng Bảo thủ thắng cuộc bầu cử kế tiếp. Anh đối đầu với sự thử thách lớn đầu tiên trong sự nghiệp của mình.
Sáu mươi phút sau tập giấy trắng có mười hai cái tên viết trên đó bằng bút chì, nhưng mười cái đã bị gạch ngang. Chỉ còn lại hai tên của Reginald Maudling và Edward Heath
[[xiv]]
.
Charles xé rời tờ giấy có viết chữ và tờ có dấu ấn bên dưới rồi cho cả hai tờ qua máy hủy tài liệu bên cạnh bàn. Anh cố gắng tập trung chú ý vào chương trình nghị sự cho phiên họp hàng tuần của Hội động Quản trị ngân hàng. Chỉ mỗi một mục, mục bảy, dường như hết sức quan trọng. Ngay trước mười một giờ, anh gom góp giấy tờ và đi về phía phòng họp. Hầu hết các bạn đồng sự của anh đều đã ngồi vào chỗ khi Derek Spencer nêu mục số một trong lúc chiếc đồng hồ trong phòng họp báo giờ.
Trong suốt cuộc thảo luận có thể đoán trước sau đó về lãi suất ngân hàng, biến động trong giới kim loại, tín phiếu châu Âu và chính sách khách hàng – đầu tư – tâm trí của Charles cứ lang mang trở lại với cuộc bầu cử ban Lãnh đạo sắp đến và tầm quan trọng về việc ủng hộ người thắng cuộc nếu anh cần phải nhanh chóng được đề bạt từ băng ghế sau cùng.
Lúc họ tới mục bảy trên chương trình nghị sự, Charles đã quyết định. Derek Spencer mở ra một cuộc thảo luận về các số tiền được đề xuất cho Mexico và Balan, và hầu hết những thành viên của Hội đồng Quản trị đều đồng ý với ông ta rằng ngân hàng nên tham dự vào một nơi, chứ đừng nên mạo hiểm vào cả hai nơi.
Tuy nhiên tư tưởng của Charles không hướng vào Mexico City hoặc Warsaw, mà hướng về nơi gần hơn nhiều, và khi vị chủ tịch yêu cầu bỏ phiếu, Charles không có ý kiến gì.
- Mexico hay Ba Lan, Charles? Anh ưu tiên cho nước nào?
- Heath, - anh trả lời.
- Xin lỗi, tôi nghe không rõ, - Derek Spencer nói.
Charles choàng tỉnh lại từ Westminster trở về đường Threadneedle để nhận thấy mọi người quanh bàn phòng họp đang nhìn chằm chằm vào anh. Với dáng điệu của một người đã suy nghĩ kỹ vấn đề, Charles quả quyết nói:
- Mexico. Sự khác biệt lớn giữa hai Quốc gia có thể đánh giá một cách chính xác nhất bởi thái độ trả nợ của họ. Mexico có thể không muốn trả nợ, nhưng Ba lan sẽ không thể trả, như vậy tại sao chúng ta không nên giới hạn những mạo hiểm và hỗ trợ cho Mexico. Nếu xảy ra việc tố tụng tôi thích đối đầu với một kẻ không chịu trả tiền hơn là với một kẻ không thể.
Các thành viên lớn tuổi hơn ở quanh bàn gật đầu tỏ vẻ đồng ý. Anh con trai chính hiệu của Bridgewater đang được xếp vào vị trí trên cùng của Hội đồng Quản trị.
Khi phiên họp kết thúc, Charles cùng các đồng sự dùng bữa trưa trong phòng ăn của các giám đốc. Một căn phòng treo hai bức tranh Hogarth, một bức Brueghel, một bức Goya và một bức Rembrandt
[[xv]]
- đúng là một cách nhắc nhở khác về khả năng chọn người thắng cuộc của ông cố nội anh – có thể giải trí ngay cả người sành ăn phóng túng nhất. Charles không chờ tới khi có một quyết định giữa hai loại phô mai Cheddar và Stilton trong lúc anh muốn trở về Hạ nghị viện để tham dự cuộc chất vấn các Bộ trưởng của các Nghị viện.
Khi đến Hạ nghị viện anh đi tới ngay phòng hút thuốc, từ lâu được đảng Bảo thủ xem là khu vực dành riêng cho họ. Nơi đó, ngồi trong những chiếc ghế bành da thật sâu và trong bầu không khí nồng nặc mùi xì gà cuộc trò chuyện hoàn toàn thích hợp đối với ai sẽ là người kế vị Sir Alec Home.
Sau đó trong buổi chiều hôm ấy Charles trở về hội trường Hạ nghị viện. Anh muốn quan sát Heath và những thành viên lãnh đạo đảng Đối lập của ông xử lý những sửa đổi của phe Chính phủ từng điểm một. Heath đứng lên đối diện với vị Thủ tướng, tập giấy ghi chú trên bục phía trước ông.
Charles dự định rời hội trường khi Raymond Gould đứng lên để nêu một điểm sửa đổi từ hàng ghế sau cùng. Charles vẫn ngồi yên tại chỗ. Anh phải lắng nghe với sự khâm phục đầy bực tức trong lúc sự nắm bắt sức mạnh trí tuệ qua lời tranh luận của Raymond bù đắp một cách dễ dàng nghệ thuật hùng biện không mấy xuất sắc của anh ta. Mặc dầu Gould được nghỉ nhiều hơn số người mới được thu nhận vào ghế dân biểu của đảng Lao động, anh ta không làm cho Charles sợ. Mười hai thế hệ với sự khôn khéo và nhạy bén trong công việc kinh doanh đã giữ nhiều phần to lớn của Leeds trong tay của gia đình Bridgewater mà những người tương tự như Raymond Gould thậm chí không hề hay biết.
Charles dùng bữa tối trong phòng ăn của các thành viên đêm hôm ấy và ngồi cái bàn lớn chính giữa phòng do các Nghị viện đảng Bảo thủ chiếm giữ. Chỉ có một chủ đề trò chuyện, và trong lúc vẫn hai cái tên được nổi bật thì rõ ràng đây là một cuộc chạy đua kèm nhau sát nút.
Khi Charles trở về ngôi nhà ở quảng trường Eaton của anh sau cuộc biểu quyết lúc mười giờ, vợ anh, Fiona, đã quấn kín mít trên giường và đọc quyển “
The Commedians
” của Graham Greene.
- Họ đã để cho anh về sớm hôm nay.
- Không tệ lắm, - Charles nói, và bắt đầu vui vẻ kể cho nàng nghe anh đã trải qua một ngày như thế nào, trước khi chuồn vào phòng tắm.
Charles tưởng anh khôn khéo, nhưng vợ anh, Lady Fiona Hampton, nhũ danh Campbell, con gái duy nhất của Công tước Falkỉk, hoàn toàn khác hẳn. Nàng và Charles đã được lựa chọn cho nhau bởi ông bà nội của họ và không một ai hỏi han hoặc nghi ngờ sự sáng suốt trong việc lựa chọn của họ. Mặc dầu Charles có rất nhiều bạn gái trước khi họ thành hôn, anh vẫn luôn luôn nghĩ anh sẽ trở về với Fiona. Cha của Charles, vị bá tước thứ mười bốn, vẫn luôn luôn nhất quyết rằng giai cấp quý tộc đang trở nên quá lỏng lẻo và đa cảm về tình yêu.
- Đàn bà, - anh tuyên bố, - là để sinh con và đảm bảo một sự tiếp tục của dòng giống đàn ông.
Vị bá tước già thậm chí trở nên tin chắc hơn khi ông được thông báo rằng Rupert tỏ ra ít quan tâm đến phái nữ và hiếm khi bị bắt gặp đi cùng với phụ nữ.
Fiona chắc sẽ không bao giờ công khai gây bất hòa với vị bá tước già và thầm thích thú với ý nghĩ cho ra đời một cậu con trai để thừa kế tước vị bá tước. Nhưng cho dù có nhiệt tình và cố gắng hết sức Charles dường như không thể sinh con nối dõi. Fiona đã được một bác sĩ ở đường Harley cam đoan rằng không có lý do nào khiến nàng không thể mang thai. Vị chuyên gia đã gợi ý rằng có lẽ chồng nàng cần phải đến bệnh viện để kiểm tra. Nàng lắc đầu, biết chắc Charles sẽ gạt bỏ một ý kiến như thế ra ngoài tai, bất kể anh thích có một cậu con trai, thiết tha đến mức nào.
Fiona trải qua phần nhiều thời gian rảnh rỗi của nàng trong đơn vị bầu cử Sussex East để giúp đỡ thêm cho sự nghiệp chính trị của Charles. Nàng đã biết sống với thực tế rằng cuộc hôn nhân của họ không có tính chất lãng mạn và hầu như đành cam chịu những lợi ích khác của hôn nhân. Mặc dầu nhiều người đàn ông thú thật một cách thầm kín và công khai rằng họ nhận thấy dáng dấp thanh lịch của Fiona quả là hấp dẫn, nàng vẫn khước từ mọi sự theo đuổi của họ hoặc giả vờ không nhận thấy.
Lúc Charles từ phòng tắm trở ra trong bộ đồ ngủ bằng lụa xanh, Fiona đã lập xong một kế hoạch, nhưng trước hết nàng cần được trả lời một số vấn đề.
- Anh thích ai hơn?
- Đó sẽ là một chạy đua sát nút, nhưng anh đã mất cả buổi chiều để quan sát những ứng cử viên đứng đắn.
Anh đã đi đến kết luận chưa? – Fiona hỏi.
- Heath và Maudling là những người có nhiều hy vọng trúng cử nhất, mặc dầu thành thật mà nói anh chưa bao giờ trò chuyện với bất cứ một ai trong hai người đó lâu hơn năm phút.
- Trong trường hợp đó chúng ta phải chuyển điều bất lợi thành thuận lợi.
- Em muốn nào gì vậy, em yêu? – Charles hỏi trong lúc anh trèo lên giường bên cạnh vợ.
- Anh hãy nhớ lại chuyện cũ đi. Khi anh là Chủ tịch Câu lạc bộ Pop ở Eaton, anh có thể nhớ tên một người nào trong số sinh viên năm thứ nhất hay không?
- Chắc chắn không, - Charles nói.
- Đúng. Và em sẵn sàng cá rằng cả Heath lẫn Maudlinng đều không thể nhớ tên hai mươi người trong số mới được thu nhận làm Nghị viên đảng Bảo thủ.
- Em định dẫn anh đến đâu, Lady Macbeth?
- Sẽ không có bàn tay quỷ quái nào cần thiết cho vụ thành công rực rõ này. Nhất định anh phải tình nguyện tổ chức thu nhận một đám người mới cho ông ta. Nếu ông ta trở thành lãnh tụ, chắc chắn ông ta nghĩ là nên lựa chọn một hai khuôn mặt mới cho phe mình.
- Em đúng là một người của dòng họ Campbell.
- Được rồi, chúng ta hãy xem xét kỹ lại, - Fiona vừa nói vừa tắt ngọn đèn bên phía nàng.
Charles không xem xét kỹ lại mà chỉ nằm trằn trọc gần trọn đêm, đầu óc cứ nghĩ tới những gì anh đã nói. Khi Fiona thức dậy sáng hôm sau nàng tiếp tục câu chuyện tựa hồ không hề bị gián đoạn
- Tốt hơn nên giữ nên, - nàng nói tiếp, - trước khi người anh lựa chọn thông báo ông ta sẽ ra ứng cử, yêu cầu ông ta sẽ chạy đua nhân danh các thành viên mới.
-Thông minh, -Charles nói.
- Anh đã quyết định chọn ai?
- Heath, - Charles trả lời không do dự.
- Em sẽ ủng hộ phán đoán chính trị của anh, - Fiona nói, - Anh chỉ việc tin em khi cần tới sách lược. Trước hết, chúng ta soạn thảo một bức thư.
Trong bộ đồ ngủ, trên sàn nhà ở cuối giường, hai con người thanh lịch thảo đi thảo lại một bức thư ngắn cho Edward Heath. Cuối cùng bức thư được soạn thảo xong lúc chín giờ rưỡi và được chuyển bằng tay đến phòng ông ta ở khách sạn Albany.
Sáng hôm sau Charles được mời đến căn hộ nhỏ dành riêng cho người độc thân uống cà phê. Họ nói chuyện trong hơn một tiếng đồng hồ và thoả thuận đã đạt được.
Charles nghĩ Sir Alec đã thông báo từ chức của ông vào cuối mùa hè, như vậy sẽ giúp anh có tám tới mười tuần để tiến hành chiến dịch. Fiona đánh máy một danh sách tất cả các thành viên mới và trong suốt tám tuần lễ kế tiếp từng người trong số đó được mời đến ngôi nhà của họ ở quảng trường Eaton để uống rượu. Fiona đủ tinh tế để hiểu rằng các thành viên của Hạ nghị viện đông nhờ nhiều khách mời khác, thường là từ Thượng nghị viện. Heath sắp xếp để thoát khỏi công việc ở Nghị viện về Đạo luật Tài chính và bỏ ra tối thiểu một giờ mỗi tuần cùng với gia đình Hampton. Trong lúc ngày từ chức của Sir Alec Home đến gần hơn, Charles vẫn tin tưởng rằng anh đã tiến hành kế hoạch của mình theo một cách tế nhị và kín đáo. Chắc chắn anh sẽ sẵn lòng đánh cuộc rằng không một ai khác hơn Edward Heath có ý nghĩ anh đã dính líu sâu đến mức nào.
Chỉ một người đàn ông tham dự buổi nói chuyện thứ hai của Fiona trông thấy chính xác chuyện đang xảy ra. Trong lúc phần lớn các khách mời sử dụng thời gian của họ vào việc say mê ngắm bộ sưu tập mỹ thuật của gia đình Hampton, Simon Kerslake vẫn để mắt canh chừng hai vợ chồng chủ nhà. Kerslake không tin chắc Edward Heath sẽ thắng trong cuộc bầu cử sắp tới để làm lãnh tụ phe Đối lập và cảm thấy tin tưởng rằng Reginald Maudling tất nhiên sẽ được đảng chọn. Xét cho cùng Maudling chính là Bộ trưởng Ngoại giao thuộc đảng Đối lập, một nguyên Hiệu trưởng danh dự của trường Đại học và có thâm niên công vụ cao hơn Heath rất nhiều. Quan trọng hơn nữa, ông là một người đàn ông có gia đình. Simon không tin đảng Bảo thủ sẽ chọn một người độc thân để lãnh đạo họ.
Ngay sau khi Kerslake rời khỏi nhà Hampton anh nhảy vào một chiếc taxi và trở về ngay Hạ nghị viện. Anh nhận thấy Reginald Maudling trong phòng ăn của thành viên. Anh đợi cho tới khi Maudling đã ăn xong mới hỏi họ có thể nói chuyện riêng với nhau một lát hay không.
Maudling là một người cao lớn, có bước chân kéo lê trên mặt đất. Ông hoàn toàn không biết tên của thành viên mới. Cho dù ông có trông thấy anh lang thang quanh toà nhà, chắc là ông đã phỏng đoán rằng, với dáng dấp như thế, anh chỉ là một xướng ngôn viên của đài truyền hình đang tường thuật tại chỗ cuộc tranh giành chức Chủ tịch. Ông mời Simon đi theo ông vào văn phòng để uống một ly.
Maudling vẫn thường hết sức chú ý lắng nghe tất cả những gì chàng thanh niên đầy nhiệt tình phải nói và chấp nhận ý kiến của thành viên mới biết rành rẽ mà không cần hỏi han. Theo thoả thuận Simon phải cố gắng chống lại chiến dịch của Hampton và báo cáo lại kết quả hai lần mỗi tuần.
Trong lúc Hampton có thể kêu gọi tất cả năng lực và ảnh hưởng của việc xuất thân từ Eaton, thì Kerslake cân nhắc những điều thuận lợi và bất lợi của cuộc tranh tài theo một cách sẽ gây ấn tượng cho một người tốt nghiệp đại học Harward ngành Kinh doanh. Anh không làm chủ một ngôi nhà nguy nga ở quảng trường Eaton trong đó Turners và Hollbeins được nhận thấy trên các bức tường chứ không phải trong những cuốn sách. Anh cũng thiếu một bà vợ đầy hấp dẫn thuộc giới thượng lưu, - mặc dầu anh hy vọng chẳng bao lâu sẽ không còn như thế. Anh không có bao nhiêu tiền, nhưng anh đã xoay sở được khá đủ trong thời gian làm việc ở đài BBC để chuyển từ căn hộ nhỏ xíu ở sân của Bá tước đến một ngôi nhà nhỏ ở góc đường Beaufort tại Chelsea. Giờ đây Lavinia ở nhà ban đêm nhiều hơn, nhưng anh vẫn không thể thuyết phục nàng cư trú ở đó một cách thường xuyên.
- Anh không có đủ chỗ chứa giày của em, - nàng đã có lần nói với anh.
Điều đó vẫn không ngăn cản Simon thích thú khi có nàng ở gần và biết rõ nàng có khiếu chính trị. Sau bữa ăn tối anh đã gặp Maudling nàng yêu cầu được biết.
- Nhưng tại sao anh ủng hộ Reggie Maudling?
- Reggie có kinh nghiệm nhiều hơn hẳn Heath và trong bất kỳ trường hợp nào ông ấy quan tâm đến những người chung quanh ông nhiều hơn.
- Nhưng ba nói Heath có kỹ năng chuyên môn hơn rất nhiều, - Lavinia nói.
- Rất có thể như thế, nhưng người Anh vẫn luôn luôn thích những ngón tay nghiệp dư điều hành chính phủ của mình, - Simon nói và thầm nghĩ không có thí dụ nào hay hơn cha của nàng.
- Nếu anh thực sự tin chuyện nghiệp dư đó, tại sao anh lại dấn thân vào?
Simon xem xét câu hỏi một hồi lâu trước khi hớp một ngụm rượu vang và trả lời.
- Bởi vì, thành thực mà nói, anh không phải xuất thân từ hạng người tự động điều khiển trung tâm sân khấu của đảng Bảo thủ.
- Đúng, - Lavinia vừa nói vừa cười – Nhưng em…
Simon trải qua những ngày kế tiếp cố gắng khai thác tận cùng những người chắc chắn ủng hộ Maudling và Heath, mặc dù nhiều thành viên khai là ủng hộ cả hai ứng cử viên, tuỳ theo ai là người hỏi họ. Những người đó anh liệt vào danh sách không rõ rệt. Khi Enock Powell ném cái mũ lên giá, Simon không thể tìm thấy một thành viên mới nào khác hơn Alec Pimkin là người công khai ủng hộ anh.
Simon không hề cố gắng tác động đến số phiếu của Pimkin. Dáng người mập lùn đó đi lạch bạch giữa quầy rượu của các thành viên và phòng ăn phù hợp hơn là trong hội trường và thư viện. anh ta chắc chắn đã xem Simon “vượt quá địa vị của mình”. Cho dù anh ta đã không bỏ phiếu cho Powell, mọi người đều biết rằng anh ta hơi nể sợ người bạn học cũ Charles Hampton, và Simon đứng vào hàng thứ ba. Như thế là bỏ lại bốn mươi thành viên thuộc nhóm mới được thu nhận tạm thời vẫn còn phải được theo dõi. Simon ước tính cứ bốn mươi người thì mười hai chắc chắn bỏ phiếu cho Heath, mười một cho Maudling và một cho Powell, còn mười sáu chưa quyết định. Trong lúc ngày bầu cử tới gần rõ ràng chỉ có một ít trong số mười sáu người đó cuối cùng đã biết ứng cử viên nào tốt, còn hầu hết vẫn còn chưa chắc chắn họ sẽ bỏ phiếu cho ai.
Bởi vì Simon không thể mời tất cả đến căn nhà nhỏ của anh ở góc đường Beaufort, anh phải đến gặp họ. Trong sáu tuần lễ cuối cùng của cuộc chạy đua anh tháp tùng vị lãnh tụ anh đã lựa chọn đến hai mươi ba đơn vị bầu cử của các thành viên, từ Bodmin đến Glasgow, từ Penrith đến Great Yarmouth, thông báo cho Maudling một cách kỹ càng trước mọi cuộc mít tinh.
Dần dần ai cũng thấy rõ rằng Charles Champton và Simon Kerslake là đại diện được lựa chọn trong số đảng viên Bảo thủ mới được thu nhận tạm thời. Một số thành viên phẫn nộ về những chuyện kín được rỉ tai nhau trong các buổi tiệc đứng ở quảng tường Eaton, hoặc về sự khám phá ra rằng Simon Kerslake đã viếng thăm các đơn vị bầu cử của họ, trong lúc những người khác chỉ ganh tỵ đối với phần thưởng dồn dập của kẻ chiến thắng.
Ngày 22 tháng 7 năm 1965, Sir Alec Douglas – Home chính thức thông báo từ chức với uỷ ban 1922, gồm tất cả các nghị viện đảng Bảo thủ.
Ngày được lựa chọn cho cuộc bầu cử chức Lãnh tụ chỉ còn năm hôm nữa. Charles và Simon bắt đầu tránh mặt nhau, và Fiona khởi sự đề cập đến Kerslake, đầu tiên trong chỗ riêng tư, rồi giữa nơi công khai, như là “một con người tự lập huênh hoang”. Nàng ngừng sử dụng những từ đó khi Alec Pimkin hỏi với vẻ hết sức ngây thơ có phải nàng đang đề cập tới Edward Heath hay không?
Buổi sáng bầu phiếu kín cả Simon và Charles bỏ phiếu sớm và trải qua phần còn lại của ngày hôm ấy bằng cách đi tới đi lui trong các hành lang của Hạ nghị viện cố ước định kết quả. Tới giờ ăn trưa cả hai người bên ngoài tỏ ra hết sức vui mừng nhưng bên trong lại thất vọng.
Lúc hai giờ mười lăm họ ngồi trong căn phòng rộng lớn của uỷ ban để nghe vị Chủ tịch của Uỷ ban 1922 công bố bản thông báo lịch sử.
- Kết quả cuộc bầu cử lãnh tụ đảng Bảo thủ trong Hạ nghị viện là như sau:
Edward Heath: 150 phiếu.
Reginald Maudling: 133 phiếu.
Enoch Powell: 15 phiếu.
Charles và Fiona liền mở một chai King trong lúc Simon dẫn Lavinia đến rạp Oil Vic để xem phim The Royal Hunt of the Sun.
Anh ngủ suốt đoạn trình diễn xuất sắc của Robert Staphens trước khi được Lavinia lái xe đưa về nhà trong im lặng.
- Em phải nói tối nay đi với anh thật là hứng thú, - nàng lên tiếng.
- Anh xin lỗi em, nhưng anh hứa sẽ bù lại trong nay mai, - Simon ngần ngại nói tiếp, - Chúng ta hãy ăn tối ở Anna vào ngày..thứ hai nhé. Chúng ta sẽ biến dịp đó thành một cơ hội đặc biệt.
Lavinia mỉm cười lần đầu tiên trong đêm hôm ấy.
Khi Edward Heath thông báo nhóm Đối lập của ông trong chính phủ, Reggie Maudling được đề cử làm Phó chủ tịch. Charles Hampton nhận được lời mời tham gia nhóm môi trường của phe Đối lập với tư cách phát ngôn viên.
Anh là người đầu tiên trong số mới thu nhận tạm thời nhận được trách nhiệm Nghị viện.
Simon Kerslake nhận đuọc một bức thư viết bằng tay của Reggie Maudling cám ơn anh về những nỗ lực kiên quyết của anh.
4.
Simon phải mất gần một tuần lễ mới hết giận đối với vụ đắc cử của Heath, và lúc bấy giờ anh đã quyết định về một phương hướng hành động rõ ràng cho tương lai. Sau khi cẩn thận kiểm tra văn phòng Tổ chức Nghị viện về chương trình bỏ phiếu ngày thứ hai, vì thấy không có vụ bỏ phiếu nào dự kiến sau sáu giờ, anh đặt một bàn ở nhà hàng Annabel lúc mười giờ. Louis hứa dành cho anh một bàn trong góc phòng khuất sau khỏi sàn nhảy.
Vào sáng thứ hai Simon đọc lướt các bảng hiệu trên đường Bond trước khi ra khỏi tiệm Catier với một cái hộp nhỏ bằng da màu xanh mà anh bỏ trong túi áo vét. Simon quay trở về Hạ nghị viện không sao hoàn toàn tập trung tư tưởng vào những yêu cầu của ngày hôm ấy.
Anh rời Hạ nghị viện sau bảy giờ một chút để trở về đường Beaufort. Về tới nhà anh xem các báo buổi chiều trước khi gội đầu và tắm. Anh cạo râu một lần thứ hai trong ngày, tháo kim ra khỏi một chiếc sơ mi chưa bao giờ lấy ra khỏi bao gói và chuẩn bị một chiếc áo khoác màu sẫm.
Lúc chín giờ anh chuyển cái hộp nhỏ từ túi áo vét sang áo khoác, kiểm tra lại nơ bướm, và khi đi, anh khoá hai lần cửa trước căn nhà nhỏ của anh.
Khi anh tới quảng trường Chelsea sau đó mấy phút anh đậu chiếc MOB của anh bên ngoài ngôi nhà số 4 và một lần nữa viên quản gia thông suốt mọi sự lại dẫn anh qua cổng. Simon có thể nghe giọng nói cao của Lavinia vọng ra từ phòng khách, nhưng không phải cho đến lúc bước vào bên trong anh mới nhận ra nàng đang nói chuyện với cha nàng.
- Chào anh, Simon.
- Chào em, - Simon nói, trước khi hôn nhẹ lên má Lavinia.
Nàng mặc một chiếc áo dài bằng the màu lục để lộ đôi vai trắng như kem.
- Ba nghĩ ông có thể trợ giúp Ted Heath, - đó là lời nói mở đầu của Lavinia.
- Em muốn nói gì vậy? – Simon hỏi với vẻ lúng túng.
- Có lẽ con đã không ủng hộ vị tân lãnh tụ của chúng ta trong cuộc chiến đấu của ông ấy, - Sir Rufus lên tiếng, - nhưng ba đã ủng hộ, và mặc dầu chính ba nói ra điều đó, ba còn có chút ảnh hưởng đối với ông ấy.
Simon nhận trái se-ry ngọt mà Lavinia ném vào tay anh.
- Ba sẽ dùng bữa trưa với ông Heath ngày mai và có lẽ ba nên nói một vài lời thay cho con.
- Con xin cảm ơn ba, - Simon nói, vẫn còn căm ghét trò giả dối dường như quan trọng hơn cả năng lực.
- Không đâu, con. Thành thực mà nói, ba vẫn xem con như con ruột của ba.
Simon mân mê cái hộp nhỏ trong túi áo khoác.
- Ba như thế mà không siêu hay sao? – Lavinia nói.
- Chắc chắn mà, - Simon nói.
- Thế là xong, - Lavinia nói. – vậy thì chúng ta hãy đến tiệm Annabell.
- Phải lắm, -Simon nói. – Anh đã đặt một bàn vào lúc mười giờ, - anh vừa nói tiếp vừa xem đồng hồ tay.
- Chỗ đó tốt không? – Sir Rufus hỏi.
- Tuyệt, ba à, - Lavinia tuyên bố, - một lúc nào đó ba nên thử xem.
- Các câu lạc bộ quỷ quái đó không bao giờ tồn tại lâu. Nếu nó vẫn còn hoạt động một năm sau ba sẽ tìm đến đó.
- Có lẽ một năm sau ba sẽ không ở gần đây, - Lavinia vừa nói vừa cười khúc khích.
Simon cố cười.
- Nếu Lavinia đã nói với tôi như thế cách đây một năm, chắc là tôi đã cho nó một trận đòn.
Lần này Simon gượng cười.
- Đi thôi, Simon, - Lavinia nói, - nếu không mình sẽ trễ mất.
Rồi nàng hôn nhanh lên má cha nàng và nói:
- Chào ba.
Simon bắt tay Sir Rufus hơi trịnh trọng trước khi đi theo Lavinia ra xe.
- Đó không phải là tin tức tuyệt diệu sao? – nàng nói lúc Simon bật công tắc cho máy xe nổ.
- Đúng thế, - Simon vừa nói vừa lái xe vào đường Fulham. – Ba em thật tốt.
Mấy giọt mưa buộc anh phải chạy gạt nước.
- Mẹ nói nhất định anh sẽ được đề cử làm phát ngôn viên của đảng Đối lập.
- Không hy vọng gì đâu, - Simon nói.
- Anh đừng bi quan như thế, - Lavinia nói. – Có gia đình em đứng sau lưng anh thì bất cứ chuyện gì cũng có thể xảy ra.
Simon cảm thấy hơi chán ngán.
- Và mẹ quen biết tất cả những phụ nữ trong Đảng.
Simon có cảm nghĩ điều đó sẽ không còn quá quan trọng nữa khi một người độc thân cầm quyền.
Simon quẹo xe vào quảng trường Belgrave và tiếp tục chạy lên phía Hyde Park Corner.
- Chắc là em đã kể cho anh nghe về Hunt Ball? Chắc chắn tất cả mọi người sẽ có mặt ở đó. Em muốn nói tất cả mọi người.
- Không, em chưa hề kể chuyện đó, - Simon nói.
Anh chưa bao giờ nhìn nhận với Lavinia anh không chịu đựng nổi các Hunt Ball.
Simon chợt trông thấy con mèo chạy ra ngoài ở phía trước xe buýt hai tầng và thắng xe lại đúng lúc.
- Chà, sát quá, - anh nói.
Nhưng một lát sau, Lavinia gào lên. Simon quay sang và trông thấy một dòng máu nhỏ chảy xuống trán nàng.
- Chúa ơi, em chảy máu. Anh hãy đưa em đến một bệnh viện. Nàng nói và bắt đầu khóc nức nở.
Simon liền nhanh chóng lái xe đến bệnh viện St.George ở góc Hyde Park và nhảy ra, bỏ chiếc xe hơi của anh trên một lằn đường đôi màu vàng. Anh chạy nhanh qua phía bên kia xe và đỡ Lavinia ra ngoài, từ tù dẫn nàng tới lối vào phòng cấp cứu. Mặc dầu máu vẫn còn chảy trên mặt Lavinia, vết rách phía trên lông mày của nàng có vẻ không quá sâu theo nhận xét của Simon. Anh cởi áo khoác của anh ra và choàng lên đôi vai trần của nàng, làm mọi điều anh có thể để vỗ về nàng, nhưng nàng vẫn tiếp tục run rẩy.
Chắc hẳn nhờ Simon ăn mặc rất chỉnh tề cho nên cô y tá trực hoạt động nhanh hơn thường lệ. Họ được dẫn thẳng tới một bác sĩ chỉ mấy phút sau khi họ đến.
- Lấm hết cả cái áo đẹp của em rồi, - Lavinia vừa nói vừa khóc tấm tức.
- Vết dơ sẽ được tẩy sạch thôi mà, - vị bác sĩ nói tỉnh bơ.
- Nhưng tôi sẽ bị một vết sẹo suốt đời phải không? – Lavinia hỏi.
Simon quan sát với sự khâm phục không nói ra. Nàng hoàn toàn nắm vững mọi việc chung quanh nàng.
- Nhờ trời, không đâu, - vị bác sĩ trả lời, - đây chỉ là một vết thương phần mềm thậm chí không cần phải khâu. Ba chỉ phải chịu một cơn nhức đầu nhẹ.
Vị bác sĩ làm cho máu bớt chảy trước khi lau sạch vết thương rồi nói tiếp.:
- Sẽ không có một dấu hiệu nào của vết cắt sau hai tuần lễ.
- Bác sĩ chắc chắn chứ? – lavinia hỏi.
Simon không thể rời mắt khỏi nàng.
- Hoàn toàn chắc chắn, - vị bác sĩ nói, và đặt một miếng băng dính nhỏ qua vết thương. – Có lẽ cô nên về nhà và thay áo, đừng đi ăn tối bên ngoài nữa.
- Tất nhiên, bác sĩ Drummond, - Simon nói sau khi xem tên trên phù hiệu nhỏ ở ve áo.- Tôi sẽ cho người chăm sóc cô ấy cẩn thận.
Simon cảm ơn vị bác sĩ rồi đỡ Lavinia lên xe trước khi lái xe đưa nàng trở về quảng trường Chelsea. Lavinia không ngừng rên rỉ suốt trên đường về nhà, và nàng không để ý thấy Simon hầu như không nói chuyện. Lady Maxell- Harrington dẫn con gái bà đi ngủ ngay sau khi Simon kể cho bà nghe mọi việc đã xảy ra.
Khi hai mẹ con đã lên gác, Simon trở lại đường Beaufort. Anh lấy cái hộp nhỏ ra khỏi chiếc áo khoác lấm máu và đặt nó bên cạnh giường. Anh mở hộp và ngắm nghía viên sa phia gắn giữa một vòng kim cương nhỏ. Giờ đây anh biết chắc bàn tay anh muốn trông thấy đeo chiếc nhẫn này.
Sáng hôm sau, Simon gọi điện thoại để được biết Lavinia đã bình phục hoàn toàn, nhưng cha nàng có ý kến tốt hơn nàng nên nằm nghỉ suốt ngày. Simon tán thành và hứa sẽ ghé thăm nàng trong buổi tối.
Khi Simon đến văn phòng của anh ở Hạ nghị viện, anh gọi điện thoại đến bệnh viện St.George, và người ta cho hay bác sĩ Dummond đã hết phiên trực và sau mười hai giờ trưa mới trở lại. Không cần phải có tài nghệ như Sherlock Holmes mới tìm được số điện thoại của Drummond trong cuốn niên giám của London.
- Tôi là Simon Kerslake, - anh nói khi bác sĩ Drummond trả lời điện thoại. – Tôi muốn cảm ơn bác sĩ đã tận tâm chăm sóc cho Lavinia đêm hôm qua.
- Có gì đâu mà thực ra đó là công việc nhỏ nhất trong các vấn đề của đêm hôm qua.
Simon cười khẽ và hỏi:
- Không biết bác sĩ có rảnh để dùng bữa trưa không?
Bác sĩ Drummond có vẻ hơi ngạc nhiên, nhưng nhận lời sau khi Spencer gợi ý tiệm Coq d’Or
[[xvi]]
ở gần bệnh viện. Họ thoả thuận gặp nhau lúc một giờ.
Simon đến sớm vài phút, gọi một ly bia và chờ ở quầy. lúc một giờ năm phút viên quản lý nhà hàng dẫn cô bác sĩ đến cạnh anh.
- Cô thật là tử tế vì đã đến đây khi tôi chỉ mời trong một thời gian ngắn, - Simon nói, sau khi bắt tay.
- Tôi đã không cưỡng lại được. Tôi vẫn thường không nhận lời mời ăn trưa khi tất cả việc tôi đã làm chỉ là lau sạch vết thương.
Simon bật cười và nhận thấy mình đang chăm chú nhìn cô gái xinh đẹp. Anh nhớ lại thái độ ôn hoà ngày hôm trước, nhưng hôm nay nàng bộc lộ một sự nồng nhiệt dễ lây khiến Simon cảm thấy mình khó cưỡng lại được. Viên quản lý nhà hàng dẫn họ tới một bàn ở góc phòng. Một lần nữa Simon chăm chú nhìn người phụ nữ thon thả với mái tóc vàng mà đôi mắt lớn màu nâu đã khiến anh thao thức gần suốt đêm. Anh không thể nào không để ý thấy nhiều người đàn ông ngừng lại ở giữa câu nói để nhìn kỹ hơn khi nàng đi qua mỗi bàn.
- Tôi biết thật là ngớ ngẩn, - anh nói sau khi họ đã ngồi xuống, - nhưng tôi chưa biết tên cô.
- Elizabeth, - nàng mỉm cười nói.
- Tên tôi là Simon.
- Tôi nhớ ra rồi, Elizabeth nói. – Thực ra tôi đã trông thấy anh trên chương trình Panorama tháng trước khi anh trình bày quan điểm của anh về tình trạng của dịch vụ Y tế công cộng quốc gia.
- ồ, - Simon nói với vẻ khá thích thú. – Tôi có nắm vững vấn đề hay không?
- Anh rất xuất sắc, - Elizabeth trả lời.
Simon mỉm cười.
- Chỉ có một chuyên gia mới nhận thức được anh đã không có một ý tưởng mơ hồ nhất về những gì anh đang nói.
Simon chợt ngẩn người ra rồi bật cười to.
Qua một bữa ăn mà Simon không thể nhớ đã gọi món gì, anh được biết rằng Elizabeth đã đi học ở London trước thực tập ở bệnh viện St.Thomas.
- Tôi chỉ tăng cường cho bệnh viện St.George trong tuần này, - nàng giải thích, - trước khi tôi bắt đầu làm trọn thời gian trong phòng Phụ khoa của bệnh viện St.Mary ở Paddington. Nếu cô Maxwell-Harrington đến bệnh viện một tuần sau, chúng ta sẽ không bao giờ gặp nhau. À cô ấy như thế nào rồi?
- Nằm trên giường cả ngày.
- Anh nói đùa ấy à? – Elizabeth nói. – Tôi chỉ cho cô ấy về nhà để thay áo, chứ không phải để nằm chờ hồi phục.
Simon lại bật cười.
- Tôi xin lỗi, có lẽ tôi đã xúc phạm một cô bạn thân của anh.
- Không, Simon nói, - đó là chuyện ngày hôm qua.
Simon trở về quảng trường Chelsea đêm hôm ấy và được biết, trong lúc ngồi ở cuối giường của Lavinia, rằng Sir Rufus đã “chấm” Ted Heath, và Simon có thể tin tưởng rằng sẽ nghe nói về anh trong nay mai. Tuy nhiên điều đó vẫn không khiến anh không kể cho Lavinia thực sự về cuộc gặp gỡ của anh với Elizabeth Drummond, cho dù anh chẳng có cách nào mà biết được tình cảm của Elizabeth, Simon ngạc nhiên trước thái độ bình tĩnh của Lavinia khi nghe cái tin đó. Một lát sau anh ra về để trở lại Hạ nghị viện vừa kịp cho cuộc bỏ phiếu mười giờ.
Trong hành lang viên trưởng ban tổ chức kéo anh qua một bên và hỏi anh có thể gặp ông ta trong văn phòng của ông lúc mười hai giờ sáng hôm sau hay không. Simon đồng ý không do dự. Sau cuộc bỏ phiếu anh thơ thẩn vào văn phòng tổ chức với hi vọng sẽ biết rõ tại sao viên trưởng ban tổ chức muốn gặp anh.
- Chúc mừng, - một nhân viên trong phòng vừa nói vừa nhìn lên từ bàn làm việc của anh ta.
- Về chuyện gì?- Simon lo lắng nói.
- Ồ, chẳng lẽ tôi lại vô ý để lộ bí mật hay sao?
- Tôi không nghĩ thế - Simon nói, - ông trưởng ban tổ chức đã yêu cầu gặp tôi vào mười hai giờ trưa mai.
- Tôi không bao giờ hé môi đâu, - anh ta nói rồi vùi đầu vào đống giấy tờ.
Simon mỉm cười và trở về nhà.
Anh không thể ngủ nhiều đêm hôm ấy hoặc đứng yên trong phần lớn buổi sáng và trở vào văn phòng tổ chức vào lúc mười giờ kém mười. Anh cố không tỏ ra quá băn khoăn.
Bà Noise, người nữ thư ký đứng tuổi của viên trưởng ban tổ chức, đang ngồi đánh máy ngừng lại một chút.
- Chào ông Kerslake. Tôi e rằng ông trưởng ban tổ chức phải trễ hẹn vì bận họp với ông Heath.
- Tôi rất hiểu – Simon nói, - Tôi phải chờ hay là ông ấy đã thu xếp một cuộc hẹn khác?
- Thôi, - bà Norse nói, tỏ vẻ hơi ngạc nhiên, rồi tiếp – Khỏi cần. Ông ấy chỉ nói rằng việc ông ấy muốn gặp ông không còn quan trọng nữa và ông ấy xin lỗi đã làm mất thời giờ của ông.
Simon quay đi, nhận thức được ngay tức khắc chuyện gì đã xảy đến. Anh liền đi thẳng đến phòng điện thoại công cộng gần nhất và quay năm con số của số điện thoại nhà Lavinia, rồi đột nhiên gác máy. Anh chờ một lúc trước khi quay bảy con số.
- Bác sĩ Drummond đây, - nàng nói với giọng quả quyết.
- Elizabeth, Simon Kerslake đây. Cô có rảnh để đi ăn tối?
- Tại sao vậy? Có phải Lavinia cần thay băng keo?
- Không, Simon nói – Lavinia đã chết…hơi sớm một chút.
Elizabeth cười khúc khích.
- Tôi hi vọng cô ấy không truyền nhiễm – nàng nói rồi tiếp. – Tôi e sẽ không thể đi trước mười một giờ rưỡi.
- Tôi cũng vậy, - Simon nói. Thế thì tôi có thể đón cô ở bệnh viện.
- Giọng anh nghe có vẻ hơi chán nản.
- Không phải chán nản..mà già hơn, - Simon nói.
- Tôi đã trưởng thành thêm khoảng hai chục năm trong hai ngày vừa qua.
Mặc dầu anh không khá hơn một thông tín viên được ca ngợi, Charles Hampton thích thú với cuộc thách thức của vị trí mới với tư cách một phát ngôn viên đảng Đối lập trong ban Môi trường. Tối thiểu anh cảm thấy mình đang ở gần trung tâm của công việc. Cho dù thậm chí anh không thể tự quyết định về chính sách tương lai, ít ra anh cũng được nghe nói về vấn đề đó. Bất cứ khi nào một cuộc tranh luận về nhà ở diễn ra trong Hạ nghị viện, anh được quyền ngồi ở hàng ghế đầu cùng với phần còn lại của phe Bảo thủ. Anh đã từng gây ra sự thất bại cho hai sửa đổi nhỏ về Đạo luật Quy hoạch Thành phố và Quốc gia, và đã thêm vào một sửa đổi của chính anh liên quan tới việc bảo vệ cây cối. “Điều đó không ngăn chặn được một cuộc chiến tranh thế giới”, anh thừa nhận với Fiona, “nhưng trong chừng mực của chính nó thì vô cùng quan trọng, bởi vì nếu chúng ta thắng trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới, lúc này anh tin chắc sẽ được đề bạt một chức vụ quèn. Lúc bấy giờ anh sẽ có một cơ hội thực sự để hình thành một chính sách.
Fiona tiếp tục đóng vai của nàng, tổ chức các buổi tiệc thân mật tại ngôi nhà của họ ở quảng trường Eaton. Vào khoảng cuối năm thì mọi thành viên trong Nội các của các đảng Đối lập đều đã được mời dự tiệc tối thiểu một lần ở nhà vợ chồng Hampton, tại đây Fiona không bao giờ cho phép một thực đơn được lặp lại hoặc mặc cùng một chiếc áo hai lần.
Khi Nghị viện bắt đầu một năm mới vào tháng Mười, Charles là một trong những cái tên liên tục được đề cập bởi các nhà phân tích chính trị như một người nên theo dõi. “Ông ấy giúp cho mọi việc xảy ra suôn sẻ”, đó là tình cảm được nhắc đi nhắc lại. Anh ít khi có thể gặp các nhà vận động chính trị mà không có một phóng viên cố xin ý kiến về mọi vấn đề từ trợ cấp giá bỏ cho đến chuyện hiếp dâm. Fiona cắt từ các báo mọi bài viết về chồng nàng và không thể không để ý thấy chỉ có một thành viên mới được báo chí nhắc nhở nhiều hơn Charles – một người đàn ông còn trẻ ở Leeds tên Raymond Gould.
Người ta có thể bắt gặp Raymond Gould liên tục đánh máy thật khuya trên chiếc máy chữ cũ kỹ của anh với điện thoại bỏ ra khỏi ghế. Anh đang viết hết trang này sang trang khác, kiểm tra rồi lại kiểm tra các bằng chứng, và thường tra cứu các chồng sách bề bộn trên bàn.
Khi cuốn “
Đủ việc làm bằng mọi giá?
” Của Raymond Gould được xuất bản với tựa đề phụ “
Ý kiến của một công nhân có học thức sau thập niên ba mươi
”, nó đã gây nên một chuyện giật gân tức cười. Ý kiến các nghiệp đoàn sẽ trở nên bất lực và đảng Lao động sẽ cần phải cách tân hơn để chiếm được số phiếu của giới trẻ hầu như chưa bao giờ làm cho các cấp trong Đảng quý mến anh. Raymond đã đoán trước rằng cuốn sách đó sẽ gây ra một trận chửi rủa từ các Nhà lãnh tụ nghiệp đoàn, và ngay cả một số đồng nghiệp cánh tả của anh. Nhưng khi A.J.P Tay lor có ý kiến trong tờ
London Thời báo
rằng đó là cái nhìn sâu sắc và thực tế nhất vào đảng Lao động kể từ cuốn
Tương lai của chủ nghĩa xã hội
của Anthony Crossland, và đã tạo nên một chính trị gia ít khi trung thực và can đảm, Raymond biết chiến lược và công việc cực nhọc của anh đang có lợi. Anh tự tìm ra một chủ đề nói chuyện thường xuyên trong mọi buổi tiệc chính trị ở London.
Joyce nghĩ cuốn sách là một tác phẩm uyên bác tuyệt diệu, và nàng đã bỏ ra một thời gian đáng kể cố gắng thuyết phục các nhà Nghiệp đoàn rằng, thực ra, cuốn sách đã bày tỏ một mối quan tâm nồng nhiệt đối với hoạt động của họ, trong lúc đồng thời xem xét một cách thực tết các cơ may cầm quyền của Đảng Lao động trong thập niên sắp tới.
Viên trưởng ban Tổ chức đảng Lao động kéo Raymond qua một bên và nói:
- Anh đã gây ra một sự náo động thực sự, anh bạn. Bây giờ, anh nên cúi đầu xuống trong ít tháng và chắc là anh sẽ thấy mọi thành viên trong Nội các nói đến anh tựa hồ đó là chính sách của Đảng.
Raymond nghe lời khuyên của viên Trưởng ban Tổ chức, nhưng anh không phải đợi nhiều tháng. Chỉ ba tuần sau khi cuốn sách được xuất bản Raymond nhận được một công văn của Số 10 yêu cầu anh xem lại bài diễn văn của Thủ tướng trong Hội nghị Nghiệp đoàn và cho thêm ý kiến nếu có thể. Raymond đọc công văn một lần nữa, vui mừng vì sự công nhận do nó mang lại.
Anh bắt đầu hy vọng rất có thể anh sẽ là người đầu tiên trong số Nghị viên mới được mời vào ghế lãnh đạo của phe chính phủ.
Simon Kerslake xem xét sự thất bại của Maudling và việc chính anh đã không được đề bạt một chỗ trong văn phòng Tổ chức chỉ là trở ngại tạm thời. Chẳng bao lâu sau anh bắt đầu làm việc theo một chiến lược mới để chiếm được sự tôn trọng của các bạn đồng sự. Nhận thấy cứ hai lần mỗi tuần lại có một người nào đó với tài hùng biện khiến cho mọi người khác phải để ý trong mười lăm phút anh liền dùng tất cả sự khôn khéo của anh để tấn công các Nghị viên phe chính phủ. Vào lúc bắt đầu một phiên họp mỗi tuần anh sẽ nghiên cứu cẩn thận chương trình nghị sự và đặc biệt nhất là năm câu hỏi đầu tiên được liệt kê cho Thủ tướng trong các ngày thứ ba và thứ năm.
Các câu hỏi phụ chỉ cần đến để kết hợp một cách hết sức lỏng lẻo với chủ đề của câu hỏi chính. Điều này có nghĩa là mặc dầu các Bộ trưởng đã chuẩn bị cho câu hỏi đầu tiên, họ không bao giờ có thể biết chắc những câu hỏi phụ nào sẽ bất ngờ được đặt ra cho họ. Vì vậy, mỗi buổi sáng thứ hai Simon sẽ chuẩn bị một câu hỏi phụ cho tối thiểu ba câu hỏi đầu tiên. Anh diễn đạt bằng lời các câu hỏi đó nhiều lần để cho chúng có tác động hoặc dí dỏm hoặc luôn luôn có thể gây bối rối cho Chính phủ của đảng Lao động. Mặc dầu việc chuẩn bị có thể mất nhiều tiếng đồng hồ, Simon sẽ làm cho những câu hỏi đó có vẻ như thể chúng được ghi nhanh lên phía sau tờ giấy chương trình nghị sự của anh trong thời gian chất vấn, - và thực ra cũng có thể như thế. Anh còn nhớ lời bình luận của Churchill sau khi được khen ngợi là một lời đối đáp xuất sắc. “Tất cả những nhận xét ứng khẩu hay nhất của tôi đều đã được chuẩn bị mấy ngày trước”.
Tuy nhiên, Simon ngạc nhiên khi Hạ nghị viện nhanh chóng tạm xem anh như là sẽ ở đó để chỉ trích, thăm dò, đòi hỏi, quấy nhiễu từng động tác của Thủ tướng. Cứ mỗi lần anh đứng lên khỏi ghế, đảng của anh lại phấn khởi trông đợi, và có nhiều lời cản trở của anh đã được đưa lên mục chính trị của các Nhật báo ngày hôm sau. Đảng Lao Động đã ý thức một cách sâu sắc về sự góp phần của Kerslake trong thời gian chất vấn.
Thất nghiệp là chủ đề của câu hỏi ngày hôm ấy. Simon đã nhanh chóng đứng lên, nghiêng mình tới phía trước, xỉa một ngón tay về phía hàng ghế lãnh đạo của Chính phủ.
- Với sự bổ nhiệm thêm bốn Bộ trưởng trong tuần này Thủ tướng có thể tối thiểu tự cho là có đủ việc làm… trong Nội các?
Vị thủ tướng ngồi thụt xuống trong ghế, nhìn ra xa về phía trước.
Không có người nào vui mừng hơn Simon khi anh đọc mục Nghị viện trung lập của tờ
Sunday Express
rằng “Thủ tướng Wilson có thể không thích Edward Heath, nhưng ông ghét Simon Kerslake”. Simon mỉm cười hài lòng nhận thấy kết quả thực sự đã đến do những nỗ lực của mình, chứ không phải do những tiếp xúc bên ngoài.
PHẦN HAI
Chức vụ quèn (1966-1972)
5
Hiến pháp nước Anh vẫn còn là một trong những điều bí mật lớn đối với hầu hết những người không sinh ra trên hòn đảo đó ở Biển Bắc, và đối với một số đáng kể những người chưa bao giờ rời khỏi bờ biển đó. Điều này có lẽ một phần bởi vì, không giống như người Mỹ, người Anh đã không có hiến pháp viết thành chữ kể từ Magna Carta
[[xvii]]
năm 1215 và kể từ đó đã hành động chỉ theo tiền lệ.
Một vị Thủ tướng được bầu ra cho một nhiệm kỳ năm năm, nhưng ông ta có thể giải tán Nghị viện và tổ chức Tổng tuyển cử bất kỳ khi nào ông ta nghĩ thích hợp, điều đó hiển nhiên có nghĩa là khi ông ta cho rằng ông có cơ may tốt nhất thắng được một cuộc Tổng tuyển cử. Nếu Chính phủ hiện tại có một đa số lớn trong Hạ nghị viện, toàn bộ cử tri thường nghĩ là nên cho Chính phủ cầm quyền trong tối thiểu bốn trong số năm năm. Trong hoàn cảnh như thế “ra đi sớm” sẽ bị cử tri xem là cơ hội chủ nghĩa và vì lý do đó thường gặp phải thất bại. Nhưng khi đa số của một đảng trong Hạ nghị viện không lớn, như trường hợp Chính phủ đảng Lao động của Harold Wilson, báo chí không bao giờ ngừng suy đoán về ngày bầu cử lần tới.
Phương pháp duy nhất mà phe đối lập dùng để loại bỏ phe Chính phủ trước nhiệm kỳ năm năm là đòi hỏi phải có một cuộc bầu cử “bất tín nhiệm” trong Hạ nghị viện. Nếu phe Chính phủ thất bại, Thủ tướng phải triệu tập một cuộc bỏ phiếu trong vòng mấy tuần, - điều đó rất có thể không có lợi cho ông ta. Theo luật, Nhà vua có quyền quyết định sau cùng, trong hai trăm năm qua các Vị vua và Nữ hoàng của nước Anh chỉ biết gật đầu đồng ý quyết định của Thủ tướng, mặc dầu họ vẫn quen với việc phê phán.
Vào năm 1966 Harold Wilson chỉ còn rất ít khả năng chọn lựa. Đối chiếu với đa số của ông chỉ là bốn, tất cả mọi người biết sẽ không còn bao lâu nữa ông phải triệu tập một cuộc Tổng tuyển cử. Trong tháng Ba năm 1966 ông xin yết kiến với Nữ hoàng và Nữ hoàng đã đồng ý giải tán Nghị viện ngay lập tức. Chiến dịch bầu cử khởi sự từ ngày hôm sau.
- Em sẽ thích thú chuyện này, - Simon nói trong lúc anh bước lên cánh cửa đầu tiên.
Elizabeth vẫn còn lưỡng lự, nhưng không thể có cách gì hay hơn để tìm hiểu xem chính trị của người dân thường là như thế nào. Nàng đã xin nghỉ phép mấy ngày để theo Simon đến Conventry. Nàng chưa hề có ý nghĩ nàng có thể yêu một chính trị gia, nhưng nàng phải nhìn nhận rằng vẻ hấp dẫn thu hút phiếu của anh đang tỏ ra không cưỡng lại được so với thái độ ân cần đối với người bệnh của những bạn đồng nghiệp của nàng.
Simon Kerslake, với một đa số nhỏ bé như thế để chống giữ, bắt đầu dùng thì giờ rãnh rỗi trong đơn vị cử tri Conventry của anh. Dân chúng địa phương dường như hài lòng với việc học nghề của thành viên mới của họ, nhưng các nhà thống kê không vụ lợi cho thấy rõ rằng một sự dịch chuyển thấp hơn 1 phần trăm sẽ đẩy anh ra khỏi Hạ nghị viện trong năm năm nữa. Tới lúc đó những đối thủ của anh sẽ ở trên bậc thang thứ hai.
Viên Trưởng ban tổ chức đảng Bảo thủ khuyên Simon nên ở lại bên trong Conventry và đừng tham gia bất cứ công việc nào khác của Nghị viện.
- Sẽ không có những vấn đề nào quan trọng hơn giữa lúc này và lúc bỏ phiếu, - ông ta đảm bảo với anh. – Điều đáng giá nhất anh có thể làm là thu được nhiều phiếu trong đơn vị cử tri, chứ không phải cho phiếu ở Westminster.
Đối thủ của Simon là thành viên cũ, Alf Abbott, người đã dần dần tin tưởng vào thắng lợi trong lúc khắp nước nghiêng về phía đảng Lao động trong chiến dịch vận động. Đảng Tự do nhỏ hơn đưa ra một ứng cử viên, Nigel Bainbridge, nhưng anh công khai thừa nhận rằng anh ta chỉ có thể đứng hàng thứ ba.
Trong vòng vận động đầu tiên của họ, Elizabeth mặc bộ đồ độc nhất của nàng mà nàng đã mua khi nàng được phỏng vấn cho công việc ở bệnh viện đầu tiên của nàng. Simon say mê ý thức đúng đắn của nàng, và trong lúc bộ đồ của Elizabeth làm hài lòng các mệnh phụ trong đơn vị cử tri, mái tóc vàng và dáng người thon thả của nàng vẫn còn làm cho báo chí địa phương muốn chụp hình nàng.
Danh sách người dân trong khu phố ở trên một tấm thiếp trong túi của Simon.
- Chào bà Foster. Tên tôi là Simon Kerslake. Tôi là ứng cử viên đảng Bảo thủ của bà.
- Ồ, vui mừng được gặp ông. Tôi có rất nhiều điều cần thảo luận với ông.
- Xin mời ông vào nhà và dùng một tách trà?
- Bà tử tế quá, thưa bà Foster, nhưng tôi phải đi rất nhiều nơi trong mấy ngày sắp tới.
Khi cánh cửa đóng lại, Simon gạch một lần đỏ qua tên bà ta trên tấm thiếp của anh.
- Anh làm sao có thể chắc chắn bà ta là một người ủng hộ đảng Lao động? – Elizabeth hỏi. – Bà ta có vẻ hết sức tốt bụng.
- Những người ủng hộ đảng Lao động được huấn luyện mời tất cả ứng cử viên khác vào uống trà và làm mất thời giờ của họ. Phe chúng ta sẽ luôn luôn bảo:” Tôi sẽ bầu cho ông, xin đừng mất thời giờ với tôi và nên tiếp tục tìm đến những người không thật sự gắn bó với ông”.
Elizabeth không thể che dấu vẻ hoài nghi.
- Điều đó chỉ xác nhận những nỗi sợ hãi tồi tệ nhất của em về các chính trị gia, - nàng nói. – Sao em lại yêu một người như thế?
- Có lẽ em đã lầm tưởng anh là một bệnh nhân của em.
- Bệnh nhân của em không kể với em họ đã gãy tay khi họ sắp mù, - nàng nói.
Người láng giềng sát bên cạnh bà Foster nói:
- Tôi luôn luôn bỏ phiếu cho đảng Bảo thủ.
Simon gạch một lằn xanh qua các tên và gõ cửa kế tiếp.
- Tên tôi là Simon Kerslake và tôi …
- Tôi biết anh là ai, anh bạn trẻ, và tôi không tham gia vào trò chính trị của anh.
- Tôi có thể hỏi ông sẽ bỏ phiếu cho ai? – Simon hỏi.
- Đảng Tự do.
- Tại sao? – Elizabeth hỏi.
- Bởi vì tôi tin tưởng vào việc ủng hộ phe yếu.
- Nhưng thế thì lãng phí mất một phiếu bầu.
- Chắc chắn không. Lloyd Grorge
[[xviii]]
là Thủ tướng vĩ đại nhất của thế kỷ này.
- Nhưng… - Elizabeth xen lời với vẻ nhiệt tình.
Simon liền đặt một bàn tay lên cánh tay của nàng.
- Cảm ơn ông đã dành thời giờ cho chúng tôi, - anh nói và khẽ thúc đẩy Elizabeth ra ngoài đường.
- Anh rất lấy làm tiếc, Elizabeth, - Simon nói, khi họ đã ở trên vỉa hè. – Một khi họ nhắc đến cái tên Lloyd Gerorge thì chúng ta không còn cơ may nào: hoặc họ là người dân xứ Wales hoặc họ có trí nhớ hết sức tốt.
Anh gõ cửa kế tiếp.
- Tên tôi là Simon Kerslake và tôi …
- Đi đi, đồ luồn cúi, - câu trả lời quật lại.
- Ông gọi ai là đồ luồn cúi? – Elizabeth trả đũa trong lúc cánh cửa đóng sầm vào mặt họ và nàng nói tiếp – Một con người duyên dáng.
- Xin đừng giận, bác sĩ Drummond. Ông ta ám chỉ tôi, chứ không phải bác sĩ đâu.
- Em phải đánh dấu tên ông ta như thế nào?
- Một dấu hỏi. Không sao biết ông ta bỏ phiếu cho ai. Có lẽ không chịu bỏ cho ai cả.
Anh thử cửa kế tiếp.
- Chào Simon, - một phụ nữ mặt đỏ au nói trước khi anh có thể mở miệng, - Xin đừng mất thời giờ với tôi. Tôi sẽ luôn luôn bỏ phiếu cho anh.
- Cảm ơn bà Irvine, - Simon vừa nói vừa kiểm tra bản danh sách nhòe của anh rồi chỉ tay hỏi – Người bạn láng giềng kề cận của bà như thế nào?
- A, ông ta là một cái bị già nua dễ cáu giận, nhưng tôi nghĩ ông ta sẽ đến được nơi bầu cử đúng ngày và bỏ phiếu đúng thùng. Tuy vậy ông ta cũng không đến nỗi nào, nếu không tôi sẽ ngừng trông nom con chó đua của ông ta mỗi khi ông ta đi vắng.
- Cảm ơn bà rất nhiều, bà Irvine.
- Một vạch xanh nữa, - Simon nói.
- Và anh có thể kiêm cả phiếu của con chó đua.
Họ đi được bốn đường phố trong ba tiếng đồng hồ kế tiếp, và Simon chỉ gạch các lằn xanh qua những cái tên anh chắc chắn sẽ ủng hộ anh vào ngày bầu cử.
- Tại sao anh phải chắc chắn như thế? – Elizabeth hỏi.
- Bởi vì khi chúng ta điện thoại cho họ đi bỏ phiếu vào ngày bầu cử chúng ta không muốn nhắc nhở tới phe đối lập, huống hồ cho một người nào đó đi dạo một vòng để rồi hắn ta khoan khoái bỏ phiếu cho đảng Lao động.
Elizabeth bật cười.
- Chính trị thật hết sức bất lương.
- Em hãy sung sướng vì em không phải đi chơi với một Thượng nghị sĩ Mỹ, - Simon vừa nói vừa gạch một lằn xanh khác qua cái tên cuối cùng trong khu phố. – Tối thiểu chúng ta không cần phải là triệu phú mới chạy đua được.
- Có lẽ em sẽ thích thành hôn với một triệu phú, - Elizabeth mỉm cười nói.
- Với tiền lương của một Nghị viên anh sẽ phải mất hai trăm bốn mươi hai năm mới đạt tới.
- Em không chắc em có thể đợi lâu như thế.
Bốn ngày trước cuộc bầu cử, Simon và Elizabeth đứng trong cánh gà phía sau sân khấu của Tòa Thị chính Conventry với Alf Abbott, Nigel Bainbridge và các bà vợ của họ để tham dự một cuộc thảo luận công khai. Cả ba cặp đều nói chuyện không được tự nhiên. Phóng viên chính trị tờ Conventry Evening Telegraph giữ cương vị chủ tịch, giới thiệu từng nhân vật chính trong lúc họ bước lên sân khấu, để được vỗ tay hoan nghênh từ nhiều khu của gian đại sảnh.
Simon nói trước, lôi cuốn sự quan tâm của khán giả trong hơn hai mươi phút. Những người cố gắng chất vấn anh cuối cùng đều hối tiếc vì đã lôi cuốn sự chú ý cho chính họ. Không hề tham khảo ghi chú một lần nào, anh trích dẫn những con số và điều khoản trong nhiều đạo luật của Chính phủ một cách thoải mái khiến Elizabeth phải khâm phục. Trong các câu hỏi kế tiếp, Simon đã một lần nữa tỏ ra đã có kiến thức hơn hẳn Abbott và Bainbridge, nhưng anh biết rằng gian đại sảnh chật ních chỉ chứa được bảy trăm người trong buổi chiều giá lạnh tháng Ba, trong lúc ở nơi khác trong Conventry còn có năm chục nghìn cử tri nữa, hầu hết trong số họ dán mắt vào máy truyền hình xem chương trình
Ironside
.
6
Ở hầu hết các nước dân chủ, một người lãnh đạo mới được bầu ra sẽ được hưởng một thời gian chuyển giao nhiệm vụ trong thời gian đó ông ta có quyền tuyên bố những chính sách mà ông ta theo đuổi và những người sẽ được chọn ra để thi hành các chính sách ấy. Thế nhưng ở Anh các Thượng nghị sĩ lại ngồi cạnh máy điện thoại ở nhà mình và chờ trong vòng bốn tám tiếng ngay sau khi kết quả của cuộc bầu cử được công bố. Nếu ông ta nhận được một cú điện thoại trong mười hai tiếng thứ nhất, ông ta sẽ được gia nhập Nội các có hai mươi người, trong mười hai tiếng sau, ông ta sẽ được nhận một vị trí của một trong ba mươi chân Bộ trưởng của nhà nước, mười hai tiếng tiếp theo sẽ được cử làm một trong số bốn mươi thư ký của Nhà nước, còn trong vòng mười hai tiếng sau cùng, sẽ trở thành một thư ký Quốc hội của riêng một Bộ trưởng Nội các. Nếu điện thoại không reo có nghĩa là họ sẽ phải tiếp tục ở lại hàng ghế sau.
Raymond từ Leeds trở về vào lúc việc kiểm phiếu vừa kết thúc, để mặc Joyce một mình lái xe đi cảm ơn theo thông lệ trong khu vực bầu cử.
Ngày hôm sau cô không ngồi cạnh điện thoại, thì anh đi vòng vòng quanh nó, lo lắng đẩy cặp kính cận trên mũi. Cú điện thoại đầu tiên là của mẹ anh, bà gọi để chúc mừng con trai.
- Vì cái gì kia chứ? – Anh hỏi – Mẹ đã nghe thấy tin gì rồi à?
- Ồ, không con yêu – bà trả lời – Mẹ chỉ gọi để nói rằng mẹ rất hài lòng thấy số phiếu của con tăng lên nhiều đến vậy.
- Ồ!
- Và mẹ cũng muốn nói thêm rằng bố mẹ rất buồn không được gặp con trước khi con rời khỏi khu vực bầu cử, đặc biệt là khi con phải đi qua ngay trước cửa hàng để ra đường quốc lộ.
Raymond vẫn yên lặng. “Không nữa đâu, mẹ ạ”. Anh muốn nói.
Cú điện thoại thứ hai từ một đồng nghiệp, anh ta muốn hỏi xem Raymond đã được đề bạt vị trí nào chưa.
- Đến bây giờ thì chưa, - anh nói trước khi lắng nghe tin bạn mình được thăng chức.
Cú thứ ba là từ một người bạn của Joyce.
- Khi nào thì cô ấy về? – Một giọng Yorkshire khác cất lên.
- Tôi không biết nữa – Raymond nói, anh gần như tuyệt vọng muốn người ở đầu dây kia thôi ngay.
- Tôi sẽ gọi lại chiều nay vậy.
- Được – Raymond đáp và nhanh chóng đặt ống nghe xuống.
Anh chui vào bếp làm một chiếc bánh mì kẹp với pho mát, nhưng vì không còn chút pho mát nào, anh ăn một chiếc bánh đã ôi với chỗ bơ đã để qua ba tuần. Anh đang ăn dở miếng thứ hai thì điện thoại lại kêu.
- Có Raymond không?
Anh nín thở.
- Noel Brewster đây.
Anh thở ra một cách bực bội khi nhận ra giọng của Cha xứ.
- Anh có thể đọc bài thứ hai vào lần sau anh tới Leeds được không? Thật ra chúng tôi rất mong anh đọc nó vào buổi sáng nay – bà vợ yêu quý của anh…
- Được rồi, - anh hứa. – Ngay ngày nghỉ của tuần đầu tiên tôi quay trở lại Leeds. – Chuông điện thoại lại reo ngay khi anh vừa kịp hạ ống nghe xuống.
- Raymond Gould có phải không? – Giọng một người lại cất lên.
- Vâng, tôi đây – anh đáp.
- Thủ tướng sẽ nói chuyện với anh ngay bây giờ.
Raymond chờ đợi. Cánh cửa phía trước bật mở và một giọng khác cất lên, “Em đây mà. Em không tin là anh tìm được cái gì có thể ăn được. Tội nghiệp anh.” – Joyce bước vào phòng khách.
Không quay sang nhìn vợ, anh đưa tay ra hiệu cho cô giữ im lặng.
- Chào Raymond, - từ đầu kia của đường dây một giọng nói cất lên.
- Xin chào Thủ tướng – anh đáp lại giọng Yorkshire rất rõ của Thủ tướng Harlold Wilson bằng một giọng khá trịnh trọng.
- Tôi đang hy vọng rằng anh có thể tham gia vào đội ngũ mới với chức vị là Thứ trưởng bộ Việc làm?
- Raymond thở phào. Đó chính là điều mà anh đang mong đợi. “Tôi rất vui mừng được lãnh trách nhiệm đó, thưa ông”.
- Tốt, điều này sẽ tạo cho các Nhà lãnh đạo Nghiệp đoàn một số việc để suy nghĩ đây. – Đường dây điện thoại lập tức bị cắt.
Raymond Gould, Thứ trưởng bộ Việc làm ngồi bất động trên bậc thang chức vị mới.
Khi Raymond rời khỏi nhà vào sáng hôm sau, anh được chào đón bởi một lái xe đứng ngay cạnh một chiếc Austin Westminster màu đen bóng lộn. Khác hẳn chiếc Wolkwagen cũ của anh, chiếc xe này lấp lánh dưới ánh mặt trời. Cửa hậu được mở sẵn và Raymond trèo vào trong xe, chờ được đưa tới Bộ. Bên cạnh chiếc ghế sau là một hộp da thuộc màu đỏ to ngang với một chiếc catáp dày với dòng chữ mạ vàng chạy quanh rìa.
“Thứ trưởng bộ Việc làm” Raymond xoay chiếc chìa khóa nhỏ, chợt nghĩ tới việc Alice chắc hẳn sẽ cảm thấy gì khi đang trượt xuống lỗ thỏ đào.
Khi Charles Hampton quay trở lại Hạ nghị viện vào thứ ba, trên bảng để thư của các thành viên có một mảnh giấy từ phòng Tổ chức của Nghị viện dành cho anh. Một trong các thành viên của bộ Môi trường đã đánh mất chỗ của mình trong cuộc Tổng tuyển cử và Charles đã được đề cử lên hàng thứ hai của đảng đối lập trong Bộ này. “Không phải là việc bảo vệ cây cối nữa. Anh sẽ phụ trách các vấn đề quan trọng hơn”, vị trưởng ban tổ chức chẹp miệng, “ô nhiễm, thiếu nước, khí thải…”.
Charles mỉm cười thú vị khi đi ngang qua Hạ nghị viện, gật đầu chào những người bạn cũ và để ý một số khuôn mặt mới. Anh không dừng lại nói chuyện với một người mới nào vì anh không chắc họ thuộc đảng Lao động hay đảng Bảo thủ và với kết quả của cuộc bầu cử, phần lớn trong số họ phải là những người của đảng Lao động. Rất nhiều người trong số những người bạn cũ trông rất tội nghiệp. Với một vài người trong số họ, họ sẽ phải chờ khá lâu cho tới khi có cơ hội được cất nhắc lại, một số người khác hiểu rằng đây sẽ là lần cuối cùng họ sẽ giữ chức Bộ trưởng. Trong chính trị, anh đã học được rất nhanh, rằng sự may mắn của tuổi tác và thời điểm đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp của mỗi con người mà không phụ thuộc vào tài năng của người ấy. Nhưng vào tuổi ba lăm, Charles dễ dàng vứt bỏ những suy nghĩ này.
Charles bước về phía căn phòng của mình để kiểm tra đống thư từ trong khu bầu cử. Fiona đã nhắc anh về việc phải gửi tám trăm lá thư cảm ơn cho các công nhân trong Đảng mình. Mới nghĩ tới đó anh đã cảm thấy ngán ngẩm.
- Bà Blenkinsop, chủ tịch của Câu lạc bộ Ăn trưa của Sussex, muốn đề nghị ông tham gia vào buổi ăn trưa hàng năm của họ với tư cách là khách mời – cô thư ký thông báo khi anh vừa kịp ngồi xuống.
- Trả lời là tôi đồng ý, - vào hôm nào ấy nhỉ? – Charles hỏi, với tay lấy sổ nhật ký.
- Ngày 16 tháng Sáu.
- Những người phụ nữ ngốc nghếch, đó là ngày phụ nữ ở Ascot. Nói với bà ta rằng tôi sẽ phải phát biểu tại một hội nghị môi trường, nhưng chắc chắn là tôi sẽ cố gắng thu xếp tham gia vào buổi lễ sang năm.
Cô thư ký ngẩng lên nhìn lo lắng.
- Đừng lo, - Charles bảo – Bà ta sẽ không bao giờ biết được đâu. – Cô thư ký tiếp tục báo cáo lá thư tiếp theo.
Simon đã đặt chiếc nhẫn có mặt saphia nhỏ tí xíu với đường viền kim cương lên ngón thứ ba trên bàn tay trái của cô. Ba tháng sau, một chiếc nhẫn cưới bằng vàng được đưa lên cùng với chiếc nhẫn đính hôn.
Sau khi Simon và bác sĩ Kerslake đi hưởng tuần trăng mật từ Italy trở về, họ vô cùng hạnh phúc tạo dựng cuộc sống chung của mình tại ngôi nhà nhỏ ở phố Beafort. Elizabeth không thấy có gì khó khăn trong việc đưa số tư trang rất gọn gàng của mình vào ngôi nhà nhỏ xinh ở Chelsea này, và chỉ sau một vài tuần Simon hiểu rằng mình đã cưới một phụ nữ rất tuyệt vời.
Vào thời gian đầu, cả hai người thấy rất khó khăn trong việc hòa nhập hai công việc có đòi hỏi rất cao của mình, nhưng họ nhanh chóng tìm ra một giải pháp ổn thỏa. Simon rất thắc mắc không hiểu giải pháp này liệu có áp dụng được không nếu hai người quyết định có con hoặc anh được bổ nhiệm là Bộ trưởng. Nhưng khả năng thứ hai thì sẽ không xảy ra trong vòng vài năm tới. Đảng Bảo thủ sẽ không thay người lãnh đạo của mình cho tới khi ông Heath được có cơ hội lần hai trong các cuộc thăm dò ý kiến.
Simon bắt đầu viết bài cho trang giữa của tờ
Spetator
và tờ
Sunday Express
với hy vọng anh sẽ gây dựng được tiếng tăm bên ngoài Quốc hội, mà lại kiếm thêm nguồn phụ cho khoảng lương ít ỏi ba ngàn bốn trăm bảng của mình. Thậm chí với thu nhập của một bác sĩ của Elizabeth, anh thấy hai người thật sự khó khăn dù chỉ sống tằn tiện, tuy nhiên anh không muốn làm vợ lo lắng. Anh ghen tị với Charles Hampton, người dường như không thèm đếm xỉa tới việc chi tiêu. Anh không hiểu anh chàng chết tiệt đó liệu có bao giờ gặp rắc rối gì không. Ngón tay anh tìm kiếm con số trên tài khoản của mình, như thường lệ, chỉ có khoảng năm trăm bảng ở bên lề phải, và cũng như thường lệ, con số này được in màu đỏ.
Anh tiếp tục đưa những câu hỏi hóc búa với Thủ tướng vào các ngày thứ ba và thứ năm. Mặc dù giờ đây việc này đã trở thành thường lệ, anh vẫn luôn chuẩn bị các câu hỏi của mình rất kỹ lưỡng, và có lần anh thậm chí còn được khen ngợi bởi người lãnh đạo vốn ít lời. Tuy nhiên, anh thấy rằng sau hàng tuần lễ, suy nghĩ của anh lại trở về vấn đề tài chính, hay nói cách khác, việc anh thiếu tiền.
Đó là trước khi anh gặp Ronnie Nethercote.
Tiếng tăm của Raymond giờ đây đang nổi lên như cồn. Anh không tỏ ra một chút nào bị choáng ngợp bởi vai trò của mình trong một Bộ lớn như bộ Việc làm. Phần lớn các cán bộ có dịp tiếp xúc làm việc với Raymond đều có nhận xét anh là một người có tài, đòi hỏi cao trong công việc, chăm và, tất nhiên điều này không được nói lại với anh, khá kiêu ngạo. Việc anh cắt ngang lời của một cán bộ hoặc sửa cô thư ký chính của mình trong các vấn đề chi tiết không hề làm cho anh được thậm chí những nhân viên kề cận nhất của mình yêu mến, mặc dù những người này luôn mong muốn trung thành với ông Thứ trưởng của mình.
Khối lượng công việc của Raymond thật khổng lồ, và thậm chí cả viên thư ký thường trực còn được nghe câu nói cửa miệng của Raymond “ không được phép nói xin lỗi” khi anh ta định cắt bớt một trong những công việc riêng tư của Raymond. Và chẳng bao lâu sau khi Raymond nhận chức, các nhân viên của anh ta đã bắt đầu nói về việc khi nào, chứ không phải liệu có hay không, anh được thăng chức. Ông Bộ trưởng như tất cả những người luôn mong đợi ở sáu nơi vào cùng một lúc, thường nhờ Raymond đi thay cho ông ta, nhưng ngay cả bản thân Raymond cũng rất ngạc nhiên khi anh được mời đại diện cho Bộ mình làm khách danh dự tại bữa tiệc hàng năm của Liên đoàn Công nghiệp Anh.
Joyce kiểm tra lại bộ comple dành cho tiệc tối của chồng mình xem nó đã được là phẳng chưa, chiếc áo sơ mi không được có một vết nào và đôi giày phải sáng bóng như giày của một sĩ quan trực nhật. Bài phát biểu đã được chọn lựa từng câu chữ - một sự kết hợp giữa sự mài giũa công phu của người dự thảo cộng với một số câu mang tính thuyết phục cao mà chính anh đưa thêm vào đủ để chứng minh với cộng đồng các nhà tư bản rằng không phải tất cả các thành viên của đảng Lao động đều là những thằng hề luôn luôn nói năng nhảm nhí, - giờ đây nó được cài cẩn thận trong túi áo của anh. Người lái xe đưa anh từ ngôi nhà trên đường Lansdowne tới West End.
Raymond thấy buổi tiệc thật thú vị, và mặc dù có đôi chút hồi hộp lo lắng khi anh đứng dậy đại diện cho Chính phủ đáp lại lời chúc tụng của các quan khách, khi ngồi xuống anh biết rằng lần này là một trong những lần thành công của anh. Sự hoan hô của mọi người sau đó rõ ràng không phải chỉ là biểu hiện của sự lịch sự của những kẻ theo lẽ tự nhiên thuộc phe Đối lập của anh.
- Cái bài phát biểu này còn khô hơn cả Chablis, - một số trong số các vị khách quan thì thầm với ông chủ tịch, tuy nhiên ông ta phải công nhận rằng với những người như Gould nắm chính quyền, chắc chắn mọi việc sẽ dễ dàng hơn là sống với một Chính phủ của đảng Lao động.
Người đứng bên tay trái của Simon Kerslake thậm chí còn tỏ ra thẳng thừng hơn khi nhận xét Gould: “Cái anh chàng chết tiệt này suy nghĩ như một anh chàng Bảo thủ, vậy thì sao anh ta không phải là một thành viên của đảng Bảo thủ nhỉ?”. Ông ta kêu lên.
Simon mỉm cười nhìn người đàn ông sớm bị hói trước tuổi suốt bữa ăn đã không ngừng đưa ra các ý kiến khá sinh động. Nặng khoảng hơn hai trăm pound (khoảng hơn 90,8 kg), trông Ronnie lúc nào cũng như đang cố thoát ra khỏi bộ lễ phục buổi tối đang căng lên vì quá chật.
- Tôi cho rằng – Simon đáp lại – cái anh chàng Gould này, sinh ra vào những năm của thập kỉ ba mươi và sống tại Leeds, chắc hẳn đã gặp nhiều khó khăn trong việc hòa nhập với đội ngũ những kẻ bảo thủ trẻ tuổi.
- Vô nghĩa, - Ronnie trả lời. – Tôi cũng đã từng tưởng tượng ra điều đó và tôi được sinh ra tại Khu Đông London mà không có được một chút nào những lợi thế của anh ta. Nào bây giờ hãy cho tôi biết, ngài Kerslake, ngài làm gì khi không phung phí thời gian của mình trong Quốc hội?
Raymond ở lại sau bữa tối và tiếp tục nói chuyện về các thủ phủ của các ngành Công nghiệp. Anh rời bữa tiệc vào khoảng sau mười một giờ một chút để trở về ngôi nhà ở đường Lansdowne.
Khi người lái xe cho xe đi chậm qua khu nhà Grosvenor phía dưới đại lộ Công viên, Raymond nhiệt tình vẫy chào những người chủ tiệc. Một ai đó vẫy trả lại. Lúc đầu Raymond chỉ liếc qua cửa sổ, cho đó là một trong các vị khách, cho tới tận khi anh trông thấy cặp giò của cô ta. Đứng trong góc đường bên ngoài trạm xăng trên đại lộ Công viên là một cô gái trẻ đang mỉm cười nhìn anh mời mọc, chiếc váy ngắn màu trắng của cô ta ngắn đến nỗi mà có lẽ nên gọi nó là một chiếc khăn tay mới đúng.
Cặp giò rất dài của cô ta làm cho anh nhớ tới cặp giò của Joyce mười năm trước. Mái tóc uốn rất đẹp của cô và những đường nét của bộ hông in chặt trong đầu Raymond suốt chặng đường về nhà.
Khi họ về với đường Lansdowne, Raymond ra khỏi chiếc xe của Chính phủ và chào tạm biệt người lái xe trước khi chầm chậm đi về phía trước cửa, nhưng anh không lấy chìa khóa ra. Anh chờ cho tới khi chắc chắn rằng người lái xe đã đi khuất sau góc đường trước khi ngẩng lên kiểm tra cửa phòng ngủ. Tất cả các đèn đều đã tắt. Chắc chắn Joyce đã đi ngủ.
Anh mò mẫm đi xuống đường và quay trở lại vỉa hè, rồi nhìn trước nhìn sau một lượt, cuối cùng tìm thấy nơi Joyce đã đậu chiếc Volkswagen. Kiểm tra lại chiếc chìa khóa dự bị trong chùm chìa khóa của mình, lóng ngóng như thể đang đi ăn trộm xe của ai. Phải ba lần khởi động động cơ mới nổ và Raymond băn khoăn không hiểu mình có đánh thức cả khu dậy không khi anh cho xe chuyển động và quay trở lại đại lộ Công viên, không hiểu là mình chờ đợi điều gì. Khi anh tới Marble Arch, anh cho xe đi chậm lại hòa vào dòng xe cộ ở giữa tâm đường. Một số vị khách trong lễ phục buổi tối vẫn đang túa ra từ khu nhà Grosvernor. Anh cho xe chạy qua trạm xăng, cô ta vẫn còn đứng đó. Cô ta lại mỉm cười và anh cho xe chạy vọt lên gần như đâm thẳng vào chiếc xe chạy phía trước. Raymond lại cho xe chạy về Marble Arch, nhưng thay vì chạy thẳng về nhà, anh cho xe vòng xuống đại lộ Công viên, lần này không chạy nhanh như lần trước và lái sang lề đường. Anh rời chân khỏi bàn đạp tăng tốc khi sắp tới trạm xăng và cô ta lại vẫy mời chào anh. Anh quay trở lại March Arch trước khi bắt đầu chuyến du ngoạn đại lộ Công viên, lần này thậm chí còn chậm hơn cả hai lần trước. Lần thứ ba chạy qua khu nhà Grosvernor, anh cẩn thận kiểm tra chắc chắn không còn vị khách nào đứng nói chuyện trên vỉa hè nữa. Không một bóng người. Anh gạt cần phanh và chiếc xe dừng lại ngay cạnh trạm xăng. Anh chờ đợi.
Cô gái nhìn trước nhìn sau trước khi đi về phía chiếc xe, mở cửa dành cho khách và ngồi xuống cạnh anh.
- Muốn đi à?
- Cô nói gì kia? – Raymond hỏi bằng một giọng khan khan.
- Thôi đi, anh yêu. Anh không thể cho là em đứng ở đây vào giờ này để tắm nắng chứ.
Raymond quay lại nhìn cô gái cẩn thận hơn và muốn chạm vào người cô ta mặc dù mùi nước hoa rẻ tiền đang phả ra. Chiếc áo sơ mi lụng thụng của cô có ba chiếc cúc không cài, chiếc thứ tư không còn dấu nổi một thứ gì mà người ta có thể tưởng tượng được.
- Ở chỗ em sẽ mất mười bảng.
- Cô ở chỗ nào? – Anh chỉ còn cảm giác được mình đang nói.
- Em dùng một khách sạn ở đường Paddington.
- Làm thế nào mà đi tới đó được đây? – Anh hỏi, lo lắng lùa những ngón tay lên mái tóc dày màu đỏ.
- Bây giờ đi ra Marble Arch và em sẽ chỉ đường cho anh.
- Em là Mandy, - cô nói. – Còn anh tên gì?
Raymond ngập ngừng. “Malcom”.
- Anh làm nghề gì vậy, Malcom, trong những ngày khó khăn này?
- Tôi… tôi bán xe cũ.
- Anh vẫn chưa tìm được một công việc thực sự tốt đâu, phải không nào? – Cô bật cười.
Raymond không nói gì. Nhưng Mandy không dừng lại.
- Một kẻ bán xe cũ sao mà phải ăn mặc như một kẻ thượng lưu vậy?
Raymond quên bẵng rằng mình vẫn đang đeo cà vạt đen.
- Tôi vừa… mới tham dự hội nghị… ở… ở khách sạn Hilton.
- Nhiều kẻ mới may mắn làm sao – cô ta nói, và bật lửa châm một điếu thuốc. – Em đứng đợi bên ngoài khách sạn Grosvernor gần hết đêm mong có thể bắt được một ông khách giàu có từ cái bữa tiệc sang trọng ấy.
Da mặt Raymond chuyển màu gần như màu mái tóc anh. “Đi chậm lại và rẽ vào lối thứ hai bên trái”.
Anh làm theo lời chỉ dẫn của cô ta cho tới khi họ dừng lại trước một khách sạn nhỏ trông không lấy gì làm sạch sẽ. “ Để em ra trước, anh theo sau nhé”. Khi cô ta bước ra anh gần như phóng xe đi nếu mắt anh không nhìn thấy sự di chuyển của bộ hông cô gái khi cô đi về phía khách sạn.
Anh ngoan ngoãn vâng theo sự chỉ bảo của cô và trèo một vài bậc cầu thang chật hẹp cho tới khi lên tới tầng thượng. Khi anh lên tới đầu cầu thang, một cô gái tóc vàng đồ sộ vượt qua anh khi cô ta đi xuống cầu thang.
- Chào Mandy – cô ta gọi với lại cho cô bạn.
- Chào Syly. Phòng rỗi chứ?
- Vừa xong, - cô gái tóc vàng trả lời vẻ gắt gỏng.
Mandy đẩy cửa và Raymond bước theo cô vào phòng. Căn phòng nhỏ và chật, ở một góc phòng có một chiếc giường nhỏ và một chiếc thảm xơ tướp. Tờ giấy dán tường màu vàng đã ngả màu bị bong một số chỗ. Một chiếc bồn rửa mặt gắn liền vào tường, chiếc vòi đang rỉ nước để lại một vệt màu nâu xỉn trên mặt men.
Mandy chìa tay chờ đợi.
- À quên mất, tất nhiên rồi – Raymond nói, đưa tay vào ví và thấy rằng anh chỉ còn có chín đô la.
Cô nhăn mặt “Xem chừng em có thể làm thêm giờ đêm nay rồi, phải không anh yêu?”. Cô hỏi, cẩn thận nhét tiền vào trong góc túi trước khi thản nhiên cởi quần áo.
Mặc dù động tác cởi quần áo của cô hoàn toàn không mang tính khêu gợi tình dục một chút nào, Raymond không khỏi choáng ngợp bởi vẻ đẹp của thân hình cô. Anh cảm thấy mình bị tách rời khỏi thế giới thực. Anh theo dõi cô, thèm muốn được cảm giác da thịt cô, nhưng không cử động. Cô nằm xuống giường.
- Không sao đâu, anh yêu. Em phải kiếm tiền chứ.
Raymond cởi quần áo rất nhanh, quay lưng lại phía giường. Anh gập quần áo thành một đống gọn gàng trên sàn vì không có một chiếc ghế nào. Rồi anh nằm lên trên cô. Tất cả mọi việc diễn ra trong vài phút.
- Anh vào nhanh đấy, anh yêu ạ. – Mandy nói, mỉm cười.
Raymond rời khỏi cô gái và bắt đầu cố hết sức cọ rửa mình trong chiếc bồn nhỏ tí xíu. Anh mặc quần áo vội vàng vì nhận ra anh cần phải rời khỏi nơi này càng nhanh càng tốt.
- Anh có thể thả em về chỗ trạm xăng được không? – Mandy hỏi.
- Phía đó thực sự là trái đường đi của tôi, anh nói, cố gắng không tỏ ra lo lắng khi anh bước ra ngoài. Anh vượt qua Syly trên cầu thang cùng một người đàn ông. Cô ta nhìn chằm chằm vào mặt anh một lần nữa. Vài phút sau anh đã ngồi trong xe. Anh lái xe rất nhanh về nhà nhưng vẫn nhớ mở cửa sổ xe cho bay hết mùi thuốc lá hôi và nước hoa rẻ tiền.
Quay trở lại đường Lansdowne, anh tắm rất lâu trước khi bò vào giường cạnh Joyce, cô chỉ hơi xoay người mà không nói gì.
Charles đưa vợ đi Ascot rất sớm để tránh tình trạng giao thông xe nọ đụng vào xe kia thường xảy ra vào cuối ngày. Với chiều cao của mình cùng bộ ria, anh rất hợp với chiếc áo có đuôi và một chiếc mũ có chop, còn Fiona thì đội một chiếc mũ mà bất kì ai không tự tin bằng cô sẽ coi là nực cười. Họ đã được mời tới gặp gia đình Macalpines vào buổi chiều, và khi họ tới nơi họ thấy Sir Robert đang đợi họ trong lô riêng của ông.
- Chắc ông đi sớm lắm phải không? – Charles hỏi, anh biết Macalpines sống ở trung tâm London.
- Khoảng ba mươi phút trước – ông trả lời, phá lên cười. Fiona tỏ ra hoài nghi mà vẫn cố giữ lễ độ.
- Tôi luôn tới đây bằng máy bay trực thăng – ông giải thích.
Họ ăn trưa với tôm hùm và dâu tây kèm với sâm banh chế từ nho ngon, và anh bồi bàn cứ phải luôn tay rót thêm. Có lẽ Charles đã không uống nhiều đến như vậy nếu anh không chọn đúng con ngựa thắng cuộc trong ba cuộc đua đầu. Trong cuộc đua thứ năm, anh gục trên chiếc ghế trong góc lô, và chỉ có tiếng reo hò của đám đông mới có thể giữ cho anh không thiếp đi.
Và nếu họ không chờ đợi để uống chia tay sau vòng đua cuối cùng, có lẽ sẽ không có chuyện gì xảy ra. Anh quên rằng ông chủ bữa tiệc sẽ đi về bằng máy bay trực thăng.
Một đoàn dài các xe đỗ xuyên suốt phố Windsor Great Park cho tới tận đường cao tốc làm Charles nóng đầu. Khi ra tới đường chính anh cho chiếc Daimler của mình tăng lên số bốn. Anh không chú ý tới chiếc xe của cảnh sát cho tới tận khi nghe thấy tiếng còi và anh được lệnh lái sang một bên đường.
- Hãy hết sức cẩn thận, Charles – Fiona thì thầm.
- Đừng lo, em. Anh biết chính xác cần phải làm gì với luật pháp – anh nói, và quay kính xe xuống nói với viên cảnh sát đứng cạnh xe – Thưa ông sĩ quan, ông có nhận ra tôi là ai không?
- Thưa ông, không, nhưng tôi muốn ông đi theo tôi.
- Tất nhiên là không, thưa ông sĩ quan, tôi là một thành viên của …
- Làm ơn giữ yên nào – Fiona nói – và đừng có làm cho mình trở thành thằng hề nữa.
- … của Quốc hội và tôi sẽ không bị đối xử…
- Anh có biết là anh nghe huênh hoang thế nào không, Charles?
- Ông có thể làm ơn đi theo tôi về đồn được chứ, thưa ông?
- Tôi muốn nói chuyện với luật sư của tôi.
- Tất nhiên là được, thưa ông. Ngay khi chúng ta về tới đồn.
Khi Charles về tới sở cảnh sát, anh hoàn toàn không thể đi vững được và từ chối việc lấy mẫu máu.
- Tôi là nghị sĩ đảng Bảo thủ của Sussex Downs.
Tất nhiên là không giúp gì cho anh rồi, Fiona nghĩ, nhưng anh không thèm nghe và chỉ yêu cầu cô gọi cho viên luật sư của gia đình ở Speechly, Bircham & Soames.
Sau khi Ian Kimmins đã nói chuyện, lúc đầu nhẹ nhàng, sau đó cứng rắn hơn với Charles, khách hàng của anh ta dần dần đồng ý hợp tác với cảnh sát.
Sau khi Charles đã viết xong lời khai, Fiona lái xe đưa Charles về nhà, lẩm nhẩm cầu nguyện là sự ngu ngốc của anh sẽ không bị giới báo chí chú ý.
7
- Em không ưa ông ta vì ông ta xuất thân từ khu Đông chứ gì – Simon nói, sau khi cô đã đọc xong lá thư.
- Không phải – Elizabeth trả lời – em không ưa ông ta vì em không tin ông ta.
- Nhưng em mới chỉ gặp ông ta hai lần.
- Chỉ một lần là quá đủ rồi.
- Này, anh có thể nói là anh rất có ấn tượng vì cái đế chế không phải là không lớn mà ông ta đã xây dựng trong mười năm qua, và thẳng thắn mà nói đó là một đề nghị mà anh không thể từ chối – Simon bảo, thả lá thư vào túi áo.
- Nhưng có chắc là không phải trả giá không? – Elizabeth hỏi.
- Một điều chắc chắn là anh sẽ không gặp nhiều đề nghị như thế này – Simon tiếp tục – Và chúng ta có thể sử dụng khoản tiền ấy. Việc mọi người tin rằng tất cả mọi thành viên của Quốc hội có những việc kinh doanh mang lại các khoản lợi lớn trong khi có tới hai đến ba chức danh giám đốc là chuyện nháp thôi, và em biết rõ điều này. Anh chưa hề nhận được một đề nghị nghiêm túc nào kể từ khi anh vào Quốc hội, và ta sẽ kiếm được thêm hai ngàn bảng hàng năm mà giữ chỉ phải tham dự vào một cuộc họp ban Quản trị hàng tháng thôi.
- Và gì nữa?
- Em định nói gì kia?
- Ông Nethercote hy vọng nhận được gì khi bỏ ra hai ngàn bảng? Anh đừng có quá ngây thơ, Simon, chắc chắn là ông ta không mời anh xơi số tiền đó trên một chiếc đĩa ngon lành như vậy mà không hy vọng nhận được một tý gì chứ.
- À, có lẽ là anh có một vài mối quan hệ và chút ảnh hưởng với một hay hai người gì đó…
- Em cá đấy.
- Em thực là thành kiến, Elizabeth ạ.
- Em đang phản đối bất kỳ cái gì mà có thể trong tương lai có hại cho sự nghiệp của anh, Simon. Anh phải cố, nhưng không bao giờ được hy sinh phẩm chất của mình, như anh vẫn luôn nhắc nhở những người dân vùng Conventry này.
Khi vụ Charles Hampton vì tội uống say khi lái xe được đưa ra xử lý, anh đưa tin mình làC.G.Hampton – không nhắc nhở gì tới chữM.P (nghị sĩ). Dưới phần khai nghề nghiệp anh ghi “Chủ ngân hàng”.
Anh đứng thứ sáu trong danh sách sang hôm đó, và thay mặt cho khách hàng vắng mặt của mình, Ian Kimmins nói lời xin lỗi với các vị trong bồi thẩm và đảm bảo với họ rằng sự việc sẽ không lặp lại nữa. Charles bị phạt tiền năm mươi bảng và bị cấm lái xe trong sáu tháng. Vụ việc được xử lí trong vòng bốn phút.
Khi Charles nhận được thông tin này vào cuối ngày hôm đó, anh vô cùng cảm ơn lời khuyên sáng suốt của Kimmins và thấy là mình đã thoát ra khỏi vòng hiểm thật nhẹ nhàng. Anh không thể nhớ lại bao nhiêu dòng trong các cột báo đã được dành cho ông bạn George Brown, Bộ trưởng bộ Ngoại giao của đảng Lao động, sau một sự việc tương tự xảy ra ngay ngoài khách sạn Hilton.
Fiona vẫn giữ nguyên lời khuyên của mình.
Vào lúc đó, phố Fleet đang ở giữa mùa “ngu xuẩn”, bây giờ vào hè mà các báo chí đang tuyệt vọng kiếm tìm tin. Chỉ có một nhà báo tham dự phiên tòa khi vụ Charles được xử, và anh ta thậm chí còn rất ngạc nhiên vì sự quan tâm mà nhân dân nước Anh dành cho vụ việc nhỏ của mình. Những bức hình của Charles đã được chụp bí mật ngay bên ngoài ngôi nhà nghỉ hè của gia đình Hampton được phóng cỡ lớn trên những trang báo buổi sang hôm sau với các tít “
Sáu tháng cấm lái xe do lái xe trong khi say – Người con của Bá tước tới. Vị nghị sĩ của miền Ascot Binge bị phạt nặng
”. Thậm chí tờ
Thời báo
còn nhắc tới vụ việc trong trong Tin tức trong nước.
Cho tới buổi trưa thì tất cả các tờ báo ở phố Fleet đã thử liên lạc với Charles – và thậm chí cả ông trưởng ban tổ chức. Khi ông gọi được cho Charles, lời khuyên của ông ta rất ngắn và đi thẳng vào vấn đề. Một vị bộ trưởng cấp thứ chỉ có quyền được báo chí quan tâm như vậy một lần – chứ không phải hai lần.
- Bất kì anh làm gì, không được lái xe trong sáu tháng tới, và không bao giờ được phép uống rượu khi lái xe.
Charles đồng tình, và sau những ngày nghỉ cuối tuần có vẻ yên ắng, anh hy vọng mọi việc sẽ ổn thỏa và không ai còn nhắc tới chuyện này nữa. Thế rồi trên trang nhất tờ
Sussex Gazette
, một dòng tít lớn nhan đề:
Nghị viên phải đối đầu với bản dự thảo không được tự tin
. Bà Blinkinsop, Chủ tịch Câu lạc bộ Bữa trưa của các bà các cô, đã đưa ra dự thảo này, không phải vì chuyện uống rượu say lái xe, mà việc cố tình lừa gạt bà ta vì lý do tại sao anh không thể tham gia nói chuyện tại bữa tiệc trưa hàng năm của họ.
Raymond giờ đây đã quá quen thuộc với việc nhận được những hồ sơ có đánh dấu Đặc biệt riêng tư,
Tối mật,
hoặc thậm chí
Chỉ dành riêng cho Ngài
ở vị trí của anh hiện nay là Thứ trưởng dưới quyền của Chính phủ nên anh không hề suy nghĩ khi nhận được một lá thư có để
Mật và Riêng tư
mặc dù đó là những chữ viết bằng tay rất rắc rối. Anh mở lá thư khi Joyce đang luộc trứng.
- Bốn phút và bốn mươi nhăm giây, đúng như cách anh thích – cô nói khi từ bếp đi ra đặt hai quả trứng trước mặt anh – Anh không sao đấy chứ? Trông anh trắng bạch như tờ giấy ấy.
Raymond lấy lại bình tĩnh rất nhanh, nhét lá thư vào túi áo, trước khi kiểm tra đồng hồ. “Anh không còn thời gian để ăn một quả trứng nữa đâu”, anh nói. “Anh đã muộn cuộc họp của Hội đồng Nội các, anh phải đi ngay đây”.
Lạ thật, Joyce nghĩ, khi chồng cô lao vội ra cửa. Hội đồng Nội các thường không họp trước mười giờ, và anh ấy thậm chí còn chưa đập quả trứng thứ nhất. Cô ngồi xuống và chậm rãi ăn phần ăn sáng của chồng, băn khoăn không hiểu tại sao chồng cô bỏ lại toàn bộ số thư từ.
Ngay khi đã ngồi vào trong xe, Raymond mở lá thư ra đọc lại. Thư không dài.
Chào “Malcolm” thân yêu,
Em rất thích lần gặp gỡ ngắn ngủi của chúng ta buổi tối nọ và năm trăm bảng sẽ giúp em quên hoàn toàn chuyện này.
Chào thân yêu, Mandy
Tái bút: Em sẽ liên lạc với anh ngay.
Anh đọc lại lá thư lần nữa và cố gắng tập trung suy nghĩ. Không có một địa chỉ nào trên đầu thư. Phong bì cũng không cho thấy nó được gửi đi từ đâu.
Khi xe đã tới ngoài bộ Việc làm, Raymond tiếp tục ngồi trong ghế sau vài giây.
- Ông không sao chứ ạ? – Người lái xe lấy làm lạ.
- Tôi khỏe, cảm ơn anh – anh trả lời, bật ra khỏi xe và chạy một mạch lên tới phòng của mình. Khi chạy qua bàn cô thư ký, anh quay lại gọi với cho cô – Tôi không gặp và nói chuyện với ai.
- Ông không quên cuộc họp của Hội đồng Nội các vào lúc mười giờ chứ, thưa Thứ trưởng.
- Không, Raymond trả lời ngắn gọn và đóng sầm cánh cửa phòng làm việc. Ngay khi ngồi xuống ghế anh cố gắng trấn tĩnh và liệt kê lại những việc lẽ ra anh cần làm nếu anh được một khách hàng đặt vấn đề khi đang là một luật sư cấp cao: đầu tiên cần chỉ định một luật sư giỏi. Raymond tính tới hai vị luật sư giỏi nhất nước Anh là Arnold Goodman và Sir Roger Pelham. Goodman lúc này đang nổi như cồn và không thích hợp với kiểu của Raymond còn Pelham tỏ ra chắc chắn mà lại hầu như không được công chúng biết tới. Raymond gọi thẳng cho văn phòng của Pelham và hẹn gặp anh ta vào ngay buổi chiều.
Suốt buổi họp của Hội đồng Nội các, Raymond hầu như không nói một câu gì, nhưng vì hầu hết các đồng nghiệp của anh ngày hôm đó đều muốn được phát biểu ý kiến, nên không ai để ý tới sự im lặng của anh. Ngay khi cuộc họp kết thúc, Raymond đi vội ra ngoài và gọi một chiếc taxi tới High Holborn.
Từ sau chiếc bàn kiểu Victoria rất lớn, ngài Roger Pelham đứng dậy chào Raymond.
- Tôi biết anh rất bận, Gould ạ, Pelham nói khi anh lại thả mình xuống chiếc ghế da màu đen, vì vậy tôi sẽ không làm mất nhiều thời gian của anh. Hãy nói cho tôi biết tôi có thể giúp gì cho anh.
- Thật may cho tôi là anh đồng ý tiếp tôi mặc dù tôi báo vội thế này – Raymond bắt đầu, và không nói thêm gì khi đưa ra lá thư.
- Cám ơn, vị luật sư lịch sự đáp, và đẩy cặp kính hình bán nguyệt lên trên sống mũi, anh ta đọc đi đọc lại lá thư ba lần trước khi đưa ra nhận xét.
- Tống tiền là việc mà chúng ta ai cũng ghê tởm – anh ta bắt đầu – nhưng có lẽ anh phải kể cho tôi toàn bộ sự thật, và đừng bỏ sót bất kì chi tiết nào. Hãy nhớ là tôi đứng về phía anh. Chắc anh có thể nhớ lại rất rõ những kinh nghiệm của anh khi còn là luật sư hành nghề rằng một luật sư sẽ gặp tình thế bất lợi như thế nào nếu anh ta chỉ biết một nửa sự thật.
Những đầu ngón tay của hai bàn tay Pelham chạm vào nhau, tạo thành một hình vòm cung trên đầu mũi khi anh ta chăm chú lắng nghe Raymond thuật lại những việc xảy ra tối hôm đó.
- Liệu có ai khác trông thấy anh không? – Đó là câu đầu tiên Pelham hỏi.
Raymond suy nghĩ và rồi gật đầu, “có”, anh nói. “Có, tôi sợ rằng có một cô gái khác đã gặp tôi trên cầu thang”.
Pelham đọc lại lá thư lần nữa.
- Lời khuyên đầu tiên của tôi – anh nói, và nhìn thẳng vào mắt Raymond và cố tình nói chậm – và chắc rằng anh sẽ không thích đâu, là không làm gì cả.
- Thế nhưng tôi phải nói gì nếu cô ta nói chuyện với giới báo chí.
- Thế nào thì cô ta cũng sẽ liên lạc với một ai đó trong phố Fleet, và thậm chí nếu anh trả năm trăm bảng hoặc bao nhiêu lần năm trăm bảng mà anh có thể. Đừng tưởng tượng là anh là Thứ trưởng đầu tiên bị tống tiền. Tất cả những ai bị đồng tính luyến ái trong Quốc hội đều phải sống trong nỗi sợ hãi đó hằng ngày. Vấn đề là ở chỗ đây là một trò chơi giấu tìm. Rất hiếm người trừ các thánh không có điều gì cần phải giấu, và cuộc sống của các nhân vật có nhiều quan hệ trong xã hội luôn gặp vấn đề vì luôn có những kẻ muốn đào bới – Raymond giữ yên lặng, sự căng thẳng của anh bộc lộ rõ ràng – Gọi cho tôi bằng số điện thoại riêng của tôi ngay khi anh nhận được lá thư tới – Pelham bảo, viết ngoáy một con số lên một mảnh giấy.
- Cảm ơn – Raymond nói, cảm thấy thoải mái hơn vì đã chia sẻ được bí mật của mình với một người khác. Pelham đứng dậy tiễn Raymond ra cửa.
Rời khỏi văn phòng luật sư, Raymond thấy nhẹ nhõm hơn, nhưng cả thời gian còn lại trong ngày anh thấy thật khó có thể tập trung vào công việc, ban đêm thì anh không sao ngủ say được. Vào buổi sáng khi đọc các báo, anh hoảng sợ khi thấy các báo giành cho vụ Charles Hampton bao nhiêu mặt báo. Sẽ thực là một vụ gặt hái lớn họ có thể thu được với chuyện của anh. Khi người đưa thư tới, anh lo lắng tìm kiếm lá thư với loại chữ viết tay loằng ngoằng. Nó được giấu dưới một tờ
American Express.
Anh vội vàng mở ra. Cùng một kiểu chữ lần này yêu cầu năm trăm bảng được gửi vào một bưu điện ở Pimlico. Một tiếng sau, ngài luật sư Roger Pelham được vinh dự gặp ông Thứ trưởng.
Mặc cho lời yêu cầu được nhắc lại, lời khuyên của vị luật sư vẫn như cũ.
- Hãy nghĩ kĩ đi, Simon – Ronnie nói khi họ bước vào phòng họp – Hai ngàn bảng trong một năm có thể cũng được đấy, nhưng nếu anh có cổ phần trong công ty bất động sản của tôi thì đó mới là cơ hội để anh có được một ít vốn.
- Anh đang có dự tính gì thế? – Simon hỏi, cởi cúc chiếc áo cộc rất kiểu cách của anh, cố kiềm chế không tỏ ra bị kích động quá.
- Thực tế là, anh đã chứng minh được anh có ích cho tôi như thế nào. Một số người trong số những người anh đưa tới ăn trưa cũng có thể đã không cho tôi lọt qua cửa trước của họ. Tôi sẽ để cho anh mua với giá rẻ… anh có thể mua năm mươi ngàn cổ phiếu với giá một bảng. Khi mà chúng ta công bố bán cổ phiếu trong vài năm tới thì chắc chắn là anh sẽ thu lãi lớn.
- Kiếm đủ năm mươi ngàn bảng không phải là chuyện dễ, Ronnie ạ.
- Sau khi người quản lí ngân hàng của anh kiểm tra sổ sách của tôi thì anh ta sẽ không ngần ngại gì mà không cho anh vay số tiền đó.
Sau khi ngân hàng Midland kiểm tra các tài khoản ủy quyền của
Nethercote & Công ty
và người quản lí đã phỏng vấn Simon, họ chấp nhận lời đề nghị của anh, với điều kiện là Simon đặt cọc cổ phần tại ngân hàng.
Elizabeth mới sai làm sao, Simon nghĩ, và khi Công ty Nethercote đạt được lợi nhuận kỷ lục trong quý, anh mang về nhà một bản báo cáo hàng năm cho vợ xem.
- Trông được đấy – cô phải công nhận – nhưng em vẫn không nhất thiết phải tin tưởng Ronnie Nethercote.
Vào tháng mười, khi buổi họp hàng năm của hội Bảo thủ của Sussex Downs tới gần thì Charles vô cùng hài lòng khi biết rằng chiến dịch “không tự tin” của bà Blenkinsop đã dừng lại. Mặc dù giới báo chí địa phương vẫn tiếp tục tô vẽ thêm cho câu chuyện, các tờ báo lại bận đăng tải các tin về thảm họa mỏ than Abervan, một thảm họa gây thiệt mạng cho một trăm mười sáu học sinh phổ thông. Không có nhà biên tập nào tìm được mặt báo cho Sussex Downs.
Charles đọc một bài diễn văn rất có chiều sâu tại hiệp hội của mình, và nhận được sự hoan nghênh của mọi người. Trong suốt thời gian dành cho thảo luận, anh thở phào nhẹ nhỏm vì không có câu hỏi nào nhằm vào anh.
Cuối cùng khi gia đình Hampton chào tạm biệt, Charles kéo ông chủ tịch sang một bên và hỏi: “Ông thu xếp việc này như thế nào vậy?”
- Tôi giải thích với bà Blenkinsop – ông chủ tịch đáp – là nếu như bản dự thảo chiến dịch không tự tin của bà được đưa ra thảo luận, chắc chắn là việc tôi đề nghị ông nghị sĩ ủng hộ cho việc bà ta được nhận Huân chương của Đế chế Anh vì đóng góp cho đảng sẽ cực kì khó. Điều này chắc sẽ không quá khó cho anh chứ, Charles?
Bất kì lúc nào chuông điện thoại kêu là Raymond lại cho rằng đó là giới báo chí muốn hỏi xem anh có quen ai tên Mandy không. Thường đó là một bài báo, nhưng điều họ cần chỉ là một câu nhận xét có thể trích dẫn được đối với các con số mới nhất về nạn thất nghiệp, hoặc một lời tuyên bố về quan điểm của ông Thứ trưởng đối với vấn đề đồng bảng mất giá.
Và rồi đó là Mike Molley, một nhà báo của tờ
Daily Mirror,
người đầu tiên hỏi Raymond xem anh có gì để nói về một cáo giác được cung cấp qua điện thoại bởi một cô gái tên là Mandy Page.
- Tôi không có gì để nói về vấn đề này. Anh có thể nói chuyện với luật sư của tôi, Sir Roger Pelham, là câu trả lời ngắn gọn và rõ ràng của ông Thứ trưởng. Khi đặt phone xuống anh thấy buồn nôn.
Một vài phút sau điện thoại lại đổ chuông. Raymond vẫn chưa rời khỏi chỗ ngồi. Anh cầm ống nghe lên, tay vẫn còn rung. Pelham xác nhận là Molloy đã gọi cho anh.
- Tôi đoán là anh không nói gì chứ, - Raymond hỏi.
- Trái lại – Pelham đáp. – Tôi đã kể cho anh ta nghe toàn bộ sự thật.
- Cái gì? – Raymond nhảy dựng lên.
- Phải cảm ơn là cô ta đã chọn một nhà báo công bằng vì tôi hi vọng anh sẽ bỏ qua chuyện này. Phố Fleet không phải là một đống phân như người ta tưởng - Pelham nói một cách vô cảm, và thêm “Họ căm ghét hai thứ - những viên cảnh sát lèo lá và những kẻ tống tiền”. Tôi cho rằng anh sẽ không thấy gì trên báo ngày mai đâu.
Sir Roger đã nhầm.
Raymond trực sẵn ngoài quầy báo cạnh nhà chờ nó mở cửa vào lúc năm giờ ba mươi phút sáng, và anh làm chủ quầy báo ngạc nhiên vì hỏi mua một tờ
Daily Mirror
. Tên của Raymond tràn đầy trang năm với câu trích dẫn: “Hạ giá đồng bảng không phải là điều tôi ủng hộ trong lúc con số thất nghiệp vẫn còn cao như thế này”. Bức ảnh bên lề bài báo còn trông nịnh mắt đến bình thường.
Simon Kersleke đọc một bản tường trình tỉ mỉ những điều mà ông Thứ trưởng đã nói về vấn đề hạ giá đồng bảng mà anh thực sự khâm phục lập luận vững chắc của Raymond chống lại xu hướng mà giờ đây chắc chắn sẽ là chính sách không thể tránh được của Chính phủ. Ngẩng đầu khỏi tờ báo, anh thầm suy tính một tình huống có thể bẫy Gould. Nếu anh có thể làm cho ông Thứ trưởng cam kết lại trước Quốc hội về vấn đề hạ giá này, anh chắc chắn rằng cái điều không thể tránh khỏi này sẽ xảy ra, Gould sẽ không còn cách nào khác ngoài việc xin từ chức.
Simon dùng bút chì nháp một câu hỏi lên đầu trang báo trước khi đọc tiếp trang một, nhưng anh không tài nào tập trung nổi, đầu óc anh cứ xoay quanh cái tin mà Elizabeth vừa mới báo cho anh trước khi cô đi làm.
Một lần nữa anh lại ngẩng lên, lần này một nụ cười rạng rỡ nở trên khuôn mặt. Không phải việc suy tính làm cho Gould xấu hổ làm anh sung sướng. Một ý nghĩ rất trọng nam khinh nữ thoáng nhanh qua cái đầu thường vốn thuộc loại cấp tiến. “Hy vọng là một đứa con trai” anh nói to.
Charles Hampton vô cùng vui mừng được lái xe lại, và anh cảm thấy mình xứng đáng được mỉm cười khi Fiona cho anh xem tấm ảnh bà Blenkinsop đang hạnh phúc giơ cao tấm huân chương ngay bên ngoài Cung điện Buckingham cho một nhà báo của tờ
East Sussex New
.
Sau đúng sáu tháng kể từ buổi gặp đầu tiên của anh với Sir Roger Pelham, Raymond Gould nhận được một biên lai từ viên luật sư cho dịch vụ mà anh ta đã làm cho anh - năm trăm bảng.
8
Simon rời Quốc hội và lái xe tới đường Whitechapel để dự một cuộc họp ban Quản trị của công ty
Nethercote
. Anh tới muộn mất vài phút và cuộc họp thường lệ vào lúc bốn giờ đã bắt đầu, anh lặng lẽ ngồi xuống một cái ghế và lắng nghe Ronnie Nethercote thông báo một vụ làm ăn khác.
Ronnie đã ký một hợp đồng vào buổi sáng hôm đó để lấy bốn khu nhà chính của thành phố với giá hai sáu triệu bảng với một thu nhập từ tiền thuê nhà được bảo đảm là 3,2 triệu bảng mỗi năm trong bảy năm đầu của giai đoạn thuê hai mốt năm.
Simon trịnh trọng chúc mừng Ronnie và hỏi ông liệu hợp đồng này có làm thay đổi gì thời hạn đưa công ty ra bán hay không. Anh đã khuyên Ronnie không nên đưa cổ phần của công ty ra bán trên thị trường chứng khoán cho tới khi đảng Bảo thủ quay trở lại nắm chính quyền. “Có thể ta phải đợi thêm một vài năm nữa”, anh nói với Ronnie, “nhưng chỉ còn có ít người không tin là đảng Bảo thủ sẽ thắng cử lần tới. Hãy nhìn vào các cuộc trưng cầu ý kiến thì thấy.”
-Chúng tôi vẫn đang dự định đợi - lần này Ronnie cam đoan với anh - Mặc dù nếu chúng ta đem bán bây giờ thì khoản tiền mặt đấy cũng khá có ích đấy. Nhưng giác quan của tôi bảo tôi là tôi nên theo lời khuyên của anh và chờ xem liệu đảng Bảo thủ có thắng cử lần tới không?
-Tôi tin chắc điều đó có thể xảy ra - Simon đáp, nhìn các cổ đông đang ngồi xung quanh.
-Nếu họ không thắng, tôi không thể đợi lâu hơn nữa được.
-Tôi cũng sẽ không thể đồng ý với ý kiến đó được, thưa ngài Chủ tịch - Simon đồng tình.
Khi cuộc họp kết thúc, anh cùng đi với Nethercote vào phòng ông uống nước.
-Tôi muốn cám ơn anh Ronnie nói - vì đã giới thiệu tôi với Harold Samuel và Hugh Ainesworth. Việc này giúp cho tôi giải quyết vụ vừa rồi thật nhanh chóng thuận lợi.
-Điều đó có nghĩa là ông sẽ cho tôi mua thêm cổ phiếu hay không đấy?
Ronnie ngập ngừng “Tại sao không nhỉ?” Anh đã giành được chúng rồi đấy. Nhưng chỉ thêm mười ngàn nữa thôi nhé. Đừng có vội vàng quá, nếu không các giám đốc khác có thể sẽ ganh với anh đấy”.
Trên đường đi đón Elizabeth, Simon vạch ra kế hoạch thế chấp ngôi nhà ở phố Beaufort để vay thêm tiền mặt mua thêm cổ phiếu. Elizabeth vẫn tiếp tục tỏ ra khó hiểu về Ronnie, và vì bây giờ cô đang có thai, anh không muốn làm cô lo lắng thêm vì chi tiết này nữa.
-Nếu chính phủ quyết định thay đổi và hạ giá đồng bảng, liệu ông Thứ trưởng có thể tiếp tục ở lại chức vụ của mình không?
Raymond Gould, ông thứ trưởng bộ Việc làm, cứng người lại khi nghe thấy câu hỏi của Simon Kerslake.
Trình độ về luật pháp của Raymond và hiểu biết của anh về vấn đề này đã làm cho tất cả mọi người loại trừ những kẻ nói năng quá ư lưu loát hoặc cực kỳ kinh nghiệm mệt mỏi không thể đấu trí với anh. Tuy nhiên, anh có một điểm như gót chân của Asin xuất phát từ quan điểm được phát biểu rất chắc chắn của anh trong
Đầy đủ việc làm bằng mọi giá
. Bất kỳ một gợi ý nào về việc Chính phủ có thể hạ giá đồng bảng. Đã tới thời điểm những người ngồi hàng ghế sau có quyền được chất vấn anh về vấn đề này. Nhưng lại một lần nữa Simon Kerslake lại nắm quyền đặt ra câu hỏi làm mất mặt đối thủ của mình.
Như thường lệ, Raymond đưa ra câu trả lời chuẩn: “Chính sách của Chính phủ của Nữ hoàng tối cao là một trăm phần trăm chống hạ giá, và vì vậy không thể có câu hỏi đó được.”
-Hãy chờ đó mà xem - Simon hét lên.
-Trật tự, người phát ngôn nói, đứng hẳn dậy và quay về phía Simon khi Raymond đã ngồi xuống ngài Nghị sĩ chắc hẳn biết rất rõ rằng ngài không thể phát biểu trước Quốc hội trong tư thế ngồi.
Raymond lại đứng lên. “Chính phủ này tin tưởng vào một đồng bảng mạnh, nó vẫn là hy vọng lớn nhất của chúng ta để có thể giữ con số thất nghiệp thấp”.
- Thế nhưng anh sẽ làm gì nếu Nội các Chính phủ cứ quyết định hạ giá? – Joyce hỏi anh khi cô đọc phần trả lời của chồng mình cho câu hỏi của Kerslake được đăng trên tờ London Times buổi sáng hôm sau.
Lúc này Raymond đã nhận thức rõ khả năng hạ giá đồng bảng tăng lên mỗi ngày. Một đồng đô la mạnh dẫn tới việc con số nhập khẩu đạt mức kỷ lục, xảy ra đồng thời với các cuộc biểu tình trong suốt mùa hè năm 67, làm các chủ nhà băng lúc này chỉ còn đặt câu hỏi “Khi nào?” chứ không phải “Liệu có hay không?” nữa
-Anh sẽ phải từ chức thôi - anh trả lời câu hỏi của Joyce.
-Tại sao chứ? Chẳng có ai khác làm việc đó đâu.
-Anh sợ là Kerslake đúng. Mọi điều anh nói đã được đưa vào biên bản và anh ta đã làm mọi việc để tất cả mọi người đều biết. Đừng lo, Harold sẽ không bao giờ hạ giá đồng bảng cả đâu. Ông ấy đã đảm bảo với anh điều ấy nhiều lần mà.
-Ông ta chỉ cần thay đổi suy nghĩ một lần thôi.
Nhà hùng biện vĩ đại Iain MacIeod đã có lần nhận xét rằng hai phút đầu của một bài diễn văn sẽ quyết định số phận của một con người. Một nghị sĩ có thể nắm được cả Quốc hội và ra lệnh cho nó, hoặc không thu phục được và làm mất nó, và một khi Quốc hội đã bị mất thì hiếm khi người ta có thể thu phục lại được.
Khi Charles Hampton được mời phát biểu bài cuối cùng để kết thúc cuộc thảo luận của đảng Đối lập trong cuộc tranh luận về vấn đề Môi trường, anh tin tưởng mình đã chuẩn bị rất tốt. Mặc dù hiểu rằng sẽ không thể xoay chuyển các nghị sĩ ở hàng ghế sau hoàn toàn theo hướng của mình, anh hy vọng anh sẽ được giới báo chí công nhận rằng anh đã chiến thắng trong cuộc tranh luận và làm Chính phủ phải hổ thẹn. Ban Quản trị giờ đây đang tranh cãi về những tin đồn như cơm bữa về vấn đề hạ giá đồng bảng và các khó khăn về kinh tế, và Charles tin tưởng rằng đây là thời điểm thích hợp để anh có thể gây dựng tên tuổi của mình.
Khi cả phòng họp đã sôi nổi tham gia vào cuộc tranh luận, người phát ngôn của đảng Đối lập được mời lên để phát biểu vào lúc chín giờ. Vào lúc chín giờ ba mươi, một Bộ trưởng Chính phủ đứng lên kết thúc vấn đề.
Khi Charles đứng dậy và đặt tờ ghi chép của mình trên bục, anh có dự định sẽ xoáy vào vấn đề của đảng Bảo thủ về những báo cáo kinh tế của Chính phủ, những hậu quả ghê gớm của việc hạ giá đồng bảng, tỷ lệ lạm phát kỷ lục, kèm theo là con số vay chưa từng có và sự mất lòng tin của người dân Anh và các thành viên Quốc hội lần đầu tiên được chứng kiến trong suốt cuộc đời của mình.
Anh đứng thẳng người trên bục và nhìn xuống các hàng ghế với vẻ khiêu chiến.
-Thưa ngài Phát ngôn viên - anh bắt đầu - Tôi không thể nghĩ rằng
-Nếu vậy thì đừng nói - ai đó trên hàng ghế của đảng Lao động hét. Tiếng cười rộ lên trong khi Charles cố lấy lại bình tĩnh, thầm rủa mình đã quá tự tin từ lúc đầu. Anh lại bắt đầu.
-Tôi không thể tưởng tượng rằng
-Cũng không thể có sự tưởng tượng được - một giọng khác hét lên - thật là một anh chàng Bảo thủ điển hình.
-Vì sao vấn đề này chưa bao giờ được đưa ra bàn luận trước Quốc hội.
-Tất nhiên không phải để anh cho chúng tôi một bài học trước công chúng như thế này.
-Trật tự - người Phát ngôn viên gần như gầm lên, nhưng đã quá muộn.
Cả Quốc hội đã trở nên hỗn loạn và Charles lúng túng mất gần ba mươi phút trong sự ngượng ngập cho tới khi không còn ai khác ngoài người phát ngôn lắng nghe lấy một lời trong bài phát biểu của anh. Một số các Bộ trưởng ở hàng ghế đầu thậm chí còn cho cả chân lên bàn, mắt nhắm nghiền. Những người ở hàng ghế sau ngồi nói chuyện vui vẻ để chờ tới lúc bỏ phiếu lúc mười giờ: cách làm nhục ghê gớm nhất mà Quốc hội có thể chấp nhận được với diễn giả tồi nhất. Người Phát ngôn viên phải kêu gọi trật tự vài lần nữa trong thời gian Charles phát biểu, một lần ông thậm chí đứng dậy để mắng những kẻ đang mất trật tự. “Không phải Quốc hội gây dựng danh tiếng của mình bằng cách cư xử như thế này”. Những sự kêu gọi van nài của ông rơi vào những đôi tai lúc này đã điếc đặc của các nghị sĩ và các cuộc nói chuyện vẫn cứ tiếp diễn như thường. Vào lúc chín giờ ba mươi, Charles ngồi xuống, mồ hôi lạnh túa ra. Một số ít những người thuộc đảng của anh ngồi hàng ghế sau kêu lên những tiếng yếu ớt không lấy gì làm thuyết phục:
“Đúng, Đúng”.
Khi một Phát ngôn viên của Chính phủ mở đầu bài phát biểu của mình bằng cách công nhận những ý kiến của Charles là một trong những ý kiến có ấn tượng nhất trong đời làm chính trị của ông, có lẽ ông đã hơi quá phóng đại, nhưng từ hàng ghế đầu của đảng Bảo thủ, rất nhiều thành viên của đảng Đối lập tỏ ra không đồng tình với ông.
Elizabeth ngẩng đầu lên và mỉm cười với chồng khi anh đi vào phòng. “Em đã đỡ đẻ một ngàn đứa trẻ trong năm năm vừa qua, nhưng không đứa nào làm cho em hồi hộp như đứa bé này. Em tin rằng anh muốn biết cả mẹ và con đều khỏe, đúng không?”.
Simon ôm lấy Elizabeth. “Anh sẽ phải chờ bao lâu nữa mới được nghe sự thật đây?”.
-Con trai anh ạ - cô nói.
-Chúc mừng em - Simon nói. - Anh tự hào vì em - Anh nhẹ nhàng hất ngược mái tóc cô - Vậy nó sẽ là Peter chứ không phải là Lucy rồi.
-Chắc chắn là vậy rồi, nếu như anh không muốn cậu con trai thông minh của chúng ta bị chế giễu suốt cả cuộc đời.
Một cô y tá bước lại phía họ ôm một đứa bé gần như ướt sũng trong một tấm vải và một chiếc chăn. Simon đón lấy con và nhìn chằm chằm vào cặp mắt màu xanh to của cậu.
-Anh thấy con mình giống một vị tổng thống tương lai ấy.
-Ồ không, không được - Elizabeth kêu lên - Trông con quá thông minh để làm một việc ngu ngốc như vậy. Cô dang rộng cánh tay ra, Simon ngần ngừ rồi cũng phải trao lại cậu con trai cho mẹ nó.
Simon ngồi trên thành giường, ngắm nghía và tự hào về người vợ và đứa con đầu lòng trong lúc Elizabeth cho nó bú.
-Có lẽ bây giờ là lúc em phải nghỉ ngơi một lúc rồi đấy. Em xứng đáng được hưởng một ngày nghỉ.
-Chẳng có cơ hội đâu, - Elizabeth đáp, nhìn cậu con trai đang nhắm mắt lại - Em phải tiếp tục trực ca vào tuần sau rồi. Đừng quên là chúng mình vẫn cần phải có thu nhập của em trong lúc người ta trả cho các nghị sĩ Quốc hội một khoản lương tội nghiệp như vậy.
Simon không nói gì. Anh đã nhận thức rằng nếu anh có muốn thuyết phục vợ anh nghỉ ngơi một chút, chắc chắn anh cần phải sử dụng một cách nhẹ nhàng hơn.
-Peter và anh cho rằng em thật là tuyệt vời - Anh nói.
Elizabeth nhìn con. “Em không nghĩ là Peter đã chắc về điều đó, nhưng ít nhất thì con nó cũng có thể yên tâm mà ngủ yên với điều đó.”
Quyết định cuối cùng cũng được Nội các tối cao gồm mười hai người chấp thuận vào ngày thứ Năm, 16 tháng Mười một, năm 1967. Vào thứ Sáu, tất cả các nhân viên ngân hàng ở Tokyo đều được chia sẻ điều tuyệt mật của Nội các tối cao, và vào thời điểm Thủ tưởng công bố chính thức thông tin này vào chiều thứ bảy, ngân hàng England đã mất 600 triệu đô la tiền dự trữ trên thị trường ngoại hối.
Vào lúc Thủ tướng đưa ra tuyên bố, Raymond đang ở Leeds tiến hành cuộc họp chính thức hai lần một tháng trong khu vực bầu cử của mình. Anh đang giải thích đạo luật mới về nhà ở cho một cặp vợ chồng mới cưới khi Fred Padgett, người quản lý chiến dịch chạy bổ vào phòng.
-Raymond, xin lỗi làm phiền ông, nhưng tôi nghĩ ông muốn biết ngay lập tức. Số 10 vừa mới thông báo đồng bảng đã bị hạ giá từ 2,7 đô xuống 1,4 đô - vị nghị sĩ đương nhiệm vào thời khắc đó thực sự choáng váng, vấn đề nhà ở của địa phương trôi tuột khỏi đầu anh. Với một cái nhìn trống rỗng, anh nhìn qua mặt bàn vào hai người dân đã tới hỏi ý kiến anh.
-Liệu ông có thể cho phép tôi một chút được không thưa ông Higginbottom? Raymond lịch sự hỏi - Một chút của Raymond thực tế đã kéo dài mười lăm phút, anh đã gọi được cho một cán bộ cao cấp từ Kho bạc và được người này xác nhận lại tất cả mọi chi tiết. Anh gọi cho Joyce nói cô không trả lời điện thoại cho tới khi anh trở về nhà. Anh phải mất vài phút để tự chủ lại và mở cửa phòng làm việc.
-Có bao nhiêu người đang chờ tôi, Fred? - Anh hỏi.
-Sau gia đình Higginbottom chỉ còn có viên thiếu tá điên người vẫn tin là những người ở sao Hỏa sẽ đặt chân lên mái nhà của tòa thị chính của Leeds.
-Vì sao họ lại muốn tới thăm Leeds đầu tiên? - Raymond hỏi, cố gắng giấu sự lo lắng bằng một sự hài hước giả tạo.
-Một khi họ chiến thắng Yorkshine, phần còn lại sẽ trở nên rất dễ dàng.
-Khó mà có thể nói rằng lập luận đó là sai. Tuy nhiên, hãy nói với ông thiếu tá là tôi rất lo lắng về vấn đề này nhưng tôi cần nghiên cứu thêm và xin ý kiến từ bộ Quốc phòng. Hãy đặt cuộc hẹn cho ông ta gặp tôi vào lần tới, vào lúc đó chắc chắn tôi đã có kế hoạch chiến lược sẵn sàng.
Fred Padgett mỉm cười “Thế là đủ cho ông ta kể với bạn bè của ông ta ít nhất là trong hai tuần tới”.
Raymond quay qua ông bà Higginbottom và đảm bảo với họ rằng vấn đề nhà ở của họ sẽ được giải quyết trong một vài ngày sau. Anh để vào trong hồ sơ của mình việc gọi điện cho nhân viên nhà ở của Leeds.
-Thực là một buổi chiều, - Raymond thốt lên sau khi cánh cửa đã được khép lại sau lưng họ - Một vụ đánh vợ, một vụ Sở điện lực cắt điện một gia đình với bốn đứa trẻ dưới mười tuổi trong nhà, một vụ ô nhiễm sông Aire, một vụ nhà ở đáng sợ, ông thiếu tá bị điên không ai có thể quên được và những kẻ xâm lược từ sao Hỏa của ông ta. Và bây giờ là tin hạ giá đồng bảng.
-Làm sao mà ông có thể giữ được bình tĩnh như vậy trong những hoàn cảnh khó khăn như thế này? Fred Padgett hỏi.
-Vì tôi không thể để cho ai biết thực ra tôi đang cảm thấy gì.
Sau giờ làm việc, Raymond thường tới quán bia địa phương uống một cốc và nói chuyện với những người dân địa phương, điều này có thể giúp anh nắm được thông tin ở Leeds trong vài tuần qua. Nhưng lần này anh không dừng lại ở đó và nhanh chóng về nhà cha mẹ.
Joyce cho anh biết điện thoại kêu rất nhiều lần và cuối cùng cô phải ngắt đường dây điện thoại mà không thể cho mẹ anh biết lý do thực.
-Em làm tốt đấy - Raymond bảo.
-Anh định sẽ làm gì đây? - Cô hỏi.
-Anh sẽ từ chức, tất nhiên là vậy.
-Tại sao phải làm vậy, Raymond? Điều đó chỉ làm hại cho sự nghiệp của anh thôi.
-Em có thể đúng, nhưng điều đó sẽ không cản trở anh.
-Nhưng anh vừa mới bắt đầu gây dựng được sự nghiệp của mình thôi mà.
-Joyce, mặc dù không có huênh hoang, anh biết rằng anh có nhiều thất bại, nhưng anh không phải một thằng hèn, và chắc chắn anh sẽ không tự trốn chạy để vứt bỏ bất kỳ một nguyên tắc nào mà anh có thể có.
-Anh biết không, anh vừa mới nói như một kẻ tin tưởng chắc chắn rằng anh ta được sinh ra để làm Thủ tướng.
-Vừa mới trước đây một phút em bảo rằng việc này có thể làm hại sự nghiệp của anh. Anh cho em quyết định đấy.
-Em đã quyết định rồi - Cô nói.
Raymond mỉm cười trước khi bước về phía bàn làm việc để viết một lá thư ngắn gọn.
Thứ Bảy, ngày 18 tháng 11 năm 1967
Kính thưa Thủ trưởng
Sau việc ông tuyên bố về sự hạ giá đồng bảng chiều nay và quan điểm mà tôi đã bảo vệ trong suốt thời gian qua, giờ đây tôi thực sự không còn lựa chọn nào khác ngoài việc xin từ chức Thứ trưởng bộ Việc làm.
Tôi xin được cảm ơn ông vì đã trao cho tôi cơ hội được phục vụ trong bộ máy ông đã tạo dựng. Xin hãy tin tưởng rằng tôi sẽ tiếp tục ủng hộ Chính phủ trong tất cả các vấn đề từ hàng ghế sau.
Chân thành.
Raymond Gould,
Khi chiếc hộp đỏ được đưa tới nhà vào buổi tối thứ bảy đó, Raymond chỉ thị cho người đưa tin lá thư Số 10 ngay lập tức. Khi anh mở chiếc hộp đỏ ra lần cuối, anh nhớ lại rằng Bộ của anh sẽ phải trả lời các câu hỏi của Chính phủ về vấn đề việc làm vào thứ hai sau đó. Anh suy nghĩ không biết ai sẽ được chọn thay vào vị trí của mình.
Vì những vấn đề hành chính cần thiết cho việc hạ giá đồng bảng, Thủ tướng không có thời gian đọc lá thư của Raymond cho tới tận sáng Chủ nhật. Điện thoại nhà Raymond vẫn bị ngắt khỏi đường dây khi người ta nghe thấy anh chàng Fred Padgett lo lắng gõ cửa trước nhà Raymond vào muộn ngày hôm đó.
-Đừng trả lời - Raymond bảo. - Chắc chắn lại là nhà báo ấy mà.
-Không, không phải đâu, chỉ là Fred mà, Joyce bảo, nhòm ra ngoài qua một lỗ tròn trên rèm cửa.
Cô mở cửa. Câu đầu tiên Fred hỏi là: “Quỷ tha ma bắt Raymond đi đâu rồi?”.
-Tôi đây mà - Raymond xuất hiện trên khung cửa nhà bếp tay vẫn cầm tay tờ
Sunday
.
-Thủ tướng đã cố gọi cho anh suốt cả buổi sáng đấy.
Raymond xoay người lại và cắm lại đầu dây điện thoại, một lúc sau anh nhấc tay cầm lên và kiểm tra lại tín hiệu trước khi quay số London WHI 4433. Thủ tướng nhấc điện thoại ngay lập tức. Ông ta có vẻ bình tĩnh đấy, Raymond nghĩ.
-Anh đã phát biểu gì với giới báo chí chưa, Raymond?
-Chưa, tôi muốn chắc chắn là ông đã nhận được thư từ chức của tôi, thưa Thủ tướng.
-Tốt. Không được nhắc việc anh xin từ chức với bất kỳ một ai trước khi chúng ta gặp nhau. Anh có thể tới phố Downing vào lúc 8 giờ được không?
-Thưa Thủ tướng, được ạ.
-Nhớ, không một lời nào với giới báo chí cả.
Raymond chỉ còn nghe thấy tiếng điện thoại bị đặt xuống.
Ngay giờ đồng hồ sau đó anh đã lên lên đường đi London, anh về tới nhà mình tại đường Landsdowne ngay sau bảy giờ. Chuông điện thoại lại réo. Anh muốn mặc kệ tiếng réo kiên trì của nó nhưng lại lo đó là từ phố Downing.
Anh nhấc máy lên “Alô”.
-Có phải Raymond Gould không? - Một giọng vang lên từ đầu dây.
-Ai đang nói thế? - Raymond hỏi.
-Water Terry, từ báo
Daily Mail
.
-Tôi sẽ không thể nói gì được.
-Ông có nghĩ rằng Thủ tướng là đúng khi quyết định hạ giá đồng bảng không?
-Tôi đã nói là không thể nói mà, Water.
-Điều này liệu có nghĩa là ông sắp từ chức không?
-Water, đã nói là không có gì mà.
-Có phải là ông đã nộp đơn xin từ chức rồi không?
Raymond chần chừ.
-Tôi nghĩ là vậy, - Terry kết luận.
-Tôi đã nói là tôi không nói gì, - Raymond lúng búng và quăng điện thoại xuống - trước khi tháo nó ra khỏi đường dây.
Anh nhanh chóng tắm và thay áo trước khi rời khỏi nhà. Anh gần như không nhận thấy một tài liệu nằm ngay trên thảm cửa ra vào, và chắc chắn anh đã không dừng lại để mở thư ra nếu không nhìn thấy dòng chữ in đen trên góc trái - “Thủ tướng”. Raymond dọc phong bì. Trong thư người thư ký chỉ dẫn anh khi tới nơi đi vào bằng đường bên lề của phố Downing, chứ không vào bằng cửa chính. Trong thư có kèm theo một bản đồ nhỏ. Raymond bắt đầu cảm thấy mệt mỏi vì tất cả những chuyện này.
Hai phóng viên khác đang đợi ngay ngoài cửa. Họ đi theo anh ra xe.
-Ông đã từ chức có phải không thưa ông Thứ trưởng.
-Tôi không có gì để nói.
-Có phải ông đang đi gặp Thủ tướng không?
Raymond không trả lời và chui tọt vào trong xe. Anh phóng xe đi nhanh đến nỗi hai phóng viên không kịp có cơ hội đuổi theo.
Mười hai phút sau, đúng tám giờ kém năm, anh đã ngồi trong phòng chờ của Số 10 phố Downing. Đúng tám giờ anh được dẫn vào phòng làm việc của Harold Wilson. Anh ngạc nhiên thấy ông bộ trưởng Cao cấp, Bộ trưởng bộ Việc làm đều ngồi sẵn trong phòng.
-Chào Ray, anh khỏe chứ? - Thủ tướng hỏi.
-Thưa Thủ tướng, tôi khỏe.
-Tôi rất lấy làm tiếc phải nhận lá thư của anh và rất hiểu tình cảm của anh bây giờ, nhưng tôi hy vọng chúng ta có thể bàn bạc một cách giải quyết nào đó.
-Một cách giải quyết khác - Raymond nhắc lại, lúng túng.
-Đúng, chúng ta đều hiểu rằng việc hạ giá đồng bảng thực sự gây ra nhiều vấn đề cho anh sau khi anh đã viết
Đủ việc làm bằng mọi giá
. Nhưng tôi nghĩ có lẽ chuyển sang Bộ trưởng bộ Ngoại giao có lẽ là một cách giải quyết dễ chịu để anh thoát khỏi tình cảnh khó khăn này. Đây cũng là một sự thăng tiến mà anh xứng đáng được hưởng.
Raymond ngập ngừng. Thủ tướng tiếp tục, “Có lẽ anh cần biết rằng ông Bộ trưởng Tài chính cũng đã từ chức, nhưng sẽ chuyển sang bộ Nội Vụ.”
-Tôi rất ngạc nhiên - Raymond nói - Nhưng trong trường hợp của tôi, tôi không cho là đó là một việc danh giá nếu…
Thủ tướng vẫy tay gạt đi. “Với những vấn đề hiện nay chúng ta đang gặp phải ở Rdohesia và châu Âu, những kỹ năng về luật pháp của anh sẽ thực là có ích.”
Lần đầu tiên trong đời Raymond ghê tởm chính trị.
Những ngày thứ hai thường bắt đầu rất yên ắng ở Hạ nghị viện. Bộ máy tổ chức của Nghị viện không bao giờ đặt kế hoạch đưa ra bàn thảo các công việc có thể dẫn tới tranh cãi, vì các nghị sĩ thường vừa mới từ khu vực bầu cử từ khắp nơi trong nước quay trở lại. Quốc hội hiếm khi đầy người trước buổi tối. Nhưng việc công bố Bộ trưởng bộ Tài chính sẽ phát biểu về vấn đề đồng bảng hạ giá vào lúc 3.30 chắc sẽ đảm bảo là Hạ nghị viện chật ních người thậm chí trước lúc đó.
Người ta nhanh chóng lấp đầy các chỗ trong Nghị viện, và vào lúc 2.45 không còn một chiếc ghế nào còn trống. Những chiếc ghế xanh chỉ có thể chứa đủ bốn trăm hai mươi bảy thành viên đã được cố tình khôi phục lại như trước khi Đức đánh bom Cung điện Westminster vào ngày 10 tháng 5 năm 1941. Không khí ấm cúng của một nhà hát vẫn còn được giữ nguyên. Sir Giles Gilbert Scott đã không dừng được việc cố gắng làm nổi bật những trang trí gôtích của Barry, nhưng ông đồng tình với quan điểm của Churchill là việc nới rộng căn phòng sẽ làm hỏng không khí chật chội của những dịp lễ lớn.
Một số thành viên còn dồn vào các bậc cầu thang cạnh ghế của Người Phát ngôn và quanh chân chiếc ghế của các nhân viên xung quanh bàn. Một hai người còn ngồi nghễu nghện như những chú vẹt trên chiếc hộp dành bỏ phiếu hiện đang rỗng phía sau Người Phát ngôn.
Raymond Gould đứng dậy trả lời câu hỏi thứ bảy trong chương trình nghị sự, một câu hỏi có vẻ rất ngây thơ về những quyền lợi dành cho phụ nữ khi họ bị thất nghiệp. Ngay khi anh tới bục đối thoại, những tiếng gào “Từ chức đi” bắt đầu phát ra từ hàng ghế của đảng Bảo thủ, Raymond không thể giấu được sự ngượng ngùng của mình. Thậm chí cả những kẻ ngồi hàng thứ hai còn nhận thấy mặt anh tím đi. Việc anh không ngủ tối qua sau khi đồng ý với sự thu xếp của Thủ tướng xem chừng không giúp được gì. Trong khi anh trả lời câu hỏi, những tiếng gào “Từ chức đi” không hề giảm đi. Đảng Đối lập giữ yên lặng khi anh ngồi xuống, chỉ chờ đợi anh đứng lên để trả lời một câu hỏi khác. Câu hỏi tiếp theo Raymond phải trả lời là của Simon Kerslake ngay sau lúc ba giờ. “Bộ của ngài đã có những phân tích gì về những yếu tố đặc biệt đóng góp vào việc con số thất nghiệp tăng ở miền Trung?”.
Raymond liếc qua phần chuẩn bị của mình trước khi trả lời. “Việc đóng cửa hai nhà máy lớn trong khu vực này, một trong khu vực bầu cử của các nghị sĩ, đã làm tăng con số thất nghiệp của khu vực này. Cả hai nhà máy này chuyên sản xuất các chi tiết ô tô, và bị ảnh hưởng xấu bởi cuộc đình công ở Leyland”.
Simon Kerslake từ từ đứng dậy để hỏi những câu bổ sung. Các Nghị viện thuộc đảng Đối lập háo hức chờ đợi. “Chắc hẳn ngài Raymond còn nhớ là đã thông báo với Nghị viện, khi đáp lại những ý kiến phản bác mà tôi đưa ra trong thời gian nghỉ họp Nghị viện vào tháng Tư năm ngoái, rằng việc giảm giá sẽ làm tăng mạnh mức thất nghiệp ở miền Trung, và thực tế là trên cả nước. Vậy nếu như quý ngài cao quý đây đã công nhận điều này thì tại sao ông ta vẫn còn chưa từ chức?”. Simon ngồi xuống, trong khi các Nghị viện thuộc đảng Bảo thủ đồng thanh chất vấn “Tại sao, tại sao?”.
-Lời phát biểu của tôi trước Nghị viện vào dịp đó đang được dẫn ra không theo hoàn cảnh, và đến nay tình hình đã thay đổi.
-Đúng vậy, - một loạt các Nghị viện đảng Bảo thủ kêu lên, còn những nghị sĩ ngồi đối diện với Raymond ầm ầm đòi anh phải từ chức.
-Trật tự, trật tự - tiếng của người phát ngôn vang lên trong tiếng ồn ào.
Simon lại đứng dậy, tất cả các nghị sĩ của đảng Bảo thủ vẫn ngồi tại chỗ để đảm bảo là không ai bị gọi đến. Lúc này, bọn họ giống như đàn chó ăn mồi.
Kerslake trong bộ đồ thẫm màu, đầy vẻ tin tưởng đang chỉ tay về phía Raymond Gould, người lúc này đang cúi đầu và chỉ thầm mong cho kim giờ dừng ở mốc 3.30.
-Thưa này Chủ tịch trong buổi tọa đàm ấy, mà bây giờ ngài Raymond dường như rất vui sướng quên đi, Quý ngài chỉ nhắc lại những quan điểm đã được trình bày rõ ràng trong cuốn sách của mình. “
Đầy đủ việc làm bằng mọi giá
”. Phải chăng những quan điểm ấy đã được sửa đổi toàn bộ trong ba năm qua, hay vì mong muốn giữ cái ghế của mình quá lớn nên giờ đây ngài đã nhận thấy có thể dành được việc làm cho mình bằng mọi giá?”
Các Nghị viện đảng Đối lập lại đồng thanh: “Từ chức đi, từ chức đi”.
-Câu hỏi này không liên quan gì đến những điều mà tôi tường trình trước Nghị viện trước đây, - Raymond giận dữ đáp lại.
Simon đứng bật dậy và ông Chủ tịch Nghị viện gọi tên anh lần thứ ba.
-Phải chăng Quý ngài cao quý đang nói với Nghị viện rằng ông ta có một loại chuẩn mực đạo đức khi nói, còn khi viết lại có những chuẩn mực khác?
Giờ đây, toàn bộ Nghị viện ồ lên và một số ít nghe Raymond nói, “Không, thưa ngài, tôi cố gắng giữ vững ý kiến của mình”.
Ông chủ tịch đứng dậy và tiếng ồn từ từ lắng xuống. Ông ta nhìn quanh với vẻ mặt không đồng tình đầy phiền muộn.
-Tôi nhận thấy Nghị viện đã có ấn tượng mạnh về những vấn đề này, tuy nhiên tôi cần phải yêu cầu nghị sĩ danh dự của tỉnh trung Conventry rút lại lời nhận xét rằng Raymond đã xử sự không xứng đáng danh dự.
Simon đứng dậy và ngay lập tức rút lại ý kiến của mình, nhưng việc gây tổn hại đã hoàn tất. Việc này Không hề ngăn được tiếng la lớn của các Nghị viên. “Từ chức đi” cho tới khi Raymond phải rời phòng họp ít phút sau đó.
Simon ngồi xuống chỗ với vẻ mặt tự mãn khi Gould rời khỏi phòng. Các Nghị viên thuộc phe Bảo thủ cùng biểu quyết chấp nhận việc chấm dứt vị trí Thứ trưởng của Chính phủ. Bộ trưởng bộ Tài chính đứng dậy đọc thông báo đã được chuẩn bị từ trước về việc giảm giá. Simon hoảng sợ khi nghe thấy những lời mở đầu của người phụ trách về tài chính của quốc gia.
-Thành viên danh dự của vùng Bắc Leeds đã đệ đơn từ chức của mình tới ngài Thủ tướng vào tối thứ bảy nhưng chấp nhận chưa công bố tin này cho tới khi tôi có cơ hội phát biểu trước Nghị viện.
Ngài Bộ trưởng tiếp tục khen ngợi những thành tích của Raymond khi còn làm việc trong bộ Việc làm và chúc anh thành công khi quay về với vị trí nghị sĩ trong Nghị viện ngồi hàng ghế sau.
Jamie Sinclair đến gặp Raymond ngay sau khi ngài Thứ trưởng kết thúc việc trả lời các câu hỏi. Anh ta thấy Raymond ngồi sụp bên bàn với cái nhìn trống rỗng. Sinclair đến để bày tỏ sự thán phục trước cách xử sự của Raymond.
-Anh thật tử tế, - Raymond, lúc này vẫn còn bị sốc vì việc vừa xảy ra, nói.
-Tôi thực chẳng thích cái vị trí của Kerslake vào lúc này, - Jamie nói: - Chắc chắn Simon sẽ bị mọi người chửi rủa.
-Còn gì mà ông ta không biết, - Raymond đáp lại. – Hẳn là ông ta đã tập dượt ở nhà mà các câu hỏi rất trúng đích. Tôi nghĩ rằng chúng ta khó mà đề cập tới vấn đề theo các cách trong tình huống như hôm nay.
Một vài Nghị viên ghé vào văn phòng Raymond chia buồn với anh. Sau đó anh ở lại Bộ của mình chia tay với đồng nghiệp trong nhóm rồi về nhà ngồi yên lặng bên cạnh Joyce.
Không khí im lặng kéo dài cho đến khi người thư ký thường trực cất lời: “Thưa ngài, tôi hy vọng là chẳng bao lâu nữa, ngài sẽ quay lại làm việc trong Chính phủ. Quả thực, ngài đã làm cho cuộc sống của chúng tôi vất vả hơn, nhưng những gì mà ngài phụng sự suốt đời, ngài quả đã làm cho cuộc sống dễ dàng hơn”. Sự chân thành trong lời nói ấy làm Raymond xúc động, đặc biệt khi đó là lời của người trợ lý Bộ trưởng đã chuyển sang phục vụ sếp mới.
Ngày tháng trôi đi, và anh cảm thấy lạ kỳ là có thể ngồi xem vô tuyến, đọc sách hay thậm chí đi dạo mà không hề bị những cái hộp đỏ vây quanh hay chuông điện thoại đeo đẳng.
Rồi anh nhận được một trăm lá thứ của các đồng nghiệp trong Nghị viện, nhưng chỉ giữ lại một bức:
Thứ Hai, ngày 20 tháng 11 năm 1067
Gould thân mến!
Tôi đã nợ ông một lời xin lỗi chân thành. Trong cuộc sống chính trị này, tất cả chúng ta đều đã gây ra những lỗi lầm lớn về con người, và vậy là hôm nay tôi đã phạm phải.
Tôi tin rằng hầu hết các nghị sĩ trong Nghị viện đều thực sự mong muốn phục vụ đất nước, và để chứng minh điều đó thì không có cách nào cao quý hơn bằng cách từ chức khi cảm thấy rằng Đảng của mình đã đi sai đường lối.
Tôi cảm thấy ghen tị trước sự kính trọng mà giờ đây toàn thể Nghị viện đang dành cho ông.
Kính thư
Simon Kerslake”.
Khi Raymond trở lại Nghị viện vào buổi chiều hôm đó, tất cả các nghị sĩ từ hai phía đều hò reo chào đón khi anh bước vào phòng họp. Ông Bộ trưởng, người lúc bấy giờ đang báo cáo với Nghị viện đành phải đợi cho đến khi Raymond ngồi xuống ghế hàng sau.
9
Khi Edward Heath gọi điện về nhà thì Simon đã đi khỏi. Phải mất một tiếng sau Elisabeth mới nhắn được tin cho anh biết người đứng đầu của Đảng muốn gặp anh vào lúc hai rưỡi. Charles đang ở Ngân hàng khi trưởng ban tổ chức Nghị viện gọi điện để đề nghị họ gặp nhau vào lúc hai rưỡi chiều trước khi Hạ nghị viện bắt đầu làm việc.
Charles có cảm giác giống như một cậu học trò nghe giáo viên chủ nhiệm báo tới gặp tại phòng làm việc sau giờ ăn trưa vậy. Viên trưởng ban tổ chức gọi điện lần cuối cùng là để yêu cầu Charles phát biểu kết thúc cuộc họp, và từ đó họ hầu như không gặp lại nhau. Charles hay sốt ruột nên chỉ thích mọi người nói cho biết ngay vấn đề gì. Anh quyết định rời ngân hàng sớm hơn và ăn trưa tại Nghị viện để chắc chắn là không bị muộn so với giờ hẹn gặp buổi trưa hôm ấy.
Charles cùng một số nghị sĩ đến bên chiếc bàn lớn nằm giữa phòng ăn của các nghi sĩ và lấy chiếc ghế duy nhất còn trống cạnh Simon Kerslake. Hai người không được thân thiện cho lắm kể từ cuộc tranh quyền lãnh đạo giữa phái Heath và Maudling. Charles không coi trọng Kerslake lắm. Có lần anh nói với Fiona rằng Kerslake là một trong những hạt giống mới của phái Bảo thủ. Người hơi quá sức cố gắng, và anh không hề khó chịu khi nhìn thấy Kerslake bối rối trước sự từ nhiệm của Gould. Fiona là người duy nhất Charles nói thật điều này.
Simon nhìn Charles ngồi xuống ghế và tự hỏi không biết bao lâu nữa Đảng mình còn tiếp tục chọn những tay lính gác Estonia, những người dành nhiều thời gian làm tiền trong thành phố, rồi sau đó là ở Ascot hơn là thời gian làm việc ở Nghị viện - Điều này không có nghĩa là Simon chỉ nói ý kiến này riêng với những người tin cẩn của mình đâu.
Cuộc bàn bạc bên cạnh bàn ăn xoay quanh xu hướng đáng chú ý của kết quả cuộc bầu cử phụ mà Đảng Bảo thủ dành được ba ghế chủ chốt trong Nghị viện. Rõ ràng hầu hết những người ngồi bên bàn đều rất háo hức chờ đón cuộc tổng tuyển cử, mặc dù Thủ tướng không phải kêu gọi tuyển cử trong vòng ít nhất ba năm nữa.
Cả Charles lẫn Simon đều không gọi cà phê.
Vào lúc hai giờ hai mươi lăm phút. Charles nhìn thấy ông trưởng ban tổ chức Nghị viện rời khỏi bàn của mình ở trong góc nhà ăn, rồi bước về phía phòng làm việc của ông ta. Charles nhìn lại đồng hồ và chờ thêm một giây mới rời chỗ, trong khi các đồng nghiệp của anh bắt đầu sôi nổi tranh luận việc gia nhập thị trường chung.
Anh thong thả đi qua phòng hút thuốc rồi rẽ trái ở lối vào đi về phía thư viện. Sau đó, anh tiếp tục đi xuôi hành lang Ways Means cổ kính cho tới khi đi qua văn phòng của Đảng Đối lập ở phía tay trái. Bước qua cánh cửa vào sảnh của các nghị sĩ, anh lại đi băng qua sảnh đến văn phòng Tổ chức của Chính phủ đang cầm quyền. Anh bước dài vào phòng bà thư ký Norse, người được ngài Trưởng ban tổ chức rất quý, ngừng đánh máy.
-Tôi có cuộc hẹn với ông Trưởng ban – Charles nói.
-Vâng, ông Hampton, ông ấy đang đợi ông. Mời ông vào.
Charles lại tiếp tục đi xuôi hành lang và thấy ông trưởng ban đang đứng trước cửa văn phòng.