Tâm Lý Học Chuyên Sâu

chương cuối cùng là phần ứng dụng), do đó sẽ có nói đến những

chương cuối cùng là phần ứng dụng), do đó sẽ có nói đến những

chương cuối cùng là phần ứng dụng), do đó sẽ có nói đến những chiều kích siêu cá nhân và siêu tâm linh, mà ngôn ngữ bình thường gọi là “tôn giáo”. Thêm nữa, tuy kiến thức củaC.G. Jung về các nền văn hóa và tôn giáo của loài người trong lịch sử rất rộng lớn, nhưng bởi sinh sống trong hoàn cảnh của nền văn hóa Âu châu, nên C.G. Jung vẫn thường đề cập nhiều hơn đến Kitô giáo. Những sự kiện trên đây nói lên hai điều cần được lưu ý: (a) Nếu trong chương này và cả trong tập sách này – cũng như trong toàn bộ các tác phẩm củaC.G. Jung – có nói về Kitô giáo nhiều hơn các tôn giáo khác, sự kiện đó không hàm chứa ý nghĩa về một sự đánh giá nào giữa các tôn giáo. (b) Điều lưu ý thứ hai quan trọng hơn: Học thuyết tâm lý củaC.G. Jung là một công trình khoa học, chứ không phải một công tác chính trị hay truyền giáo. Do đó người ta không thể đòi hỏiC.G. Jung phải diễn tả những sự kiện tâm lý theo tư duy siêu hình, tôn giáo hay chính trị, lại càng không thể đòi hỏiC.G. Jung phải có thái độ đấu tranh chinh phục cho một chủ nghĩa, một giáo phái hay một ý thức hệ nào được coi là tuyệt đối của mình. Những điều lưu ý trên đây là dư thừa trong một xã hội “khai sáng”, nhưng trong nhiều hoàn cảnh chuyển tiếp của xã hội, một thái độ khách quan và khoa học vẫn còn cần được lưu ý, để tránh mọi ngộ nhận hay những tranh cãi không có cơ sở và không cần thiết. B. Ý NGHĨA: THỂ HIỆN TỰ NGÃ, THÀNH TỰU TỰ NGÃ Tư tưởng cơ bản củaC.G. Jung là tìm hiểu và hỗ trợ sự phát triển hệ tâm thức của con người đến trình độ trưởng thành. Một trong những bước đi đầu tiên là nhận định và phát triển được tính tự chủ, tự lập, tự do và trách nhiệm của con người, của từng mỗi một con người. Vào thời gian cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, xã hội các nước Âu châu vẫn còn mang nặng những cấu trúc tập đoàn, trong đó – một cách chung – cá nhân chưa có được một chỗ đứng tự lập tương xứng. Tư tưởng củaC.G. Jung lúc bấy giờ là nhận định và hỗ trợ sự phát triển tính tự lập của con người. Do đóC.G. Jung đã đề xướng khái niệm “cá nhân” và “thành tựu cá nhân”. Từ “individuation” được C.G. Jung công khai dùng vào năm 1920 trong quyển nói về “Những mẫu người tâm lý”, nhưng ý tưởng đó thì đã được C.G. Jung sử dụng từ năm 1902 trong luận án tiến sĩ của ông nói về “Vấn đề tâm lý và bệnh lý học trong các hiện tượng huyền bí” (Leipzig 1902; Jacobi 1971, 21). Nội dung thứ hai của từ “cá nhân” và “tiến trình thành tựu cá nhân” là nhận

https://thuviensach.vn định và thực hiện được toàn bộ hệ tâm thức của con người, tức tính chủ toàn (Ganzheit, wholeness) gồm tổng thể ý thức và vô thức. C.G. Jung gọi đó là sự phát triển bản vị con người (Jacobi 1999, 107t). Một nội dung thứ ba nữa về khái niệm “cá nhân” và “tiến trình thành tựu cá nhân” là nhận thức và hoạch định được con đường cũng như những phương sách giúp con người tự biết, tự điều chỉnh và tự phát huy bản thân cùng với những tác năng của ý thức và vô thức, phát triển và đáp ứng những nhu cầu và đòi hỏi thực hiện ý nghĩa của cuộc sống, những giá trị của đạo đức và cả những chân trời về tôn giáo. Nói tóm lại là thể hiện bản thân, rèn luyện nhân cách, hình thành nhãn quan về nhân sinh, vũ trụ và lịch sử (Jacobi 1999, 132tt). C. TIẾN TRÌNH: CƠ SỞ VÀ NGUYÊN TẮC CĂN BẢN, NHỮNG HÌNH THỨC, NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG, NHỮNG PHƯƠNG SÁCH Cơ sở và nguyên tắc căn bản của tiến trình: Cơ sở – nguyên lý “tự điều chỉnh” với quy luật “bù trừ” Hệ tâm thức đối vớiC.G. Jung không phải là một tĩnh vật, nhưng là một tổng thể các sự kiện tâm lý sinh động và biến chuyển, ít khi được cân bằng, thường trong tình trạng tương khắc. Tương khắc cơ bản nhất là trong tương quan giữa ý thức và vô thức, bởi vô thức bao gồm toàn diện, trong khi ý thức tự bản chất lại là phân diện. Ý thức thường phân diện, bởi không thể tất cả mọi cảm xúc và suy nghĩ đều có thể đồng thời “được ý thức”. Tác động của ý thức là nhắm về một đối tượng, nhận định, phẩm định, đánh giá, nghĩa là chú ý về một khía cạnh của đối tượng và như thế bỏ rơi các khía cạnh khác. Khi những nội dung tâm lý quan trọng bị ý thức lãng quên, bỏ rơi, xua trừ hay dồn nén xuống vô thức, chúng sẽ kết thành những năng lượng đối trọng. Và khi ý thức càng phân diện – nhất là dưới áp lực của các quy chế “nhân vật” – các nội dung bị xua trừ lại càng phản ứng mãnh liệt, đi đến thế đối kháng, thù nghịch hay cả đến phá hoại. Nhưng rất may, hệ tâm thức đồng thời lại hiện hữu và sinh hoạt với một nguyên lý vô cùng kỳ diệu: nguyên lý “tự điều chỉnh”, giống như trong hệ sinh lý của cơ thể hay trong các hệ sinh tồn và phát triển của trời đất vạn vật. Nguyên lý “tự điều chỉnh” lại được thể hiện thông qua quy luật “bù trừ”: đâu

https://thuviensach.vn thiếu sẽ bù thêm, đâu thừa sẽ trừ xuống. Tác năng “bù trừ” của vô thức bình thường được diễn tả thông qua chiêm mộng: dùng chiêm mộng như nơi đắp đổi bù trừ, đồng thời cũng dùng chiêm mộng như lời nhắn nhủ, nhắc nhở và cảnh cáo ý thức về tính phân diện của mình. Chúng ta sẽ còn bàn đến vấn đề chiêm mộng trong một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 47

Đang tải bình luận...