Sat Nhan Mang

phần mềm giải mã tài liệu đó. Nó có thể làm điều đó trong

phần mềm giải mã tài liệu đó. Nó có thể làm điều đó trong

phần mềm giải mã tài liệu đó. Nó có thể làm điều đó trong vài giây.” “Không thể nào,” Anderson nói, cười lớn. “Không thể thực hiện được điều đó đâu.” Gillette nói, “Đó cũng là những gì tôi nói với họ. Họ không tin tôi.” Tuy nhiên, khi Anderson quan sát đôi mắt nhanh nhạy, trũng sâu dưới cặp lông mày tăm tối và đôi tay ngọ nguậy bồn chồn không yên trước mặt mình, ông tự hỏi liệu có khi nào tay hacker này đã thực sự viết ra một chương trình thần kỳ như thế. Bản thân Anderson không thể làm được điều đó, ông cũng chẳng biết bất cứ ai có thể làm được. Nhưng sau tất cả, ông đang ở đây lúc này, phải ngả mũ vì Gillette thực sự là một phù thủy, thuật ngữ mà các hackers sử dụng để ám chỉ những người đạt tới cảnh giới cao nhất trong Thế giới máy tính. Có tiếng gõ cửa và viên cai ngục đưa hai người đàn ông bước vào. Người đầu tiên, tuổi ngoài bốn mươi, có một khuôn mặt gầy, mái tóc vàng sẫm cứng ngắc theo nếp nhờ gôm xịt được chải ngược ra sau. Và phần tóc mai dày rậm tuyệt đẹp. Ông ta mặc bộ comple màu xám rẻ tiền. Chiếc áo sơ mi trắng sờn cũ và quá khồ,

lòi một nửa ra ngoài. Ông ta liếc nhìn Gillette một cách thờ ơ. “Chào anh,” ông ta nói với viên giám ngục bằng một giọng đều đều. “Tôi là Thám tử Frank Bishop, Sở cảnh sát bang, Đội điều tra trọng án.” Ông ta gật đầu chào xã giao với Anderson rồi im lặng. Trẻ hơn một chút, nhưng vạm vỡ hơn, người đàn ông thứ hai bắt tay viên giám ngục và Anderson. “Thám tử Bob Shelton.” Khuôn mặt anh bị rỗ vì mụn nhọt hồi nhỏ. Anderson không biết bất cứ điều gì về Shelton, nhưng ông đã từng nói chuyện với Bishop và có cảm xúc lẫn lộn về sự can thiệp của anh ta trong vụ án khiến Anderson có mặt ở đây. Bishop cũng là một bậc thầy trong lĩnh vực của mình, dù chuyên môn của anh ta là săn lùng những tên giết người và phạm tội hiếp dâm ở những khu vực khó nhằn lân cận như vùng đất cảng Oakland, Haight-Ashbury và San Francisco Tenderloin. Cảnh sát Đơn vị điều tra tội phạm máy tính không được cấp phép, hay trang bị, để thực hiện điều tra các vụ giết người mà không có sự hỗ trợ của người từ bộ phận Trọng án, nhưng sau vài cuộc thảo luận ngắn gọn qua điện thoại với Bishop, Anderson cũng không có ấn tượng gì lắm. Viên cảnh sát hình sự dường như không có khiếu hài hước và thường xuyên xao nhãng và, rắc rối hơn là, chẳng biết gì về máy tính cả. Anderson cũng từng nghe nói rằng thậm chí bản thân Bishop cũng không hề muốn làm việc với Đơn vị điều tra tội phạm máy tính (CCU). Anh ta đã và đang vận động hành lang để được tham gia vào vụ MARINKILL – được FBI đặt tên theo địa điểm xảy ra vụ án: Vài ngày trước, ba tên cướp nhà băng đã giết hai người qua đường và một cảnh sát ở Ngân hàng America chi nhánh Sausalito trong Hạt Marin. Có người trông thấy họ chạy trốn về hướng đông, điều đó có

nghĩa là rất có thể họ đã rẽ sang hướng nam về phía địa phận của Bishop, khu vực San Jose. Thực tế, lúc này, điều đầu tiên Bishop làm là kiểm tra màn hình điện thoại của mình, chắc là để xem có nhận được thông báo hay tin tức gì về việc sắp xếp lại nhiệm vụ không. Hất đầu về phía hai chiếc ghế dài quanh chiếc bàn kim loại, Anderson nói với hai thám tử, “Các quý ngài đây có muốn ngồi xuống không ạ?” Vẫn đứng yên ở đó, Bishop lắc đầu. Anh ta nhét áo vào quần rồi khoanh tay trước ngực. Shelton ngồi xuống cạnh Gillette. Rồi viên cảnh sát to lớn nhìn vào mặt tên phạm nhân một cách đầy ghê tởm và đứng dậy, ngồi sang phía bên kia của chiếc bàn. Anh ta lầm bầm nói với Gillette, “Thi thoảng cậu cũng cần phải tắm rửa đi chứ.” Tên tù nhân đáp lại, “Thế thì ông nên hỏi ngài giám ngục tại sao tôi chỉ được tắm mỗi tuần một lần.” “Bởi vì, Wyatt,” viên giám ngục nói một cách bình thản, “anh đã vi phạm quy định của trại. Đó là lý do anh phải ở khu biệt giam?” Anderson không có đủ thời gian và sự kiên nhẫn để cãi nhau. Ông nói với Gillette, “Chúng tôi có chút rắc rối và đang hy vọng sẽ nhận được sự giúp đỡ từ cậu.” Ông ta liếc nhìn Bishop và nói, “Anh có muốn tóm tắt cho anh ta nghe không?” Theo đúng quy định của Sở cảnh sát bang, Frank Bishop là người chịu tránh nhiệm chỉ đạo việc xử lý vụ án. Nhưng người cảnh sát mảnh khảnh lắc đầu. “Không, thưa ngài, ngài có thể tiếp tục.”

“Đêm hôm qua, một người phụ nữ đã bị bắt cóc từ một nhà hàng ở Cupertino. Cô ta đã bị sát hại và người ta tìm thấy cái xác ở Portola Valley. Cô ta đã bị đâm đến chết. Không có dấu hiệu bị xâm hại tình dục và chẳng có động cơ rõ ràng nào cả.” “Chà, nạn nhân này, Lara Gibson, đang điều hành một trang Web đưa ra các lời khuyên để giúp phụ nữ tự bảo vệ mình. Cô ấy đã lên báo rất nhiều lần và xuất hiện trên Lary King. Uhm, sự việc xảy ra như sau: Cô ấy đang ở trong quầy bar thì một người đàn ông bước tới, có vẻ như hắn ta quen biết cô ấy. Hắn tự giới thiệu mình là Will Randolph, người phục vụ quầy bar nói. Đó là tên người anh họ của một cô gái mà nạn nhân hẹn gặp vào buổi tối hôm qua. Randolph không liên quan gì cả, anh ta đã tới New York được một tuần rồi, nhưng chúng tôi tìm thấy một bức ảnh kỹ thuật số chụp anh ta trên máy tính của nạn nhân và trông họ na ná nhau – nghi phạm và Randolph. Chúng tôi cho rằng đó là lý do tại sao nghi phạm chọn anh ta để giả mạo. Vì thế, hắn biết tất cả mọi thông tin về nạn nhân: Bạn bè, những nơi cô ấy hay lui tới, cô ấy thường làm gì, sở hữu loại chứng khoán nào, bạn trai cô ấy là ai. Thậm chí hình như hắn đã vẫy chào ai đó trong quầy bar nhưng Đội điều tra trọng án đã thẩm vấn hầu hết những khách hàng ở đó tối hôm qua và không tìm thấy một ai biết chút gì về hắn. Do đó chúng tôi cho rằng lúc ấy hắn chỉ giả vờ thôi, anh biết đấy, để làm cho cô ấy thoải mái, ra vẻ là một khách quen.” “Hắn sử dụng kỹ thuật social engineering[4] với cô ấy,” Gillette nói. “Là sao?” Shelton hỏi.

Anderson hiểu thuật ngữ nhưng chưa kịp giải thích thì Gillette đã nói, “Nó có nghĩa là đóng giả một ai đó, giả vờ là một người không phải mình. Hacker lợi dụng điều này để xâm nhập vào các cơ sở dữ liệu và các đường dây điện thoại, rồi tiếp cận để lấy mật khẩu. Anh càng đưa ra được nhiều thông tin về ai đó, thì họ lại càng tin tưởng anh và làm theo những gì anh muốn.” “Giờ thì, cô bạn mà Lara hẹn gặp – Sandy Hardwick nói rằng cô ấy đã nhận được cuộc gọi từ một người nào đó tự nhận là bạn trai của Lara và hủy bỏ kế hoạch cho bữa tối. Cô ấy đã cố gắng liên lạc nhưng điện thoại của Lara lại nằm ngoài vùng phủ sóng.” Gillette gật đầu, “Hắn đã phá sóng điện thoại của cô ấy,” và cau mày, “Không, có lẽ là cả hệ thống di động luôn.” Anderson gật đầu. “Hãng Mobile America đã báo cáo về một vụ cắt nguồn điện kéo dài chính xác bốn mươi lăm phút ở cột phát sóng 850. Ai đó đã bấm mã tắt nguồn điện rồi bật lại.” Gillette nheo mắt lại. Viên thám tử nhận ra hắn đang ngày càng thích thú với vụ án. “Vậy,” tay hacker đăm chiêu, “hắn biến mình thành ai đó mà Lara tin tưởng rồi sát hại cô ta. Và hắn thực hiện điều đó bằng những thông tin lấy được từ máy tính của cô ấy.” “Chính xác.” “Cô ấy có sử dụng dịch vụ Internet của hãng nào không?” “Horizon Online.”

Gillette cười lớn. “Chúa ơi, các ông có biết nó được bảo mật tốt thế nào không? Hắn đã xâm nhập vào một trong các router [5] của họ và đọc e-mail của cô ấy.” Rồi hắn lắc đầu, dò xét khuôn mặt của Anderson. “Nhưng đó chỉ là trò trẻ con mà thôi. Bất cứ ai cũng có thể làm điều đó. Mọi chuyện còn hơn thế nữa, phải không?” “Đúng vậy,” Anderson tiếp lời. “Chúng tôi đã nói chuyện với bạn trai Lara và kiểm tra máy tính của cô ta. Một nửa số thông tin mà người phục vụ quầy bar nghe thấy gã sát nhân nói với cô ta không phải là từ các e-mail của cô ấy. Chúng nằm trong chiếc máy tính.” “Có thể hắn đã sử dụng phương thức Dumpster ping[6] ở bên ngoài nhà cô ấy và có được thông tin bằng cách đó.” Anderson giải thích với Bishop và Shelton, “Dumpster ping có nghĩa là lục lọi trong các thùng rác để lấy được những thông tin có ích cho việc hack, chẳng hạn như các giấy tờ, tài liệu, các bản in, hóa đơn bị vứt, nói chung là những thứ kiểu như vậy.” Nhưng ông cũng nói với Gillette, “Tôi nghi ngờ khả năng này – tất cả những điều hắn biết đều được lưu trữ trong máy tính của cô ấy.” “Vậy nếu như đó là một vụ đột nhập kiểu hard access (không qua mạng máy tính) thì sao?” Gillette hỏi. Đó là khi một tay hacker đột nhập vào nhà hoặc văn phòng của ai đó và sử dụng máy tính của nạn nhân. Còn Soft access (xâm nhập mềm) là việc đột nhập vào một chiếc máy tính đang kết nối mạng từ một khoảng cách xa. Nhưng Anderson đưa ra câu trả lời là, “Nó phải là soft access. Tôi đã nói chuyện với người bạn mà Lara hẹn gặp hôm đó, Sandy. Cô ấy nói lần duy nhất họ nói chuyện về việc sẽ tụ tập tối hôm đó là

qua tin nhắn trực tiếp

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 12

Đang tải bình luận...
phần mềm giải mã tài liệu đó. Nó có thể làm điều đó trong - Sat Nhan Mang | DocTruyen.vip | DocTruyen.vip