Sự Im Lặng Của Bầy Cừu

phần

phần

phần cảnh sát địa phương nữa. Đừng để họ nghĩ rằng họ sẽ làm bà hài lòng nếu gạt bỏ chúng tôi.” “Paul Krendier từ Bộ Tư pháp đang đến. Ông ấy sẽ lo việc này.” “Giờ ai là sĩ quan cấp cao nhất của bà ở đó?” “Thiếu tá Bachman của Cục điều tra Tennessee.” “Tốt. Nếu chưa quá muộn, hãy cố gắng chặn giới báo chí. Bà nên dọa Chilton về chuyện này — ông ta thích được báo chí chú ý lắm đấy. Chúng tôi không muốn Bill Bò mộng biết bất cứ chuyện gì. Khi chúng tôi tìm hắn, chúng tôi muốn huy động Đội Giải cứu Con tin. Chúng tôi muốn bắt hắn thật nhanh và tránh bị chống cự. Bà sẽ tự mình thẩm vấn Lecter chứ?” “Phải.” “Bà có thể trao đổi với Clarice Starling trước được không? Cô ấy đang đến.” “Để làm gì? Bác sĩ Chilton đã tóm tắt lại tài liệu cho tôi. Chúng ta đã làm trò ngớ ngẩn đủ lâu rồi.” Chilton lại gõ vào cửa sổ xe lần nữa, mấp máy vài câu qua kính. Brian Gossage nắm cổ tay ông ta và lắc đầu. “Tôi muốn được tiếp cận Lecter sau khi bà đã nói chuyện với ông ta,” Crawford nói. “Ông Crawford, ông ta đã hứa sẽ khai ra Bill Bò mộng để đổi lấy những đặc quyền — những tiện nghi thì đúng hơn. Nếu ông ta không khai thì ông có thể có ông ta mãi mãi.”

“Thượng nghị sĩ Martin, tôi biết đây là chuyện nhạy cảm, nhưng tôi cần phải nói với bà: dưới bất kỳ tình huống nào, đừng bao giờ van xin ông ta.” “Được rồi, ông Crawford. Giờ thì thực sự tôi không nói chuyện tiếp được nữa.” Bà ta dập máy. Nếu tôi sai thì con bé cũng lại chết như sáu nạn nhân trước mà ông điều tra thôi, bà ta nói thầm, đoạn vẫy Gossage và Chilton vào xe. Bác sĩ Chilton đã yêu cầu thu xếp một văn phòng tại Memphis để thượng nghị sĩ Martin trao đổi với Hannibal Lecter. Nhưng vì để tiết kiệm thời gian, người ta sắp xếp qua loa một phòng họp của Không lực Vệ binh Quốc gia ngay trong khoang chứa máy bay cho họ gặp mặt. Thượng nghị sĩ Martin phải chờ bên ngoài khoang chứa máy bay trong khi bác sĩ Chilton sắp xếp cho Lecter trong văn phòng. Bà ta không chịu được việc phải ở lại trong xe. Bà ta đi thành một vòng tròn nhỏ dưới mái vòm vĩ đại của khoang chứa máy bay, ngẩng đầu nhìn lên những thanh xà đan mắt cáo trên cao rồi cúi nhìn những vạch sơn trên sàn. Một lần bà dừng lại cạnh một chiếc Phantom F - 4 và dựa đầu vào thành máy bay lạnh lẽo, nơi có đề dòng chữ KHÔNG GIẪM LÊN. Cái máy bay này chắc còn già hơn cả Catherine. Lạy Chúa, thôi nào. “Thượng nghị sĩ Martin.” Thiếu tá Bachman đang gọi bà. Chilton đang vẫy tay ở cửa.

Trong phòng có một cái bàn dành cho Chilton, ghế cho thượng nghị sĩ Martin cùng trợ lý của bà và thiếu tá Bachman. Một người quay phim đã sẵn sàng ghi lại cuộc gặp mặt. Chilton nói đó là một trong những yêu cầu của Lecter. Thượng nghị sĩ Martin bước vào phòng với vẻ ngoài thật tuyệt. Bộ vest màu xanh navy của bà tỏa ra sức mạnh. Bà cũng làm cho Gossage trở nên tự tin hơn. Bác sĩ Hannibal Lecter ngồi một mình giữa phòng trên cái ghế bành gỗ sồi vững chắc bắt vít xuống sàn. Một cái chăn che đi chiếc áo trói và xiềng chân, đồng thời che đi việc hắn bị xích vào ghế. Nhưng hắn vẫn đeo chiếc mặt nạ khúc côn cầu để không cắn được người khác. Sao vậy? Bà thượng nghị sĩ băn khoăn. Bà vốn định sắp xếp phòng sao cho bác sĩ Lecter vẫn giữ được chút nhân phẩm. Thượng nghị sĩ Martin nhìn Chilton rồi quay sang Gossage lấy giấy tờ. Chilton vòng ra sau bác sĩ Lecter, nhìn vào máy quay, tháo dây và gỡ chiếc mặt nạ với cử chỉ hoa mỹ. “Thượng nghị sĩ Martin, xin giới thiệu bác sĩ Hannibal Lecter.” Nhìn thấy hành động khoa trương của bác sĩ Chilton, thượng nghị sĩ Martin cảm thấy sợ hãi không kém khi phải đương đầu bất cứ chuyện gì đã xảy ra từ khi con gái bà mất tích. Mọi sự tin tưởng đối với óc xét đoán của Chilton đã bị thay thế bởi nỗi sợ hãi lạnh lùng rằng ông ta là một tên ngốc. Bà ta phải tùy cơ ứng biến. Một lọn tóc của bác sĩ Lecter rơi xuống giữa đôi mắt màu hạt dẻ.

Mặt hắn nhợt nhạt không kém chiếc mặt nạ. Thượng nghị sĩ Martin và Hannibal Lecter đánh giá nhau — một người cực kỳ thông minh, người còn lại thì thâm sâu không thể lường. Bác sĩ Chilton quay lại bàn, nhìn hết mọi người xung quanh và bắt đầu: “Thưa thượng nghị sĩ, bác sĩ Lecter đã nói với tôi rằng ông ta muốn đóng góp cho cuộc điều tra bằng một số điều đặc biệt ông ta biết, để đổi lại một số lưu ý tới điều kiện giam giữ.” Thượng nghị sĩ Martin giơ một tài liệu lên. “Bác sĩ Lecter, đây là bản tuyên thệ mà tôi sẽ ký ngay bây giờ. Trong đó viết rằng tôi sẽ giúp ông. Ông có muốn đọc không?” Bà ta nghĩ hắn sẽ không trả lời nên quay lại bàn để ký, nhưng hắn nói: “Tôi sẽ không lãng phí thời gian của bà và của Catherine để mặc cả những ân huệ lặt vặt. Những kẻ tìm cơ hội thăng tiến đã làm phung phí quá nhiều rồi. Hãy để tôi giúp bà ngay bây giờ, và tôi tin tưởng bà sẽ giúp tôi khi mọi chuyện kết thúc.” “Ông có thể tin như thế. Brian?” Gossage giơ quyển sổ ghi chép lên. “Bill Bò mộng có tên thật là William Rubin. Hắn ta dùng tên Billy Rubin. Một bệnh nhân của tôi là Benjamin Raspail giới thiệu hắn với tôi vào tháng Tư hay tháng Năm gì đó năm 1975. Hắn nói hắn sống ở Philadelphia, tôi không nhớ địa chỉ, nhưng hắn từng ở với Raspail ở Baltimore.” “Hồ sơ bệnh án của ông ở đâu?” thiếu tá Bachman chen vào. “Hồ sơ bệnh án của tôi đã bị hủy theo lệnh của tòa ngay sau khi…”

“Hắn ta trông thế nào?” thiếu tá Bachman nói. “Xin lỗi ông, thưa thiếu tá? Thượng nghị sĩ Martin là người duy nhất…” “Cho tôi độ tuổi và nhân dạng, bất cứ thứ gì ông có thể nhớ được,” thiếu tá Bachman nói. Bác sĩ Lecter lờ đi. Hắn nghĩ đến chuyện khác — những nghiên cứu về giải phẫu của Géricault cho tác phẩm Bè của chiến thuyền Medusa — và nếu có nghe thấy câu hỏi tiếp theo, thì hắn cũng chẳng tỏ vẻ gì. Khi thượng nghị sĩ Martin lấy lại được sự chú ý của hắn thì trong phòng chỉ còn lại họ. Bà cầm cuốn sổ của Gossage. Ánh mắt bác sĩ Lecter tập trung vào bà. “Tay đó sặc mùi xì gà,” hắn nói. “Bà có tự mình nuôi dưỡng Catherine không?” “Xin lỗi? Tôi có…” “Bà có cho con bé bú không?” “Có.” “Công việc thật vất và… có phải không?” Khi mắt bà ta tối sầm lại, bác sĩ Lecter nhấm một ngụm đau đớn của bà ta và thấy nó thật tuyệt vời. Hôm nay thế là đủ rồi. Hắn tiếp tục: “William Rubin cao khoảng 1m80, và đến giờ sẽ vào khoảng 35 tuổi. Hắn là người to lớn — khoảng 85kg khi tôi biết hắn ta và từ đó đến nay có thể nặng thêm. Tóc hắn màu mâu và mắt xanh nhạt. Đưa thông tin cho bọn họ đi, rồi chúng ta sẽ tiếp tục.” “Phải rồi, tôi sẽ làm thế,” thượng nghị sĩ Martin nói và đưa tờ ghi chép qua cửa.

“Tôi mới chỉ gặp hắn một lần. Hắn đặt một cuộc hẹn nữa nhưng không đến.” “Vì sao ông nghĩ hắn là Bill Bò mộng?” “Khi đó hắn đã giết người rồi, và làm những việc tương tự với họ, mấy cái việc giải phẫu ấy. Hắn nói hắn muốn có ai đó giúp hắn ngưng lại, nhưng thực ra là hắn muốn tán gẫu về chuyện ấy. Trút bầu tâm sự.” “Ông đã không — hắn có chắc là ông sẽ không khai ra hắn không?” “Hắn không nghĩ tôi sẽ làm thế, và hắn muốn thử vận may. Tôi đã tôn trọng bí mật của Raspail bạn hắn.” “Raspail biết hắn làm chuyện đó?” “Gu của Raspail là những trò dị hợm — người Billy thì đầy sẹo. Billy Rubin nói với tôi hắn có tiền án, nhưng không nói chi tiết. Tôi đã lập một bệnh án ngắn gọn. Không có gi bất thường, trừ một việc: Rubin có lần nói với tôi là hắn bị bệnh than ngà voi. Đó là tất cả những gì tôi nhớ, thưa thượng nghị sĩ Martin và tôi nghĩ bà cũng muốn đi rồi. Nếu tôi nhớ ra được gì nữa, tôi sẽ nhắn cho bà.” “Có phải Billy Rubin giết người có cái đầu trong xe không?” “Tôi tin là như vậy.” “Ông có biết đấy là ai không?” “Không. Raspail gọi anh ta là Klaus.” “Những chuyện ông nói với FBI có phải là sự thật không?” “Ít nhất cũng thật như những gì FBI nói với tôi, thưa thượng nghị

sĩ Martin.” “Tôi đã bố trí tạm thời mấy việc cho ông ở Memphis này. Chúng ta sẽ nói về hoàn cảnh của ông và ông sẽ tới Brushy Mountain khi nào… khi nào chúng tôi sắp xếp xong.” “Cảm ơn bà. Tôi muốn có một cái điện thoại, để nếu như tôi nghĩ ra gì đó…” “Ông sẽ có.” “Và nhạc nữa. Glenn Gould, chơi Các biến khúc Goldberg? Thế có nhiều quá không?” “Được.” “Thượng nghị sĩ Martin, đừng giao phó hết mọi đầu mối cho FBI. Jack Crawford không bao giờ chơi đẹp với các cơ quan khác đâu. Với những người này thì đây chỉ là trò chơi. Ông ta quyết tâm tự mình tóm hắn. Một tay ‘cổ cồn’⦾, người ta gọi thế.” “Cảm ơn ông, bác sĩ Lecter.” “Tôi thích bộ đồ của bà đấy,” ông ta nói khi bà đi ra cửa.

P 33 hòng này đâm vào phòng khác, tầng hầm của Jame Gumb lộn xộn như một ma trận thường làm lạc lối ta trong những giấc mơ. Thuở hắn vẫn còn ngượng ngùng — ở nhiều kiếp trước — quý ngài Gumb thấy vui vẻ trong những căn phòng ẩn, xa cầu thang nhất. Có những căn phòng ở góc xa nhất — những căn phòng từ những kiếp sống trước — những căn phòng mà bao nhiêu năm nay Gumb vẫn chưa mở cửa. Một số căn phòng đến giờ vẫn còn có người — có thể nói như vậy — dù âm thanh từ sau những cánh cửa đã im lặng từ lâu. Sàn của những căn phòng này cao thấp khác nhau có tới cả 30cm. Có những bậu cửa phải bước qua, những rầm cửa phải cúi người. Trong này không lăn được cũng chẳng kéo nổi thứ gì. Để đẩy một thứ — cái thứ đổ kềnh ra đất, khóc lóc, van nài, cái đầu mê muội cứ va đập lung tung — là việc khó khăn, thậm chí là nguy hiểm. Khi trở nên khôn ngoan và tự tin hơn, ngài Gumb cảm thấy nhu cầu của mình không còn thỏa mãn được trong các căn phòng ẩn nữa. Giờ hắn dùng những phòng dưới tầng hầm, xung quanh cầu thang — những căn phòng lớn có nước máy và có điện. Lúc này tầng hầm đang tối om.

Bên dưới căn phòng rải cát, trong hầm giam bí mật, Catherine Martin đang câm lặng. Quý ngài Gumb đang ở đây, dưới tầng hầm, nhưng hắn không ở trong phòng này. Căn phòng phía dưới cầu thang tối đen trước mắt thường, nhưng nó lại đầy những âm thanh rì rầm. Ở đây có nước nhỏ giọt và có những cái bơm nhỏ kêu rè rè. Trong những tiếng vọng nho nhỏ, căn phòng có vẻ như rất rộng. Không khí ẩm và lạnh. Có mùi cây cỏ. Một đôi cánh đập lên má, vài tiếng lạch cạch trong không khí. Một âm thanh trầm trầm khoái lạc thoát ra từ lỗ mũi, một âm thanh của con người. Trong phòng không có chút ánh sáng nào mắt người có thể nhìn thấy được, nhưng ngài Gumb lại có thể nhìn rất rõ, như thể hắn có thể nhìn được mọi thứ qua sắc độ và cường độ của màu xanh. Hắn đeo một cặp kính hồng ngoại thượng hạng (hàng thanh lý của quân đội Israel, chưa tới 400 đô – la), và đang chiếu luồng sáng của chiếc đèn pin hồng ngoại vào cái lồng dây thép trước mặt. Rồi hắn ngồi trên mép một chiếc ghế thẳng, đê mê khoái lạc, nhìn một con côn trùng đang trèo lên cái cây trong lồng. Con thành trùng⦾ vừa mới chui ra khỏi một cái kén rách đôi trên lớp đất ẩm dưới nền chuồng. Nó thận trọng trèo lên một cành cây cà tím, tìm không gian để duỗi thẳng đôi cánh ẩm ướt mới tinh vẫn còn đang cuộn trên lưng. Nó chọn một cành ngang. Ngài Gumb phải nghiêng đầu nhìn. Từng chút một, đôi cánh được bơm máu và không khí. Chúng vẫn đang dính vào nhau trên lưng con côn trùng.

Hai giờ trôi qua. Ngài Gumb hầu như không nhúc nhích. Hắn cứ bật tắt cái đèn hồng ngoại để làm mình ngạc nhiên về tiến triển của con côn trùng. Để giết thời gian, hắn chiếu đèn ra những chỗ khác trong phòng — chiếu lên cái bể lớn chứa đầy dung dịch thuộc da gốc thực vật. Trên những cái khuôn và khung căng ngâm trong bể, chiến tích mới nhất của hắn đứng như một bức tượng cổ bị sứt mẻ, ám xanh dưới đáy biển. Ánh đèn của hắn chiếu qua cái bàn làm việc to, mạ kền có ổ trục kim loại, tấm chắn tường và đường ống, chạm vào cái tời phía bên trên. Sát tường là những bồn rửa công nghiệp dài. Tất cả đều là những hình ảnh màu xanh lá dưới mắt kính hồng ngoại. Có những con vật cuống cuồng vỗ cánh, những vệt phốt pho vút qua tầm nhìn của hắn — những vệt sáng như sao chổi của những con bướm đêm bay tự do trong phòng. Hắn quay lại với cái lồng vừa đúng lúc. Đôi cánh của con côn trùng lớn đã vươn thẳng trên lưng nó, che giấu và làm biến dạng những đốm màu. Bây giờ thì nó hạ đôi cánh xuống che phủ thân mình và những họa tiết đặc trưng hiện ra rõ ràng. Một cái sọ người, hiện lên đẹp tuyệt vời trên lớp vảy mịn như lông, chằm chằm nhìn ra từ lưng con bướm đêm. Bên dưới vòm sọ viền bóng mờ là hai lỗ mắt đen ngòm và cặp xương má gồ lên. Bên dưới cặp xương má là bóng tối nằm như mớ giẻ bịt miệng vắt ngang khuôn mặt ngay trên cằm. Cái sọ người nằm trên một đốm màu rực sáng giống mặt trên của bộ xương chậu. Một hộp sọ chồng lên bộ xương chậu, tất cả được vẽ trên lưng của một con bướm đêm bởi sự tình cờ của tự nhiên. Ngài Gumb cảm thấy lòng thật nhẹ nhàng và thanh thản. Hắn

nghiêng ra trước, thổi một hơi nhẹ lên con bướm đêm. Nó giương cái vòi nhọn và rít lên giận dữ. Lòng thư thái, hắn khẽ khàng đi vào hầm giam. Hắn há miệng để hơi thở khẽ hơn. Hắn không muốn làm hỏng tâm trạng của mình vì quá nhiều tiếng ồn phát ra từ cái hố. Đôi mắt kính gắn trên hai ống nhỏ nhô ra như hai mắt cua. Ngài Gumb biết cặp kính trông chẳng hề hấp dẫn chút nào, nhưng hắn đã có thời gian giải trí rất tuyệt với nó dưới tầng hầm tối đen, chơi các trò chơi tầng hầm. Hắn cúi người chiếu thứ ánh sáng vô hình đó xuống hầm. Nguyên liệu đang nằm nghiêng, co quắp như con tôm. Cô ta có vẻ như đang ngủ. Cái xô vệ sinh để bên cạnh. Cô ta đã không còn tiếp tục ngu ngốc làm đứt sợi dây khi cố đu mình lên trên bức tường trơn trượt. Trong giấc ngủ, cô ta áp mặt vào góc thảm và mút ngón tay cái. Ngắm nghía Catherine, chiếu đèn hồng ngoại lên lên xuống xuống người cô ta, ngài Gumb đang tự chuẩn bị sẵn sàng cho những vấn đề rất thực tế sắp tới. Da người là thứ vô cùng khó xử lý nếu tiêu chuẩn của người ta cao như tiêu chuẩn của ngài Gumb đây. Cần phải ra những quyết định mang tính cơ bản về mặt cấu trúc, mà quyết định đầu tiên là phải để khóa kéo ở đâu. Hắn chiếu ánh sáng lên lưng Catherine. Thường thì hắn hay để khóa kéo ở sau lưng, nhưng nếu thế thì làm sao mà tự kéo khóa được? Đó không phải loại việc có thể nhờ người khác giúp, cho dù cái viễn cảnh đó có phấn khích tới đâu đi chăng nữa. Hắn biết những nơi, những nhóm mà ở đó nỗ lực của hắn được nể phục —

có những chiếc du thuyền mà ở đó hắn có thể làm dáng làm dấp — nhưng chuyện này để sau. Hắn phải có những thứ mà tự hắn có thể dùng. Nếu mà xẻ ra ở phía trước thì đúng là phá hoại — hắn sẽ gạt bỏ lựa chọn này. Dưới ánh đèn hồng ngoại, ngài Gumb không thể nói được gì về nước da của Catherine, nhưng trông cô gầy đi. Hắn nghĩ lúc hắn bắt cô hẳn cô đang ăn kiêng. Kinh nghiệm dạy hắn rằng cần đợi từ bốn ngày tới một tuần trước khi thu hoạch bộ da. Sự sụt cân đột ngột làm cho lớp da lỏng ra và dễ lột hơn. Ngoài ra, cái đói làm cho các đối tượng của hắn yếu đi đáng kể nên dễ xử lý hơn. Tuân lệnh hơn. Một số người trong bọn họ cam chịu hoàn toàn. Đồng thời vẫn cần phải cho họ khẩu phần ăn nhất định để ngăn chặn sự tuyệt vọng và những cơn giận dữ có thể làm hỏng da. Chắc chắn nó đang xuống cân. Điều này rất đặc biệt, rất quan trọng đối với những gì hắn đang làm, hắn không thể chờ lâu và hắn cũng không cần phải chờ lâu. Chiều mai là hắn có thể làm được rồi, hoặc đến tối mai. Muộn nhất là ngày kia. Sắp rồi.

C 34 larice Starling nhận ra biển hiệu của khu Stonehinge Villas trong chương trình thời sự trên truyền hình. Một khu chung cư vùng Đông Memphis, bao gồm các căn hộ và biệt thự, tạo thành chữ U lớn quanh bãi đỗ xe. Starling đỗ chiếc Chevrolet Celebrity đi thuê ở giữa bãi đỗ xe rộng. Những nhân viên cổ cồn xanh được trả lương hậu hĩ và những nhà lãnh đạo cấp thấp sống ở đây — những chiếc xe TransAms và IROC-Z Camaros cho cô biết điều đó. Những căn nhà lưu động cho ngày nghỉ cuối tuần và những chiếc xe trượt tuyết bóng loáng lớp sơn tráng lệ đỗ ở khu riêng của mình trong bãi đỗ xe. Stonehinge Villas — hai từ này thôi cũng đã làm Starling lộn ruột mỗi khi cô nhìn nó. Có thể là những cán hộ này chứa đầy đồ đan lát trắng và thảm trải màu hồng đào. Dưới tấm kính mặt bàn cà phê là những tấm ảnh. Những cuốn sách dạy nấu ăn dạng Bữa tối dành cho hai người và Thực đơn xúp pho mát rượu vang. Starling — vốn chỉ có duy nhất một nơi ở là phòng ký túc xá Học viện FBI — có cái nhìn mang tính phê phán nặng nề với những thứ đó. Cô cần tìm hiểu về Catherine Baker Martin, và đây có vẻ như là một nơi ở không hẳn để dành cho con gái một thượng nghị sĩ. Starling đã đọc tiểu sử ngắn gọn do FBI thu thập, và nó cho thấy

Catherine Martin là sinh viên dưới trung bình. Cô ta thi trượt vào Farmington và có hai năm tồi tệ ở Middlebury. Bây giờ cô ta là sinh viên Đại học Southwestern và làm giáo viên thực tập. Starling có thể dễ dàng hình dung ra cô ta là một cô học sinh nội trú ích kỷ, thô lỗ, một người không hề biết lắng nghe. Starling biết ở đây cô cần thận trọng vì cô có những căm ghét và thành kiến riêng của mình. Starling cũng đã trải qua thời gian trong trường nội trú, sống bằng tiền học bổng và điểm số cô nhận luôn đẹp hơn quần áo cô mặc. Cô từng gặp nhiều đứa trẻ con những gia đình giàu có nhưng không hạnh phúc, và chúng phải ở nội trú quá lâu. Cô không thèm quan tâm chút nào đến vài đứa trong bọn chúng, nhung cô đã đủ lớn để hiểu rằng không quan tâm có thể là một mẹo để tránh đau đớn, và rằng nó thường bị hiểu nhầm thành hời hợt và lạnh nhạt. Tốt hơn hãy nghĩ tới Catherine như một cô bé đi thuyền buồm cùng cha mình, như trong đoạn phim họ đã chiếu trên truyền hình với lời van xin của thượng nghị sĩ Martin. Cô tự hỏi liệu ngày bé Catherine có cố làm cha mình vui không. Cô tự hỏi Catherine đang làm gì khi họ đến nói với cô rằng cha cô đã mất vì trụy tim khi ông 42 tuổi. Starling chắc chắn là Catherine nhớ ông. Nhớ cha — vết thương chung — làm Starling cảm thấy gần gũi với cô gái này. Starling thấy mình cần phải quý mến Catherine Martin vì điều đó giúp cô bình tâm lại. Starling có thể nhìn thấy căn hộ của Catherine ở đâu. Hai chiếc xe tuần tra bang Tennessee đang đỗ ngay trước cửa căn hộ. Có những vết bột trắng vương vãi ở bãi đỗ xe gần đó. Chắc Cục điều tra bang Tennessee đã lấy vết dầu xe bằng đá bọt biển⦾ hay một thứ bột trơ nào đó. Crawford nói Cục điều tra này rất giỏi.

Starling đi tới chỗ nhà lưu động và thuyền đang đỗ ở một khu đặc biệt của bãi đỗ phía trước căn hộ. Đấy là chỗ Bill Bò mộng đã bắt cóc cô ta. Gần căn hộ nên cô ta vẫn để cửa mở khi ra ngoài. Có điều gì đó lôi kéo cô ta ra ngoài. Chắc chắn phải là sự sắp đặt nào đó trông vô hại. Starling biết cảnh sát Memphis đã tiến hành thẩm tra không sót nhà nào nhưng không ai trông thấy gì, vì vậy có thể chuyện xảy ra giữa những cái nhà lưu động cao này. Chắc hắn đã theo dõi từ đây. Chắc là phải ngồi trong một cái xe nào đó. Nhưng Bill Bò mộng biết Catherine đang ở đây. Chắc là hắn đã thấy cô ở đâu đó và theo dõi cô, chờ cơ hội. Các cô gái cao to như Catherine không nhiều. Hắn không thể nào chỉ ngồi ở một địa điểm ngẫu nhiên nào đó chờ người phụ nữ có khổ người phù hợp đi qua. Như thế hắn có thể ngồi hàng ngày mà chẳng gặp được ai. Tất cả các nạn nhân đều cao lớn. Tất cả các nạn nhân đều cao lớn. Một vài người béo, nhưng tất cả đều cao lớn. “Như thế hắn có thể tìm được thứ vừa vặn.” Nhớ lại những lời của bác sĩ Lecter, Starling bỗng nổi gai ốc. Bác sĩ Lecter, một thành viên mới của Memphis. Starling hít một hơi dài, phồng má lên và thở ra thật chậm. Hãy xem chúng ta có thể nói gì về Catherine. Một cảnh sát bang Tennessee đội chiếc mũ hiệu Smokey the Bear mở cửa căn hộ của Catherine Martin. Khi Starling xuất trình giấy tờ, anh ta ra hiệu cho cô đi vào. “Sĩ quan, tôi cần phải đi một vòng quanh cơ ngơi này đã.” Cơ ngơi có vẻ là một từ thích họp để dùng với một người đàn ông vẫn đội mũ khi ở trong nhà.

Anh ta gật đầu. “Nếu điện thoại reo thì cô cứ để nguyên. Tôi sẽ trả lời.” Trên quầy bar trong căn bếp rộng rãi, Starling có thể nhìn thấy một máy ghi âm gắn với điện thoại. Bên cạnh nó là hai cái điện thoại mới. Một cái không có bàn quay số là đường dây trực tiếp tới An ninh Điện thoại Miền Nam, là trung tâm truy tìm cuộc gọi vùng Trung Nam. “Tôi có thể giúp gì cho cô được không?” viên sĩ quan trẻ tuổi hỏi. “Cảnh sát đã xong việc ở đây chưa?” “Căn hộ đã được trả lại cho gia đình. Tôi chỉ ở đây để chờ điện thoại. Cô có thể chạm vào các thứ, nếu như đấy là điều cô muốn biết.” “Tốt, thế tôi sẽ đi xem một vòng.” “Tốt thôi.” Viên cảnh sát trẻ tuổi lấy ra tờ báo mà anh ta vừa nhét xuống dưới đi – văng và ngồi lại xuống đó. Starling muốn được tập trung. Cô thầm mong chỉ có một mình cô ở trong căn hộ, nhưng cô biết việc nơi này không đầy ắp cảnh sát đã là một sự may mắn. Cô bắt đầu từ bếp. Đồ đạc không được sắm sửa bởi một đầu bếp nghiêm túc. Catherine đi lấy bỏng ngô, bạn trai cô ta khai như vậy với cảnh sát. Starling mở cửa tủ lạnh. Trong đó có hai hộp bỏng ngô nướng bằng lò vi sóng. Từ bếp không nhìn ra được bãi đỗ xe. “Cô người đâu?” Thoạt đầu Starling không hiểu câu hỏi. “Cô người ở đâu?”

Người cảnh sát trên đi – văng ngỏng cổ lên khỏi tờ báo nhìn cô. “Washington,” cô nói. Dưới chậu rửa — phải rồi — có vết xước trên khớp nối ống, họ hẳn đã tháo ra xem xét. Rất tốt cho TBI⦾. Dao cùn. Máy rửa bát đĩa đã được dùng nhưng bát đĩa rửa xong chưa được lấy ra. Trong tủ lạnh chỉ có pho mát tươi và món salad hoa quả. Catherine Martin đi chợ mua đồ ăn nhanh, có thể có một chỗ quen — một quán mua hàng ngay trên xe ở gần đây. Có thể ai đó cũng đã lượn ngoài cửa hàng chăng. Việc này đáng phải kiểm tra lại. “Cô là người của Tổng Chưởng lý à?” “Không, FBI.” “Chưởng lý sắp tới đây. Nghe nói thế. Cô làm cho FBI bao lâu rồi?” Có một cái bắp cải bằng cao su để trong ngăn đựng rau của tủ lạnh. Người ta thường dùng nó để ngụy trang và giấu tiền bạc, trang sức, những thứ đồ có giá trị bên trong nó. Starling kiểm tra. Trống không. “Cô làm cho FBI bao lâu rồi?” Starling nhìn viên cảnh sát trẻ tuổi. “Anh sĩ quan, tôi bảo này! Lát nữa đi xem xét một vòng xong có lẽ tôi cần hỏi anh vài chuyện. Lúc đó anh giúp tôi được chứ.” “Chắc chắn rồi, nếu tôi có thể…” “Thế thì tốt quá. Vậy lát nữa nói chuyện sau nhé. Bây giờ thì tôi phải suy nghĩ đã.”

“Không vấn đề.” Phòng ngủ sáng sủa, vừa có nắng mà vẫn dịu mắt đúng kiểu Starling thích. Nó được trang hoàng bằng thứ rèm thảm và đồ đạc xịn hơn hẳn những thứ mà hầu hết phụ nữ trẻ có thể sắm. Có một tấm bình phong sơn mài, hai món đồ trang trí bằng kim loại tráng men màu trên kệ và một cái tủ liền bàn viết xịn bằng gỗ óc chó có vân. Hai cái giường đơn. Starling lật mép tấm phủ giường lên. Bánh xe giường bên trái bị khóa còn bên phải thì không. Chắc Catherine đã đẩy chúng sát lại với nhau khi cô ta cần. Có thể có một người tình mà cậu bạn trai không biết đến. Hoặc có thể đôi khi họ ở đây với nhau. Máy trả lời điện thoại của cô ta không có bộ báo chuông từ xa. Cô ta có thể phải ở đây khi mẹ gọi điện. Máy trả lời điện thoại cũng giống loại của cô, kiểu Phone – Mate ít tính năng nhất. Cô mở nắp. Các cuộn băng ghi lời nhắn đến và đi đều đã biến mất. Ở chỗ đó là một tờ ghi chú, BĂNG TỪ TÀI SẢN TBI #6. Căn phòng tương đối gọn gàng, nhưng nó vẫn còn vẻ lộn xộn để lại bởi những nhân viên khám xét với đôi bàn tay thô kệch, những người đàn ông dù đã cố gắng đặt đồ vật chính xác về chỗ cũ nhưng vẫn bị lệch đi mất một chút xíu. Starling có thể nhận ngay ra nơi này đã bị lục lọi mà không cần để ý đến những dấu tay nhan nhản trên tất cả những bề mặt nhẵn nhụi. Starling không tin là có chút xíu nào của vụ án diễn ra trong phòng ngủ này. Có lẽ Crawford đã đúng, Catherine bị bắt ngoài bãi đỗ xe. Nhưng Starling muốn tìm hiểu về cô ta, và đây là nơi cô ta từng sống. Đang sống chứ. Starling sửa lại. Cô ta sống ở đây. Trong ngăn tủ của chiếc bàn đầu giường là một cuốn sổ điện thoại, một

hộp giấy ăn Kleenex, một hộp đồ trang điểm và sau cái hộp là một cái máy ảnh Polaroid SX-70 có dây bấm mềm và một cái chân máy ngắn được gấp lại để bên cạnh. Ừmmmm. Cô nhìn chăm chú như một con thằn lằn, nhưng không đụng vào đó. Cái tủ thu hút sự quan tâm của Starling nhiều nhất. Catherine Baker Martin, phiếu giặt là mã CBM, có rất nhiều quần áo và có những bộ rất đẹp. Starling nhận ra nhiều thương hiệu, có cả Garfinkel’s và Britches in Washington. Quà mẹ tặng, Starling tự nhủ. Catherine có những bộ quần áo đẹp, dáng cổ điển được may theo hai cỡ, vừa cho cô ta lúc nặng 65 và 75kg, Starling đoán. Trong tủ còn có vài chiếc quần và áo chui cổ dành cho người béo mua ở Statuesque Shop. Trên cái giá treo có khoảng hai mươi đôi giày, bảy đôi là của Ferragamo cỡ 10C, vài đôi Reebok và mấy đôi giày lười. Một cái ba lô nhẹ và chiếc vợt tennis nằm ở tầng trên cùng. Đồ vật của một đứa con nhà giàu, một sinh viên và một giáo viên tập sự có cuộc sống khá giả hơn những người khác. Trong ngăn bàn có rất nhiều thư. Những mẩu giấy ghi nhớ ngoằn ngoèo chữ nghiêng về bên trái của đám bạn cùng lớp cũ bên miền Đông. Tem, nhãn địa chỉ. Giấy gói quà ở ngăn kéo dưới cùng, một bó giấy nhiều màu sắc và họa tiết. Ngón tay Starling lướt qua nó. Đang nghĩ đến việc thẩm vấn nhân viên cửa hàng phục vụ tận xe ở khu này thì ngón tay cô tìm thấy một tờ quá dày, quá cứng trong chồng giấy gói quà. Ngón tay cô đi lướt qua nó, rồi lại quay trở lại. Cô đã được đào tạo để nhận thấy những sự bất thường và cô kéo nó ra một nửa để quan sát. Tờ giấy màu xanh lam, làm từ một thứ vật liệu giống như giấy thấm nhẹ, và họa tiết trên đó là sự bắt chước vụng về hình mẫu chú chó hoạt hình Pluto. Những con chó nhỏ in

thành hàng trông đều giống Pluto, đúng cái màu vàng ấy nhưng không được chính xác về tỷ lệ. “Catherine, Catherine,” Starling lẩm bẩm. Cô lấy trong túi ra mấy cái kẹp nhỏ để kẹp tờ giấy màu nhét vào một phong bì nhựa, đoạn đặt tạm xuống giường. Hộp đồ trang sức trên bàn trang điểm là loại bằng da rập hoa văn có trong bất cứ phòng ký túc xá nữ nào. Có hai ngăn kéo trước mặt và một ngăn có nắp đậy, bên trên đựng những đồ nữ trang cho quần áo, không có thứ gì quý giá. Starling tự hỏi những thứ tốt nhất có phải được giấu trong một cây bắp cải cao su để trong tủ lạnh hay không và nếu phải thì ai đã lấy chúng? Cô luồn ngón tay bên dưới cái nắp và mở chiếc ngăn kéo bí mật sau lưng chiếc hộp đựng trang sức. Cái ngăn bí mật trống rỗng. Cô tự hỏi những cái ngăn này che giấu bí mật với ai — chắc chắn không phải kẻ trộm. Lúc cô đưa tay ra sau chiếc hộp trang sức để đóng ngăn kéo thì chạm phải chiếc phong bì được dán băng dính vào bên dưới ngăn kéo bí mật. Starling đeo găng tay cotton rồi xoay chiếc hộp lại. Cô lấy chiếc ngăn kéo trống rỗng ra rồi lật úp nó xuống. Một chiếc phong bì màu nâu được dán vào đáy ngăn kéo bằng băng dính: nắp phong bì chỉ được nhét vào trong, không dán kín. Cô đưa chiếc phong bì lên mũi. Phong bì này vẫn chưa tiếp xúc với hóa chất lấy dấu tay. Starling lấy kẹp mở phong bì và lấy các thứ bên trong ra. Trong phong bì có năm bức ảnh chụp bằng máy Polaroid và cô lấy chúng ra từng cái một. Những tấm ảnh chụp một người đàn ông và một người đàn bà đang giao hợp. Không có mặt và đầu. Hai bức ảnh do người đàn bà chụp, hai do người đàn ông chụp và một tấm có vẻ như được chụp

từ chân máy đặt trên tủ đầu giường. Khó mà đánh giá được tỷ lệ qua một tấm ảnh, nhưng với trọng lượng ấn tượng 65kg trong một khung xương dài, người phụ nữ đó chắc là Catherine. Người đàn ông đeo ở dương vật một thứ trông như một cái vòng chạm trổ bằng ngà voi. Độ phân giải của tấm ảnh không đủ để nhận ra các chi tiết trên đó. Người đàn ông từng bị cắt ruột thừa. Starling cho mỗi tấm ảnh vào một túi riêng rồi cho cả vào cái phong bì nâu của mình. Xong xuôi cô trả cái ngăn kéo về cho chiếc hộp nữ trang. “Tôi đã cất những đồ có giá trị đi,” một giọng nói vang lên sau cô. “Tôi nghĩ không có thứ gì bị lấy trộm.” Starling nhìn vào gương. Thượng nghị sĩ Ruth Martin đứng ở cửa phòng ngủ. Trông bà ta mệt mỏi. Starling quay lại. “Chào bà, thượng nghị sĩ Martin. Bà có muốn nằm không? Tôi sắp xong rồi.” Cho dù kiệt sức nhưng thượng nghị sĩ Martin vẫn thể hiện sự mạnh mẽ. Dưới lớp vỏ cẩn trọng của bà ta, Starling nhìn thấy một người đang muốn gây gổ. “Xin cho biết cô là ai? Tôi nghĩ cảnh sát đã xong việc ở đây rồi.” “Tôi là Clarice Starling. FBI. Bà đã nói chuyện với bác sĩ Lecter chưa thưa thượng nghị sĩ?” “Ông ta đã nói cho tôi một cái tên.” Bà ta đốt một điếu thuốc và nhìn Starling từ đầu đến chân. “Chúng ta sẽ xem nó đáng giá hay không. Và cô tìm thấy gì trong cái hộp nữ trang vậy, sĩ quan Starling? Có gì đáng kể không?” “Vài tài liệu mà chúng ta có thể xem ngay.” Đây là câu trả lời tốt

nhất Starling có thể nói ra. “Trong hộp nữ trang của con gái tôi? Vậy xem đi.” Starling nghe thấy có giọng nói ở phòng bên và hy vọng câu được chút thời gian. “Ông Copley có đi cùng bà không, viên đặc vụ Memphis trong…” “Không, ông ta không đi cùng, và đấy không phải là câu trả lời. Đừng tự ái thưa sĩ quan, nhưng tôi sẽ xem cô lấy được gì từ hộp nữ trang của con gái tôi.” Bà ta quay đầu và gọi với qua vai. “Paul, Paul, mời anh vào đây. Sĩ quan Starling, có lẽ cô cũng biết ông Krendler ở Bộ Tư pháp. Paul, đây là cô gái mà Crawford cử đến chỗ Lecter.” Khoảng đầu hói của Paul rám nắng, ông ta trông khá gọn gàng so với tuổi 40. “Ông Krendler, tôi có biết ông. Xin chào,” Starling nói. Đầu mối liên lạc Quốc hội nổi tiếng của Ban Tội phạm, chuyên gia xử lý sự cố, và lại còn là Phó Chưởng lý, Chúa ơi, hãy cứu vớt con. “Sĩ quan Starling tìm được gì đó trong hộp nữ trang của con gái tôi và nhét vào cái phong bì nâu của cô ấy. Tôi nghĩ chúng ta nên xem đấy là cái gì chứ nhỉ?” “Sĩ quan,” Krendler nói. “Tôi nói chuyện với ông được không, Krendler?” “Tất nhiên là được. Nhưng để sau.” Ông ta chìa tay ra. Mặt Starling nóng lên. Cô biết thượng nghị sĩ Martin đang không tỉnh táo, nhưng cô sẽ không bao giờ tha thứ cho Krendler vì vẻ nghi ngờ trên khuôn mặt ông ta. Không bao giờ. “Đây này,” cô đưa cho ông ta cái phong bì.

Krendler nhìn tấm hình đầu tiên và đóng nắp lại khi thượng nghị sĩ lấy cái phong bì từ tay ông ta. Thật đau đớn khi phải nhìn bà ta xem những tấm ảnh. Xem xong bà ta đi ra cửa sổ, đứng đó, rồi nhắm mắt, ngửa mặt lên bầu trời đầy mây mù. Bà ta trông già đi trong ánh sáng ban ngày, và cố gắng châm thuốc lá bằng đôi tay run rẩy. “Thượng nghị sĩ, tôi…” Krendler bắt đầu. “Cảnh sát đã khám xét căn phòng này,” thượng nghị sĩ Martin nói. “Tôi chắc là họ đã tìm thấy những bức ảnh và cũng đủ tế nhị để đặt chúng vào chỗ cũ và giữ mồm giữ miệng.” “Không, họ không tìm thấy,” Starling nói. Người đàn bà này đã bị tổn thương, nhưng mà, kệ thôi. “Thưa bà Martin, chúng tôi cần biết người đàn ông là ai, nếu bà đã nhìn thấy rồi. Nếu đó là anh bạn trai, thì ổn. Tôi có thể xác định được ngay sau năm phút. Không ai khác nên xem những bức hình này và Catherine thì không cần biết điều đó.” “Tôi sẽ lo việc đó.” Thượng nghị sĩ Martin cho cái phong bì vào ví, và Krendler để yên cho bà ta làm chuyện đó. “Thượng nghị sĩ, bà có lấy chỗ nữ trang trong cái bắp cải cao su ở bếp không?” Starling hỏi. Trợ lý của thượng nghị sĩ Martin — Brian Gossage — thò đầu vào cửa. “Xin lỗi thưa thượng nghị sĩ, họ đã cài đặt xong thiết bị đầu cuối rồi. Ta có thể trực tiếp xem họ tìm tên William Rubin tại FBI.” “Đi thôi, thượng nghị sĩ Martin,” Krendler nói. “Tôi sẽ ra ngay.” Ruth Martin ra khỏi phòng mà không trả lời câu

hỏi của Starling. Starling có cơ hội nhìn Krendler lần nữa khi ông ta đóng cửa phòng ngủ. Bộ complet của ông ta là một tuyệt tác của nghệ thuật may một đường chỉ và ông ta không đeo súng. Đôi giày bóng loáng bị mòn gót khoảng 1cm vì đi trên thảm quá dày, cạnh của đôi gót giày rất sắc. Ông ta dừng lại một thoáng, tay vẫn để trên nắm đấm cửa, đầu cúi xuống. “Tìm tốt lắm,” ông ta nói khi quay lại. Starling không thể chịu được cái trò rẻ tiền này. Cô nhìn lại ông ta. “Ở Quantico họ đào tạo được những tay lục lợi giỏi đấy,” Krendler nói. “Họ không đào tạo bọn kẻ trộm.” “Tôi biết,” ông ta nói. “Thật vậy không?” “Bỏ qua cho tôi đi.” “Chúng ta sẽ tiếp tục theo đuổi chuyện những tấm hình và cái bắp cải cao su chứ?” cô hỏi. “Phải.” “Cái tên ‘William Rubin’ có nghĩa là gì thưa ông Krendler?” “Lecter nói đấy là tên của Bill Bò mộng. Còn đây là thông tin chúng tôi gửi cho bộ phận nhận dạng và NCIC⦾ . Xem đây này.” Ông ta đưa cho cô bản ghi chép cuộc phỏng vấn Lecter của thượng nghị sĩ Martin, một bản sao mờ in bằng máy in kim. “Cô nghĩ sao?” ông ta nói khi cô đọc xong.

“Không có gì ràng buộc ông ta ở đây cả,” Starling nói. “Ông ta nói đấy là một gã da trắng tên Billy Rubin, mắc bệnh than ngà voi. Nếu ông ta nói dối, chúng ta cũng không thể khẳng định được. Trường hợp tốt nhất là ông ta chỉ bị nhầm lẫn mà thôi. Nhưng sẽ rất là tệ nếu ông ta đang cố tình đùa cợt với bà ấy. Ông Krendler, ông ta hoàn toàn đủ khả năng làm chuyện ấy. Ông đã bao giờ… gặp ông ấy chưa? Krendler lắc đầu và khịt mũi. “Theo chúng tôi biết, bác sĩ Lecter đã giết chín người. Ông ấy không được tự do đi lại, nhưng không quan trọng — kể cả ông ấy có thể dựng người đã chết dậy thì người ta cũng không thả ông ấy ra. Vậy tất cả những gì ông ấy còn lại là vui đùa. Chính vì vậy mà chúng tôi lừa ông ta…” “Tôi biết các vị lừa ông ta. Tôi đã nghe băng ghi âm của Chilton. Tôi không nói chuyện đó sai — tôi nói là vụ đó đã kết thúc. Ban Khoa học Hành vi có thể tiếp tục với những gì các vị có — từ quan điểm chuyển giới — nếu thấy đáng làm. Còn cô thì ngày mai sẽ quay lại trường ở Quantico.” Ôi trời. “Tôi còn tìm được một thứ nữa.” Miếng giấy màu vẫn nằm trên giường mà không ai để ý đến. Cô đưa nó cho ông ta. “Cái gì vậy?” “Trông như một tờ giấy vẽ chó Pluto.” Cô để ông ta phải hỏi những thông tin còn lại. Ông ta dùng tay ra hiệu cho cô giải thích. “Tôi chắc đó là giấy thấm LSD. Có từ khoảng giữa thập niên 1970 trở về trước. Bây giờ nó là hàng hiếm. Cũng nên tìm hiểu xem

cô ấy kiếm được nó ở đâu. Ta cần xét nghiệm cho chắc chắn.” “Cô có thể đem nó về Washington và chuyển cho phòng thí nghiệm. Cô nên đi ngay sau vài phút nữa.” “Nếu ông không muốn đợi thì chúng tôi có thể làm ngay tại đây với thiết bị khám nghiệm hiện trường. Nếu cảnh sát có dụng cụ xét nghiệm ma túy loại tiêu chuẩn — xét nghiệm J — thì chỉ mất hai giây chúng tôi có thể…” “Về Washington, quay lại trường đi,” ông ta nói và mở cửa. “Ngài Crawford chỉ thị cho tôi…” “Chỉ thị của cô là những gì tôi nói với cô. Bây giờ cô không nằm dưới sự chỉ đạo của Jack Crawford. Cô phải trở lại dưới sự giám sát như bất cứ học viên nào khác ngay bây giờ, và việc của cô là ở Quantico. Cô hiểu tôi chứ? Có một chuyến bay lúc 2 giờ 10. Hãy bắt chuyến đó.” “Ông Krendler, bác sĩ Lecter chịu nói chuyện với tôi dù đã từ chối nói chuyện với cảnh sát Baltimore. Ông Crawford nghĩ rằng…” Krendler lại đóng cửa vào, mạnh hơn bình thường. “Sĩ quan Starling, đáng ra tôi không cần phải giải thích cho cô, nhưng nghe này. Thông tin của ban Khoa học Hành vi chỉ mang tính tư vấn, và nó luôn luôn như vậy. Và trở lại chuyện đó. Lẽ ra Jack Crawford phải về nghỉ phép vì việc riêng rồi. Tôi lấy làm ngạc nhiên là ông ta vẫn còn có thể làm việc như trước. Ông ta đã tóm lấy cơ hội ngớ ngẩn này, giữ kín chuyện với thượng nghị sĩ Martin, và ông ta đã bị xử lý. Nhưng vì thành tích của ông ta và việc ông ta gần đến tuổi nghỉ hưu, bà ấy không nỡ làm mạnh tay với ông ta. Vì thế, nếu tôi là cô thì tôi sẽ không phải quá lo lắng về tiền lương hưu cho ông ta đâu.”

Starling hơi mất bình tĩnh. “Ông có biết ai khác từng bắt được ba tên giết người hàng loạt chưa? Ông có biết người nào từng bắt được một tên chưa? Ông không nên để bà ấy điều hành vụ này, thưa ông Krendler.” “Cô chắc là một học trò sáng dạ, nếu không thì Crawford đã chẳng quan tâm đến cô, vậy tôi sẽ nói với cô chỉ một lần thôi: liệu mà giữ miệng nếu không thì tương lai ngồi bàn giấy đánh máy đang chờ cô đấy. Cô không hiểu sao — lý do duy nhất mà cô được cử đến gặp Lecter ngay từ đầu chỉ là để kiếm chút tin tức cho Giám đốc của cô sử dụng trên đồi Capitol mà thôi. Những thứ vô hại trong những vụ trọng án — ‘ruột gan’ của bác sĩ Lecter — sếp cô lấy những thứ đó ra làm mồi khi ông ta muốn ngân sách được thông qua. Các nghị viên cắn câu và họ đi ăn tối với thứ đó. Cô thì ngoài cuộc, sĩ quan Starling ạ và giờ thì cô cũng ra khỏi vụ này. Tôi biết cô có thẻ nhận dạng phụ. Đưa lại cho tôi.” “Tôi cần có thẻ nhận dạng để được mang súng lên máy bay. Súng đó là của Quantico.” “Súng. Chúa ơi. Hãy trả thẻ ngay sau khi cô về đến nơi.” Thượng nghị sĩ Martin, Gossage, một kỹ thuật viên và mấy cảnh sát đang tụ tập quanh một màn hình video và một modem kết nối với đường dây điện thoại. Đường dây nóng của Trung tâm Thông tin Tội phạm Quốc gia NCIC vẫn đều đặn báo cáo tiến độ trong khi thông tin của bác sĩ Lecter được xử lý ở Washington. Có tin mới từ Trung tâm Quốc gia về Kiểm soát Bệnh dịch ở Atlanta: bệnh than ngà voi là bệnh do hít phải bụi mài ra từ ngà voi châu Phi, thường gặp phải trong quá trình chế tác mỹ thuật. Ở Mỹ căn bệnh này là bệnh của

thợ làm dao. Nghe từ “thợ làm dao”, thượng nghị sĩ Martin nhắm mắt. Đôi mắt nóng và khô. Bà ta nắm chặt tờ giấy ăn trong tay. Viên cảnh sát trẻ — người đã cho Starling vào căn hộ — đem cho bà thượng nghị sĩ một cốc cà phê. Anh ta vẫn đội cái mũ Smokey the Bear. Starling sẽ không ra đi trong lặng lẽ. Cô dừng lại trước mặt người đàn bà và nói, “Chúc bà may mắn, thượng nghị sĩ. Tôi hy vọng Catherine sẽ ổn.” Thượng nghị sĩ Martin gật đầu mà không nhìn cô. Krendler giục Starling đi ra. “Tôi không biết là cô ta không được vào đây.” Viên cảnh sát trẻ nói khi cô ra khỏi phòng. Krendler ra ngoài cùng cô. “Tôi không có thái độ gì khác ngoài lòng tôn trọng với Jack Crawford,” ông ta nói. “Làm ơn nói với ông ta là tất cả chúng tôi đều cảm thấy rất buồn vì… chuyện của Bella. Còn bây giờ thì quay lại trường và lo việc học của cô đi, được chứ?” “Tạm biệt, ông Krendler.” Cô ở một mình ngoài bãi đỗ xe, với một cảm giác mông lung là có lẽ cô không thể hiểu bất cứ chuyện gì trên đời này. Cô ngắm con chim bồ câu đang đi lại dưới những ngôi nhà lưu động và những chiếc thuyền. Nó cặp một cái vỏ lạc lên rồi đặt xuống. Làn gió ẩm làm lông nó rối bù. Starling mong mình được nói chuyện với Crawford. Lãng phí và ngu ngốc chỉ làm tình hình thêm tệ hại, đó là điều ông nói. Đây là

thời kỳ khó khăn nhất, Starling ạ. Hãy tận dụng thời gian này và nó sẽ tôi luyện cô. Còn đây là bài kiểm tra khó nhất — không để cho cơn giận và nỗi thất vọng làm ảnh hưởng đến suy nghĩ của cô. Đấy chính là cốt lõi của việc cô có tiềm năng lãnh đạo được hay không. Cô chẳng thèm quan tâm đến chuyện lãnh đạo. Cô thấy mình chẳng thèm quan tâm xem mình có trở thành Đặc vụ Starling không. Cô chẳng thèm quan tâm, nếu cứ phải chơi theo kiểu này. Cô nghĩ tới cô gái to béo, tội nghiệp, bất hạnh đã chết mà cô nhìn thấy trên cái bàn trong Nhà tang lễ ở Potter, Tây Virginia. Sơn móng tay bóng loáng cứ như mấy cái xe trượt tuyết khốn kiếp này. Họ cô ta là gì nhỉ? Kimberly. Thật khốn nạn nếu những kẻ khốn ấy thấy mình khóc. Chúa ơi, ai cũng họ Kimberly cả. Bốn người trong lớp cô. Ba anh chàng có tên là Sean. Kimberly — với cái họ như trong phim truyền hình dài tập — đã tìm cách sửa sang cho mình, đục lỗ tai để cố trông đẹp hơn, cố trang điểm bản thân. Còn Bill Bò mộng lại nhìn đôi vú phẳng bất hạnh của cô ấy, gí mũi súng vào giữa chúng và tạo thành một lỗ hình sao biển trên ngực cô. Kimberly, người chị em bất hạnh, to béo của cô, người tự tẩy lông chân — chắc chắn là như vậy, đánh giá từ khuôn mặt, tay và chân thì làn da là nét đẹp nhất của cô ấy. Kimberly, ở một nơi nào đó, em có đang giận dữ không? Không có thượng nghị sĩ nào đi tìm cô ấy. Không có những chiếc máy bay phản lực chở những kẻ điên rồ bay đi khắp nơi. Điên rồ không phải là từ mà cô nên dùng. Có nhiều thứ cô không nên làm. Kệ, một lũ điên. Starling nhìn đồng hồ. Cô còn một giờ rưỡi trước chuyến bay và

còn một việc nhỏ nữa mà cô có thể làm. Cô muốn nhìn thẳng vào mặt bác sĩ Lecter khi ông ta nói “Billy Rubin.” Nếu cô chịu được đôi mắt màu hạt dẻ đó đủ lâu, nếu cô nhìn thật sâu vào vùng bóng tối hút mất những đốm sáng, cô có thể thấy điều gì đó có ích. Cô nghĩ cô có thể nhìn thấy niềm hân hoan. Ơn Chúa mình vẫn còn giữ cái thẻ. Cô để lại vết lốp cao su dài chừng 3,5m khi lao ra khỏi bãi đỗ xe.

C 35 larice Starling vội vã lái xe qua những làn xe đông đúc của Memphis, hai làn nước mắt giận dữ đã khô đi trên má cô. Lúc này cô cảm thấy mình tự do, bay bổng một cách lạ thường. Sự tinh tường lạ thường trong nhìn nhận cảnh báo cô rằng cô đang hiếu chiến, vì vậy cô cần rất thận trọng với chính mình. Cô nhớ là đã đi qua một tòa án cũ khi rời sân bay và cô dễ dàng tìm thấy nó để làm mốc. Nhà chức trách Tennessee đã không liều lĩnh với Hannibal Lecter. Họ quyết tâm giam giữ hắn an toàn, không để hắn tiếp xúc với những nguy hiểm của nhà tù thành phố. Phương án của họ là một tòa án kết hợp nhà tù cũ, một tòa nhà khổng lồ theo kiến trúc Gothic được xây với đá granite bằng những giờ lao động công ích. Hiện giờ nó là một tòa nhà văn phòng của thành phố, được phục chế hơi quá đà giữa cái thành phố phồn vinh và quan tâm tới lịch sử này. Hôm nay trông nó giống như một pháo đài Trung cổ được cảnh sát bao vây. Vô số xe cộ của các cơ quan Hành pháp — tuần tra xa lộ, Phòng cảnh sát hạt Shelby, Cục điều tra bang Tennessee và Cục cải tạo —

đỗ đầy trong bãi. Starling phải đi qua một trạm gác cảnh sát mới tìm được chỗ đỗ chiếc xe đi thuê của cô. Bác sĩ Lecter còn làm phát sinh thêm một vấn đề an ninh từ bên ngoài. Những cuộc gọi đe dọa tới tấp đến từ khi chương trình bản tin ngày đưa tin về nơi giam giữ hắn. Nạn nhân của hắn có nhiều bè bạn và người thân muốn thấy hắn từ giã cõi đời. Starling hy vọng đặc vụ địa phương của FBI — Copley — không có ở đây. Cô không muốn anh ta gặp rắc rối. Cô nhìn thấy bóng lưng Chilton giữa một nhóm phóng viên đứng trên bãi cỏ cạnh cầu thang chính. Trong đám đông có hai cái máy quay truyền hình nhỏ. Starling mong mình có gì đó che đầu. Cô quay mặt đi khi bước tới cửa vào tòa tháp. Một cảnh sát bang đứng canh trước cửa xem thẻ của cô trước khi cô được vào sảnh. Sảnh tòa tháp lúc này trông như một trạm canh. Một cảnh sát thành phố đứng canh ở cái thang máy duy nhất của tòa nhà và một người khác đứng ở cầu thang. Đám cảnh sát bang thay thế cho các đơn vị tuần tra được bố trí quanh tòa nhà đang đọc tờ Commercial Appeal trên những cái ghế dài nơi công chúng không thể nhìn thấy. Một trung sĩ ngồi ở bàn đối diện thang máy. Thẻ tên của anh ta đề TATE, C. L. “Báo chí không được phép vào,” trung sĩ Tate nói khi thấy Starling. “Không,” cô nói. “Cô đi cùng người của Chưởng lý à?” anh ta hỏi khi xem thẻ của cô. “Phó Chưởng lý Krendler,” cô nói. “Tôi vừa từ chỗ ông ấy đến.”

Anh ta gật đầu. “Chúng tôi có tất cả các kiểu cớm ở Tây Tennessee tới đây chỉ để xem bác sĩ Lecter. Ơn Chúa là chúng tôi không phải thường xuyên gặp chuyện này. Cô cần phải thông qua bác sĩ Chilton trước khi lên.” “Tôi đã gặp ông ấy ngoài kia,” Starling nói. “Chúng tôi thỏa thuận vụ này ở Baltimore sáng nay rồi. Đây có phải là chỗ ký không, trung sĩ Tate?” Viên trung sĩ tặc lưỡi suy nghĩ trong giây lát. “Ngay đấy,” anh ta nói. “Quy tắc giữ đồ, thưa cô. Khách đến thăm để lại vũ khí, cảnh sát hay không cũng vậy.” Starling gật đầu. Cô tháo đạn ra khỏi súng. Viên trung sĩ thấy vui khi nhìn tay cô xử lý khẩu súng. Cô đưa đầu báng súng cho anh ta, và anh ta cầm cho vào ngăn kéo khóa lại. “Vernon, đưa cô ấy lên.” Anh ta quay ba số và nói tên cô vào điện thoại. Chiếc thang máy — được lắp thêm hồi những thập niên 1920 — kêu ken két đi lên tầng trên cùng. Nó mở ra một chiếu nghỉ cầu thang và một hành lang ngắn. “Ngay đối diện, thưa cô,” người cảnh sát bang nói. Trên cánh cửa kính mờ có sơn dòng chữ ỦY BAN LỊCH SỬ HẠT SHELBY. Gần như toàn bộ tầng trên cùng của tòa tháp là một căn phòng bát giác sơn trắng, nền nhà và đồ đạc bằng gỗ sồi bóng. Nó tỏa mùi sáp ong và keo dán giấy. Có ít đồ đạc nên căn phòng tạo cảm giác giản dị thanh đạm. Lúc này trông nó ổn hơn khi còn là văn phòng của nhân viên tòa án.

Hai người đàn ông mặc đồng phục của Cục cải tạo bang Tennessee đang canh gác. Người đàn ông nhỏ nhắn đứng lên bên cạnh bàn của mình khi Starling bước vào. Người to lớn hơn ngồi trên một cái ghế gấp ở đầu xa của căn phòng, đối mặt với cánh cửa xà lim. Ông ta là người canh chừng tự tử. “Cô có được phép nói chuyện với tù nhân không, thưa cô?” viên sĩ quan đứng cạnh bàn nói. Bảng tên của anh ta đề PEMBRY, T. W., và trên mặt bàn anh ta có một cái điện thoại, hai cây dùi cui và một hộp xịt hơi cay. Một bánh răng lớn dựng trong góc phía sau anh ta. “Tôi có,” Starling nói. “Tôi từng thẩm vấn ông ta rồi.” “Cô biết quy tắc chứ? Không vượt qua rào chắn.” “Chắc chắn rồi.” Thứ có màu sắc duy nhất trong phòng là cái rào chắn mà cảnh sát giao thông hay dùng — một cái giá răng cưa sơn sọc vàng – cam được gắn những bóng đèn nhấp nháy tròn màu vàng lúc này đang tắt. Nó được đặt trên nền nhà sáng bóng, cách cửa xà lim chừng 1,5m. Trên cái cây treo áo gần đó treo đồ của bác sĩ Lecter — cái mặt nạ khúc côn cầu và thứ gì đó mà Starling chưa từng nhìn thấy: một cái áo trói. Làm từ da dày, với cái còng tay có hai khóa ở eo lưng và khóa bấm sau lưng, có thể nó là cái áo trói chắc chắn nhất trên thế giới. Cái mặt nạ và cái áo trói đen treo lơ lửng trên cái cây treo áo tạo ra một bố cục bất ổn trên nên tường trắng. Starling có thể nhìn thấy bác sĩ Lecter khi cô lại gần xà lim. Hắn đang đọc bên cái bàn bị bắt vít xuống nền nhà. Lưng hắn quay ra cửa. Hắn có mấy cuốn sách và một bản sao hồ sơ về Bill Bò mộng mà cô đã đưa cho hắn ở Baltimore. Một máy cassette nhỏ được

xích vào chân bàn. Thật lạ lùng khi nhìn thấy hắn bên ngoài bệnh viện tâm thần. Hồi nhỏ Starling từng nhìn thấy những cái xà lim như thế này. Chúng được chế tạo sẵn bởi một công ty ở St. Louis hồi đầu thế kỷ, và không ai chế tạo chúng tốt hơn họ — cái lồng dạng ghép khối bằng thép tôi luyện có thể biến bất cứ gian phòng nào thành xà lim. Nền là một tấm thép gắn trên song sắt, các bức tường và trần là những thanh sắt tôi nguội bọc kín không gian bên trong. Không có cửa sổ. Cái xà lim trắng bóc và sáng choang. Một tấm bình phong giấy mong manh che kín chỗ đi vệ sinh. Những thanh song sắt trắng như những dẻ xương quanh tường. Bác sĩ Lecter có cái đầu đen bóng. Một con chồn nghĩa địa. Cái tổ từ xương sườn, lót bằng những quả tim. Cô chớp mắt để xua đi hình ảnh đó. “Xin chào, Clarice,” hắn nói mà không cần quay lại. Hắn đọc nốt trang sách, đánh dấu lại và xoay người trên ghế để đối diện với cô, tay hắn chống lên tay ghế và đỡ cằm. “Dumas bảo mùa thu mà ta cho thêm một con quạ vào nồi canh, khi con quạ đã được vỗ béo bằng quả bách xù thì sẽ làm đậm màu sắc và hương vị nước lèo⦾. Cô có thích có nó trong món xúp của cô không, Clarice?” “Tôi nghĩ có thể ông muốn có những bức vẽ của mình — những thứ trong xà lim cũ — trước khi ông có cái cửa sổ mới.” “Thật chu đáo. Bác sĩ Chilton mê mẩn cô còn Jack Crawford bị đuổi khỏi vụ này. Hay là họ cử cô đến để nịnh nọt lần cuối?” Viên sĩ quan canh phòng tự tử đã quay ra nói chuyện với Pembry ở bàn giấy. Starling hy vọng họ không nghe thấy.

“Họ không cử. Tôi tự đến.” “Người ta nói rằng chúng ta yêu nhau đấy. Không phải là cô muốn hỏi về Billy Rubin chứ Clarice?” “Bác sĩ Lecter, không phải là… nghi ngờ những gì ông nói với thượng nghị sĩ Martin đâu, nhưng làm ơn tư vấn tiếp xem tôi phải tiếp tục với ý tưởng của ông về…” “Nghi ngờ… tôi thích đấy. Tôi không việc gì phải tư vấn cho cô. Cô đã tìm cách lừa tôi, Clarice ạ. Cô nghĩ tôi đang đùa với những kẻ đó à?” “Tôi nghĩ ông nói thật với tôi.” “Thật đáng tiếc là cô định lừa tôi, phải không?” Mặt bác sĩ Lecter chìm xuống sau cánh tay cho tới khi chỉ còn nhìn thấy đôi mắt. “Thật tiếc là Catherine Martin sẽ không bao giờ còn nhìn thấy ánh mặt trời. Mặt trời là tấm đệm lửa mà Chúa trời của cô ta chết trên đó, Clarice ạ.” “Cũng thật đáng tiếc khi ông bị buộc phải nghe lời người khác, thậm chí liếm khô vài giọt lệ khi cần,” Starling nói. “Thật tệ là chúng ta không kết thúc được những gì chúng ta đã nhắc đến. Ý tưởng của ông về con thành trùng, về cấu trúc của nó, có điều gì đó… tinh tế nên rất khó bỏ qua. Bây giờ thì nó là một đống đổ nát, một vòm cổng gãy đôi đứng trơ trọi.” “Một nửa vòm cổng thì không đứng được. Lại nói về những vòm cổng, họ vẫn cho cô làm việc chứ? Hay họ thu phù hiệu của cô rồi?” “Chưa.” “Cái gì bên dưới áo cô thế, máy chấm công giống như cái của

cha cô à?” “Không, đấy là hộp nạp đạn nhanh.” “Vậy là cô vẫn mang vũ khí khi ra đường?” “Phải.” “Vậy đáng ra cô phải mặc cái áo rộng hơn. Cô có may vá gì không?” “Có.” “Cô có may bộ này không?” “Không. Bác sĩ Lecter ạ, ông biết hết mọi thứ. Ông không thể nói chuyện riêng tư với thằng cha Billy Rubin này mà chỉ biết rất ít về hắn.” “Cô nghĩ là không à?” “Nếu ông đã gặp hắn ta thì ông biết mọi thứ. Nhưng hôm nay ông mới chỉ nhớ ra một chi tiết. Hắn bị bệnh than ngà voi. Ông phải thấy họ nhảy dựng lên như thế nào khi Atlanta nói đấy là bệnh của thợ làm dao. Họ mắc câu rồi, nhưng hẳn điều đó nằm trong tính toán của ông. Ông phải được một phòng cao cấp ở Peabody vì chuyện này đấy. Bác sĩ Lecter, nếu ông gặp hắn rồi thì ông biết hắn. Tôi nghĩ có thể ông chưa từng gặp hắn mà chỉ nghe kể qua Raspail thôi. Nhưng những tin tức hạng hai đó sẽ khó mà để thương lượng với thượng nghị sĩ Martin, phải không?” Starling nhìn thoáng qua vai. Một viên sĩ quan đang cho người kia xem cái gì đó trong tạp chí Guns & Ammo. “Ở Baltimore ông còn có nhiều chuyện hơn để nói với tôi, bác sĩ Lecter ạ. Tôi tin những chuyện ấy là thật. Hãy nói cho tôi

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 21

Đang tải bình luận...