phần vì Biệt Năng chợt ‘đình công’, rồi một bóng ma nào đó cứ lặp đi lặp lại mãi hai từ ‘New Mexico’, cậu đã bấu víu chặt vào đó quyết không tha.” “Cậu mơ chung một giấc mơ với tôi sao?” Tôi ngạc nhiên. Trong giấc mơ vừa qua, thực sự tôi thấy an tâm khi gặp Số Chín – có Số Chín bên cạnh. Rõ ràng là Số Chín và tôi có một mối tương quan chặt chẽ nào đó, vậy tôi càng phải trân trọng cậu ta hơn trước đây. Cậu ta không thể nào là một kẻ chuyên ngáng đường, nói năng ngược ngạo được. Sinh mệnh hai đứa chúng tôi đã quyện chặt vào nhau. Số Chín mặt áo sơ mi vào, nhìn tôi với vẻ nhượng bộ thấy rõ. “Không phải vậy, cậu ngốc à. Bộ cậu vẫn chưa thấy hả? Không phải là tôi cùng giấc mơ như cậu. Hai đứa mình cùng tham gia vào một giấc mơ. Chuyện này diễn ra cả tuần nay rồi. Thử tìm chút manh mối đi, cậu làm được mà!” Tôi đỏ mặt, chẳng cần phải giấu diếm nữa hỏi luôn: “Vậy tại sao mỗi lần tôi đề cập đến chuyện này, cậu lại gạt phắt đi? Đã thế, cậu còn lải nhải rằng chuyện này chỉ là mơ mộng hão huyền, không phải sự thật. Cậu rõ ràng thấy những giấc mơ kia dày vò tôi đến mức nào mà, phải không? Nhưng mỗi lần tôi nhắc đến, cậu cứ làm như tôi bị điên.” “Ai bảo cậu cứ tự cho mình là Pittacus Lore, xét về chuyên môn, cậu chẳng phải điên nặng thì là gì nữa! Thoạt tiên, lần đầu tham dự vào những giấc mơ chung – của hai đứa – tôi thực sự chả tin mấy, thậm chí còn cho đó là mấy thứ vớ vẩn, tào lao. Nhưng đến khi gã Setrákus Ra ép tôi đầu hàng, y hệt như đã ép cậu cùng mấy người kia nữa, tôi mới nghĩ rằng đây là một trò chơi, một cuộc chiến tinh thần hay một bí mật kỹ thuật nào đó mà bọn Mog đã xâm nhập được phần nào. Khi ấy tôi mới bắt đầu tin các giấc mơ này; tuy vậy, chắc chắn không phải lúc nào tôi cũng nghe theo tiếng nói của các giấc mơ. Sự thực, tôi nghĩ biện pháp an toàn nhất là chúng ta cứ làm mọi chuyện ngoại trừ những điều bọn Mog muốn điều khiển ta. Nhưng lần này…” Số Chín yên lặng một chút rồi tiếp: “Lần này, tôi thấy có vẻ như đây là một lời cảnh tỉnh ta nên suy xét cẩn thận. Giờ đây, tôi thấy mình cũng
nên tin cậu, cũng nên thấy chút sự tình nghiêm trọng nên mới ngả theo cậu, Số Bốn à.” Tôi thở phào nhẹ nhõm vì Số Chín cuối cùng đã chịu nghe theo. Phải chi hắn chịu nghe sớm hơn thì ban nãy tôi đâu có phát khùng như vậy. “Vậy là làm theo ý tôi đúng không! Tốt quá, vậy lên đường thôi! Cậu đã chọn phương tiên đến đó chưa? Ôi, trời! Đừng bảo là cậu với chú Sandor tậu cả máy bay đang giấu đâu đây nghen!” “Xin lỗi à, cậu ngốc! Mấy món đó đâu thiếu trong danh mục cần mua sắm sắp tới.” Cậu ta ngáp dài, ưỡn người ra nói tiếp: “Nhưng tôi có riêng một cái xe hơi đang để ở ga-ra. Tôi khoái tự tay mình lái xe lắm. Tốc độ cao mới đã.” Số Chín và tôi cố gom lấy thật nhiều vũ khí trong ‘kho’ rồi lèn chặt vào hai bao da cỡ lớn: súng trường, súng lục và lựu đạn. Tôi cúi xuống định vác thêm một khẩu phóng hỏa tiễn cá nhân nhưng Số Chin gạt đi vì quá cồng kềnh, cho vào túi không vừa. Vả lại, còn phải chừa chỗ để dồn đạn dược vào. Sau đó, hai đứa chạy sang phòng giám sát lấy cái máy tính bảng. Số Chín ngồi xuống, nhấn mấy phím trên một máy vi tính: “Tôi phải tắt hẳn mấy cái này, đề phòng những vị khách không mời mà đến. Giúp giùm tôi cái: Trong khi tôi tắt máy, cậu thử dò vị trí Chiến Binh Tinh Nhuệ đang cầm một thiết bị giống như cái máy tính bảng này ấy.” Tôi nhấn biểu tượng vòng tròn xanh ở góc trên màn hình rồi chờ đợi. Tôi thấy hai chấm xanh dương ở Chicago. Rồi một chấm ở New Mexico, một chấm kia ở Jamaica. Tôi đợi thêm vài phút chờ mấy chấm còn lại xuất hiện, nhưng vẫn không thấy. “Ơ, Số Chín này! Sao tôi thấy có bốn chấm à?” Tôi không kiềm được, thất thanh la to: “Còn có bốn chấm thôi, Số Chín!” Cậu ta giằng lấy cái máy tính bảng trên tay tôi: “Để tôi xem nào. Phải thế nào mới ngoài tầm được chứ!” Chuyện xảy ra bất ngờ nên Số Chín cũng hết dám tin vào mình. Cậu ta nhấn vào biểu tượng tam giác xanh lá và những chấm xanh vẫn hiện trên màn hình ở khu vực New Mexico và Ai Cập, như cũ. “Ít nhất ba chấm bị mất kia không có liên hệ gì với một trong những con tàu.”
Tôi nhìn sát hơn vào màn hình và ấn biểu tượng vòng tròn xanh dương thêm lần nữa thì phát hiện ra chấm xanh dương ở New Mexico giờ trùng sát với chấm xanh lá. “Vậy Chiến Binh này đang ở trên đỉnh con tàu, nếu ta giả dụ chấm xanh này là con tàu.” “Lạy trời, dù đó là ai thì đây cũng là một chuyến đi đơn độc.” Số Chín nhận xét. Tôi lắc lắc đầu, nhìn lại màn hình cố phác thảo bước hành động kế tiếp. Rồi tôi giật mình: “Khoan nào. Chính phủ Mỹ dính líu vào vụ này cũng không ít, phải không? Vậy ở New Mexico còn gì khác nữa? Khu Vực 51! Chẳng phải điểm xanh lá ở ngay vị trí này? Chẳng phải đây là khu vực nổi tiếng nhất thường thấy xuất hiện đĩa bay đó sao?” Các mảnh vỡ đã dần ghép thành những đoạn ý nghĩa liên lạc. Số Chín kéo sát bàn phím vào người để gõ nhanh hơn: “Từ từ chút, anh chàng chăn bò! Trước hết, Khu Vực 51 nằm ở Nevada, thưa ngài. Thứ hai, là những công dân vũ trụ, chúng ta thừa hiểu đây chỉ là trò chim mồi dụ bẫy. Chỉ là một cái nhà chứa máy bay vô nghĩa mà thôi.” Trên màn hình chính xuất hiện bản đồ New Mexico và Số Chín phóng đại khu vực phía bắc. “Được rồi, đợi một giây.” Cậu ta ngước mặt khỏi chiếc máy vi tính. “Đây rồi, thứ này hơi bị hay đó. Cậu chắc cũng chưa nghĩ ngợi xa đến thế này đâu. Chúng ta không cần đâm đầu vào Khu Vực 51, mà sẽ đến một nơi bí mật.” “Cậu nói thế nghĩa là gì?” Tôi bật hỏi, lòng tự rủa mình khi không cứ dính dấp với tên này để tim cứ hết tung lên lại rơi xuống. Số Chín gạt chiếc ghế ra xa bàn, nhe răng cười khoái trá đến phát bực. “Cục gì gì đó. Giờ mọi thứ ăn khớp hết.” Cậu ta lấy ngón tay gõ nhẹ vào màn hình. “Ở khu vực New Mexico này, giữa sa mạc có một thị trấn tên là Dulce. Có nghe ra chút tin tức gì chưa? Chưa hả? Dulce chẳng phải trùng tên với một căn cứ quân sự ngầm vốn khét tiếng lâu nay? Đây là một cơ sở do chính phủ Mỹ quản lý. Vậy con tàu của chúng ta nhất định nằm ở đây rồi. Đây nè, tôi xác định đây là những con tàu của chúng ta nhưng đã bị xóa khỏi màn hình! Chính phủ đâu ngu ngơ gì, họ tát nước theo mưa, bơm thêm bao lời đồn đại lung tung về đĩa bay tập trung vào Khu Vực 51, vì thế Dulce dần rơi vào quên lãng.”
Không kìm được nụ cười, tôi kết luận: “Vậy hai đứa sẽ đến căn cứ ngầm của chính phủ Mỹ phải không?” “Chắc phải đến thế mất.” Số Chín vừa nói vừa tắt màn hình. Cậu ta khom người ngả mũ chào thật trịnh trọng vì bản thân đã tìm ra đáp án rắc rối này. “Tuy nơi này đúng là vô cùng an toàn cũng như là chốn bất khả xâm phạm, nhưng phải nhớ đây cũng chính là địa điểm lý tưởng để giấu những con tàu của người Lorien chúng ta.” Tôi góp ý: “Và cũng che mắt được những ‘người ngoài trái đất’ nào tình cờ đi qua.” Từ lúc thức giấc đến giờ, mọi thứ như lộn tùng phèo hết cả lên. Hai đứa vội vội vàng vàng gom vũ khí, hai chiếc Hộp cùng các vật dụng khác chất vào thang máy. Khi cửa thang máy khép lại, hai thằng với BK cùng nghẹt thở trong thang với bốn bên đồ đạc bề bộn. Số Chín khiến tôi hơi ngạc nhiên với màn ‘ướt át’: cậu ta thì thầm với cánh cửa căn hộ đang đóng: “Chiacago, bạn là ngôi nhà thân thương. Ta hẹn ngày gặp lại nhé.” Thang chạy thật nhanh, nhưng tôi vẫn kịp nói: “Nè, ông bạn,hãy nhớ kỹ. Nhà thiệt còn đã hơn nhiều.” Cậu ta không trả lời, nhưng tôi thấy đôi vai kia khẽ thả lỏng. Cửa thang máy mở ra nhà xe dưới hầm. Chúng tôi không vội bước ra, sau khi quan sát kỹ mới bắt đầu vác đồ đạc chạy nhanh ra ngoài. Chỉ một loáng, hai thằng xốc hết đồ đạc lên vai rảo bước, BK lũn cũn chạy theo. Qua góc quẹo, chúng tôi cùng tiến về phía một chiếc xe ẩn mình dưới lớp vải dầu bụi bặm. Trước vẻ xa hoa của căn hộ bên trên, tôi đoán đây chắc cũng phải là một chiếc Feerrari vàng hay một kiểu thời thượng tương đương. Bằng không thì cũng một chiếc Porsche mui gập trắng toát hay một ‘chú’ Lotus đen bóng. Chắc Số Chín đọc được suy nghĩ của tôi nên cậu ta nháy mắt rồi giựt phăng tấm trùm, lộ ra ‘con’ Ford Contour màu cà phê sữa cũ kĩ, đuôi nhỏng đang ‘toát lên dáng lộng lẫy kiêu sa’! Không đúng như tôi hằng mong, nhưng giờ chỉ là chuyện nhỏ; con xe này khi gài số rồi thì phải nói là hết biết!. “Cậu không giỡn đấy chứ?” Tôi hỏi ngay, chẳng thèm che đậy vẻ tởm lợm cái xe tồi tàn trước mặt.
Thừa hiểu ý tôi, Số Chín nhìn tôi với vẻ vô tội, đáp: “Gì nữa đây? Bộ cậu muốn một con Camaro chắc?” “Không hẳn vậy. Nhưng tôi đâu nghĩ cái xe gỉ sét đến mức này. Trông thiệt dọa người, ghê quá!” “Bớt lời giùm rồi lên xe đi, John.” Cậu ta vừa nói vừa chất đồ vào cốp sau của xe. “Cậu đúng có mắt không tròng.” CHƯƠNG HAI MƯƠI HAI Cảm nhận đang bị lúc lắc tới lui, tôi thức giấc. Toàn thân ê ẩm, đau đớn, mặt trời như một chảo lửa rang bỏng rát từng bộ phận của cơ thể tôi: cổ họng, lớp da, hai chân, đầu cổ. Môi tôi khô bỏng giộp, không khép miệng nổi. Mi mắt bị thương nặng nhất, không mở nổi dù tôi muốn nhìn quanh đến mức tuyệt vọng. Cảm giác đong đưa tiếp tục kéo dài, nhờ thế tôi đoán chắc mình đang nằm trên một chiếc xe hay một máy bay đang chuyển động. Cơn buồn nôn xâm chiếm cơ thể. Khi cổ giơ tay lên đầu, tôi mới phát hiện hai tay đã bị trói chặt sau lưng. Hai chân cũng bị trói. Lúc này tôi tỉnh hẳn, cố ép mãi đôi mắt cũng mở ra và tôi ngấu nghiến nhìn xung quanh nhưng chỉ thấy tuyệt một màu đen. Tôi đành nhắm mắt lại. Chắc ánh mặt trời sa mạc đã khiến đôi mắt tôi bị mù. Tôi cố cất tiếng gọi cầu cứu, nhưng chỉ phát ra chuỗi tiếng ho sặc sụa cùng mớ âm thanh khò khè. Tai tôi mở ra đón nghe tiếng vọng, và tôi tập trung vào bầu không khí xung quanh. Ho thêm, nghe thêm tiếng vọng một lần. Thế cũng đủ: tôi đang bị nhốt trong một không gian chật hẹp, bốn bề là kim loại. Có vẻ như tôi đang nằm trong một cỗ quan tài, thật khốn khổ. Lúc này, tôi bắt đầu kinh hoàng thực sự. Nếu như mình không mù thì sao? Làm sao đây nếu như mình thực sự đã chết? Tôi chưa thể chết được. Còn đó cảm giác đau đớn – đau đến dồn dập – nên đâu đã chết. Vậy đây là thứ cảm giác mình đang bị đưa đi chôn sống. Hơi thở tôi dồn dập hơn rồi trở nên kinh hãi khi nghe một giọng đàn ông vang lên, cắt ngang cơn hãi hùng. Qua loa phát thanh, một giọng nói điện tử vang to: “Đã tỉnh rồi à?” Tôi cố trả lời nhưng cổ họng khô ran nên không bật thành tiếng. Tôi gõ mấy ngón tay xuống mặt ghế mới biết rằng băng ghế cũng làm bằng kim
loại. Vài giây sau, một tiếng động to vang lên bên phải và tôi có cảm giác như có một vật gì được đặt cạnh mình. “Ngay bên cô là một ly nước có ống hút. Cô hớp một ngụm thấm giọng đi.” Giọng người đàn ông nói. Tôi quay đầu và lấy miệng tìm ống hút. Môi khô nẻ lại thêm nứt vỡ khi tôi ngậm miệng hút nước. Ngụm nước đầu tiên trôi qua cổ, tôi cảm nhận được chút vị máu và nghe thấy tiếng rì rì trầm thấp qua tai – y hệt tiếng động tôi nghe thấy ở cánh cửa sắt trước khi bất tỉnh. Cái hộp nhốt tôi chắc cũng có điện truyền qua. “Cô đã làm gì khi đứng bên cạnh cánh cửa kia?” Người đàn ông truy hỏi. Mỗi lần người này cất tiếng, tôi lại kinh ngạc vì giọng nói nghe vô cảm, ngang phè phè – không thân thiện, cũng không dọa dẫm. “Lạc đường.” Tôi thì thào. “Tôi lạc đường.” “Tại sao cô đi lạc?” Tôi nhấp một ngụm nước dài rồi đáp: “Tôi cũng không biết.” “Cô không biết. Nhưng tôi biết. Bí danh của cô là Số Sáu, chẳng phải sao?” Tôi bật ho và phát nghẹn vì câu hỏi này, đầu ráng vắt ra câu trả lời. Bình thường tôi chẳng mấy khi yếu tâm lý thế này, nhưng vừa rồi cái nắng chói chang đã thiêu đốt tôi đến chín nhừ. Nếu trước đây, những lời của người đàn ông này còn chút ngờ vực, lúc này mang tính khẳng định tuyệt đối. Tôi xoay trở tìm chỗ hở, tránh phạm những lỗi lầm ngu xuẩn. Giọng vô cảm kia lại vang lên: “Ờ, cô Số Sáu này. Cô tiếng tăm không ít ở vùng này. Nhìn cái cảnh ở trường trung học tại Paradise cùng cách cô hạ những chiếc trực thăng ở Tennessee thì quả không kém phần ấn tượng. Rồi thêm màn trình diễn ngoài sức tưởng tượng ở thủ đô tuần trước nữa, giải thoát John Smith và Adam Goode khỏi trại giam liên bang. Cô đúng là nữ hoàng chiến binh, chẳng phải sao?” Tôi vẫn ‘ú ớ’ không hiểu vì sao con người này biết tôi tường tận đến thế, cứ như tôi đang đóng một vai diễn và con người này chiếm lấy một ghế hàng đầu mà chăm chú theo dõi vở diễn cuộc đời của cô. Cơ thể cứng đờ khó khăn quay sang trái, tôi nhận ra mình đang ngồi trên một chiếc ghế
xoay, và nhờ vậy biết rõ hơn mình đang ở đâu. Tôi gồng cơ mặt hòng bật đứt đai dai cột trán, nhưng bất lực. Tôi xoay sang thử dùng trí lực, nhưng vừa mới bắt đầu tập trung tinh thần thì bụng cuồn cuộn đau nên cũng đành chịu thua. “Lúc này thứ cô cần là thư giãn và nghỉ ngơi. Đánh đấm mãi cũng chẳng ăn thua gì. Cô đang bị mất nước và rất có khả năng bị đột quị do nắng nóng. Có lẽ sắp tới cô còn đổ một trận bệnh nữa.” Nén cơn đau, tôi ráng hỏi: “Ông là ai?” “Thanh tra David Purdy thuộc FBI.” Người đàn ông đáp. Tôi cảm thấy bớt lo khi biết mình trong tay chính phủ Mỹ, không bị bọn Mog bắt. Với bọn Mog, tôi khó lòng vượt qua ải tử lần nữa, nhất là khi tấm bùa hộ mệnh lần trước đã tan vỡ. Trong tay FBI, cơ hội sống sót bỗng tăng vọt. Dù tàn ác đến đâu, FBI cũng không phải là bọn quái vật. Lúc này, điều tôi cần chỉ là chút tính kiên nhẫn, đợi thời cơ đào thoát. Thanh tra Purdy không chút ngờ vực, cho đấy là chuyện xa vời. Lúc này, tôi làm đúng lời khuyên kia. Nghỉ ngơi thư giãn. Bổ sung nước cho cơ thể. Chờ đợi. Tôi cũng có thể điều tra được người đàn ông này muốn tôi khai báo thêm những gì ông ta biết về tôi. Tôi hỏi: “Tôi đang ở đâu đây?” Cái loa lại ré lên trước khi nghe thấy tiếng của Thanh tra Purdy: “Cô đang chuyển trại. Nhanh thôi.” Ráng thêm một lần nữa, tôi dùng trí lực mở trói đai chân, nhưng vì sức còn quá yếu nên tôi lại phát ọe. Tôi uống thêm một ngụm để tranh thủ chút thời gian suy nghĩ. “Vậy tôi bị đưa đi đâu thế?” “Chúng tôi theo kế hoạch đưa cô đi đoàn tụ với một người bạn, có lẽ đúng hơn là bạn của John Smith. Cô vẫn gọi bạn mình là John ấy chứ? Hay thích gọi là Số Bốn hơn?” “Tôi không biết ông đang nói gì.” Tôi đáp. Ngừng một chút, tôi tiếp. “Tôi cũng không biết ai tên là John Số Bốn cả.” Bất chợt tôi nhớ lại thời điểm ở sa mạc, ngay lúc tôi đứng trước cánh cửa kim loại kia. Khi ấy đầu óc đã lơ mơ lắm rồi, nhớ lại những chiếc trực thăng đậu sát một bên, giờ tôi cũng không dám chắc là chuyện thực. Ngẫm lại, quả thực khi ấy đã nghe tiếng của bé Ella. Không. Tôi không phải chỉ
nghe giọng bé Ella một chiều, mà hai chị em đã – hai chiều – nói chuyện với nhau. Em hỏi, tôi trả lời. Với sự thực đang nằm trong tay FBI, vậy những chiếc trực thăng kia nhất định không phải ảo giác. Nếu đấy là những chiếc trực thăng, bằng sắt thép, vậy cuộc nói chuyện giữa tôi và bé Ella cũng phải là thực. Vậy thêm một thuật mới, một kỹ năng mới trong ‘kho’ Biệt Năng đã được kích hoạt. Đúng vào thời điểm tôi cần đến nhất. Ella? Em nghe chị nói chứ? Tôi thử thêm lần nữa, với chút hy vọng mỏng manh sẽ thành công. FBI đang giữ chị, có một Thanh tra xưng là Purdy đang nhốt chị và chị đang bị chuyển trại. Theo lời Thanh tra Purdy, chẳng biết đi đâu nhưng đoạn đường sẽ không xa. “Làm sao cô đã đến được sa mạc này, Số Sáu?” Tiếng của ‘vị Thanh tra’ ngắt đứt dòng truyền tin. “Chẳng phải cô đang ở Ấn Độ cùng các bạn mình ư? Nhớ lại chưa? Giống mấy đứa nhỏ kia, ngồi đọc sách giáo khoa rồi bị bắt cóc tại sân bay.” Tại sao người này lại biết điều đó? “Do đâu mà cô biết vị trí căn cứ quân sự kia?” Giọng nói lúc này nghe chừng đã mất vẻ dửng dưng, hơi gấp gáp, mất bình tĩnh. “Căn cứ nào?” Tôi hỏi lại. Muốn nghĩ cho ra lời đáp, đầu cũng căng ra không ít. “Thì cái căn cứ trong sa mạc nơi chúng tôi phát hiện cô đang dở sống dở chết ngoài cửa. Làm sao cô phát hiện ra vị trí căn cứ?” Tôi gắng sức dùng thuật ẩn hình, nhưng chỉ vừa thử chạm đến Biệt Năng, bụng dạ lại sôi trào một trận đau đớn. Người muốn cuộn tròn lại như trái bóng, nhưng những sợi dây đai to giữ chặt không cho cử động nên cơn đau như thiêu đốt hết mọi luồng khí thở. “Cô uống nước đi.” Tiếng ‘ngài Thanh tra’ khuyên bảo lại vang lên, trở lại giọng điệu hờ hững, xa vắng. Như lần trước, tôi nghe lời, chiêu một ngụm và chờ đợi. Cơn đau cuối cùng giảm nhẹ, nhưng sau đó một làn sóng tê người ùa ngập mọi ngóc ngách cơ thể. Đầu óc như một chiếc xe mất điều khiển, hết lao sang bên này rồi chồm sang bên kia. Các ý tưởng,