Tâm Lý Học Tội Phạm

phần lớn những gì anh ta đang học

phần lớn những gì anh ta đang học

phần lớn những gì anh ta đang học đều không phù hợp. Trước sự thất vọng của cha mẹ, điểm trung bình của anh ta đã giảm mạnh khi anh ta trốn học và không làm bài tập về nhà. Nếu Trevor có một bài tập hoặc dự án dài trên lớp, anh ta sẽ không để lộ những việc đó khi ở nhà. “Tôi sẽ không bao giờ nói với họ rằng tôi có bất cứ việc gì to tát cần phải làm. Tôi giả vờ học hành chăm chỉ, sau đó xem ti vi và thư giãn”. Sáng hôm sau, anh ta sẽ “lao vào hoàn thành bài tập một cách điện cuồng” và qua môn thành công, ít nhất là trong một khoảng thời gian. Anh ta phàn nàn rằng bố mẹ anh không ngừng tạo áp lực buộc anh ta phải đạt điểm cao để có thể được nhận vào các trường đại học hàng đầu. Anh ta quyết định nổi loạn để chống đối lại họ cùng “các giá trị bảo thủ” của họ bằng cách “tự hứa với bản thân rằng tôi không có cam kết nào phải đạt được điểm cao. Tôi đã có một kế hoạch. Tôi biết mình phải làm gì”. Trevor rất vui khi một số trường đại học hàng đầu từ chối đơn xin nhập học của anh ta. Tuy nhiên, việc anh ta đã được nhận vào một trường đại học với tiêu chuẩn học tập cao mà anh ta biết rằng mình sẽ bị buộc phải theo học đã khiến anh ta cảm thấy vô cùng thất vọng. Trong thời gian học tập tại ngôi trường này, anh ta đã không hề học hành và thi trượt một số môn trên lớp. Việc sử dụng ma túy, bắt đầu từ khi học trung học, đã trở thành tâm điểm trong cuộc đời anh ta. Lấy tiền của cha mẹ để mua ma túy, Trevor nhanh chóng thu hút một nhóm bạn thèm khát được tiêu số tiền mà anh ta có. Trevor nói với tôi, “Tôi không giỏi nói chuyện với mọi người”. Anh ta cho rằng, vì anh ta có đủ tiền để mua một lượng lớn ma túy chất

lượng cao nên “việc đi chơi với mọi người sẽ dễ dàng hơn, nhưng tất cả chỉ xoay quanh việc tôi là người có tiền”. Tại trường đại học, một vị trưởng khoa quan tâm đến Trevor đã báo với cha mẹ của anh ta rằng các chuyên gia cố vấn càng cố gắng giúp đỡ con trai họ thì anh ta càng thực hiện mọi việc tồi tệ hơn. Anh ta đã kéo dài thời gian học năm nhất thêm bốn tháng, sau đó xin nghỉ học với lý do dối trá là trở về nhà và tìm kiếm liệu pháp chữa trị với cam kết tuân thủ thực hiện. Về nhà, anh ta đắm chìm vào việc xem ti vi và chơi điện tử, kiêng ma túy vì cha mẹ sẽ yêu cầu anh ta phải làm xét nghiệm nước tiểu một cách bất ngờ. Sau khi trải qua thời gian mà anh ta gọi là “những tháng buồn chán nhất mà một con người có thể trải qua”, anh ta quyết định quay lại trường đại học, nhưng lần này là đến học tại một ngôi trường với chương trình giáo dục ít khắt khe hơn. Trevor tỏ ra tự hào vì không ai biết rõ về mình. Anh ta không thân với bất kỳ thành viên nào trong gia đình. Anh ta không có bạn thân. Thực tế là anh ta không thân với ai cả. Ngay cả khi đảm nhận một công việc hoặc chơi một môn thể thao nào đó, hoạt động tương tác của anh ấy với những người khác rất hời hợt. Anh ta nói rằng bản thân “không giỏi nói chuyện với những người bạn đồng trang lứa” mặc dù anh ta có thể hòa đồng với “những người có trí tuệ cao”. Đánh giá tổng thể về kỹ năng giao tiếp xã hội của anh ta được tóm gọn trong nhận xét “Tôi chậm phát triển như bất kỳ người nào khác”. Khi được hỏi tại sao lại nghĩ như vậy, anh ta trả lời một cách từ tốn, “Chỉ là do một loạt những điều xui xẻo khủng khiếp”. Anh ta cũng khẳng định rằng bản thân “bị khiếm khuyết về mặt cảm xúc” vì anh ta “được nuôi dưỡng bởi những người cha người mẹ kỳ lạ”. “Họ đã không làm tốt công việc nuôi dạy tôi. Họ đã phá hủy mọi thứ”. Anh ta buộc tội họ vì “buộc tôi phải sống một cuộc sống mà tôi phải tập trung vào công việc của mình”. Nói một cách dứt khoát, anh ta tuyên bố, “Tôi không thể nghĩ ra bất kỳ điều gì đó không phải là lỗi của cha mẹ tôi”. Trevor là một người cô độc vì anh ta không bao giờ quan tâm đến người khác. Anh ta thừa nhận rằng bản thân không quan tâm đến người khác “trừ khi tôi có thể nhận được điều gì đó có lợi từ họ. Làm sao tôi có thể tỏ ra quan tâm nếu nó không mang lại cho tôi điều gì đó?” Thay vào đó, anh ta thích tự cô lập mình và chơi điện tử bằng một số trò chơi lấy trộm từ các cửa hàng. (Lý do anh ta đưa ra lý do cho hành vi ăn cắp không liên quan đến vấn đề thiếu tiền mà chỉ đơn giản là “Tôi nghĩ rằng tôi có thể

thực hiện điều đó thành công mà không bị tóm cổ”.) Cha mẹ anh ta đã cố gắng hết sức để hạn chế thời gian xem ti vi và chơi điện tử của anh ta nhưng hoàn toàn vô ích. Các vụ tranh cãi liên quan đến vấn đề này xảy ra gần như mỗi ngày và căng thẳng đến mức gây hại cho bầu không khí của những đứa em của Trevor. Cha mẹ của Trevor đã phải rút lui. Những người con khác của họ xứng đáng những điều tốt đẹp hơn, thay vì phải đương đầu với những sóng gió mà chúng không hề tạo ra. Ông bà Winter không thể hủy hoại toàn bộ cuộc sống gia đình chỉ vì những cuộc cãi cọ liên tục xảy ra. Trevor tiếp tục con đường đại học, tuy nhiên anh ta đến học tại một ngôi trường mà anh ta mong đợi sẽ dễ dàng hơn. Anh ấy tiếp tục sử dụng ma túy để “thư giãn”. Liên quan đến những việc mà anh ta đang thực hiện để thư giãn, anh ta trả lời rằng đó là việc phải đến lớp, làm bài tập và học bài kiểm tra. Trevor hối hận vì đã cho cha mẹ của mình “một cửa sổ để bước vào tâm trí tôi” và để họ thấy được sự không ăn năn hối lỗi bên trong anh ta khi anh ta cãi cọ với cha mẹ của mình về vấn đề sử dụng ma túy. Để xoa dịu cha mẹ mình với “thái độ hà khắc” của họ về ma túy, anh ta đã tham gia các lớp giáo dục về lạm dụng chất gây nghiện… nhưng ngủ suốt cả buổi hoặc trốn học. Cha mẹ của Trevor ngày càng bối rối vì không biết làm cách nào để giúp đỡ con trai của mình. Trevor chối bỏ sự quan tâm và những nỗ lực can thiệp của họ. Từ khi còn là một thiếu niên, anh ta đã luôn phẫn nộ với cái mà anh gọi là “những màn tra hỏi” của cha mẹ về các hoạt động của anh ta và gọi họ là “những tên khốn tọc mạch”. Anh ta thường xuyên xung đột với cha mình vì anh ta càng ít nói với người bố thì người bố càng có nhiều câu hỏi. “Tôi chưa bao giờ muốn nói chuyện với ông ta. Nếu tôi không trả lời, ông ta sẽ rất tức giận. Tôi cố phớt lờ ông ta. Sau đó, ông ta sẽ bắt đầu la mắng tôi”. Cha mẹ của Trevor không bao giờ ngừng cố gắng cứu vớt đứa con trai của họ thoát khỏi chính bản thân mình. Khi anh ta học đại học, họ đã trả tiền để thuê một gia sư. Trevor nói, “Cha tôi coi đây là một món quà. Tôi không muốn có một gia sư”. Tuy nhiên, anh ta cho biết gia sư đã giúp anh ta cải thiện điểm số trong một thời gian, và nhờ đó đã giúp anh ta “không bị bố mẹ quay lưng”. Cha mẹ của anh ta thường xuyên liên lạc với các nhà quản lý trường học và Trevor cảm thấy bực bội vì coi đó là một hành động quấy rầy. Anh ta nghĩ, “Bố mẹ tôi đang phá hủy cuộc sống của tôi một

cách có chủ đích”. Giết cả hai người họ sẽ là một sự giải thoát. “Tôi luôn mơ tưởng về việc bố tôi đã chết. Giết ông ta sẽ là việc làm động trời. Tôi chỉ muốn bố tôi chết. Tiền của ông ta mới là thứ tốt đẹp. Sẽ thật tốt nếu ông ta chết đi và tiền của ông ta vẫn còn ở lại”. Anh ta tưởng tượng sẽ tra tấn và giết chết cha mình bằng cách siết cổ, đâm, chém hoặc bắn ông. Trevor khinh thường cha mình hơn bất kỳ con người nào khác trên hành tinh. Và anh ta rất tức giận với mẹ mình vì đã ủng hộ chồng và lặp đi lặp lại ý kiến của ông ấy trong mọi vấn đề. Trong thời gian học trung học và sau khi trượt trường đại học đầu tiên, cha mẹ của Trevor đã yêu cầu anh ta phải đến gặp một nhà trị liệu. Trevor nghe theo nhưng không làm gì ngoài việc chỉ là chiếm một chiếc ghế trong các văn phòng khác nhau và tiết lộ rất ít thông tin. Anh ta nói với tôi rằng anh ta không có lý do gì để chống lại các chuyên gia sức khỏe tâm thần và nghĩ rằng một số người trong đó là những người thông minh và tốt bụng. Anh ta chỉ không cảm thấy có lý do gì để gặp gỡ họ. Trevor không quan tâm đến việc thay đổi bất cứ điều gì về bản thân. Anh ta đã làm hết sức mình để thuyết phục các nhà trị liệu rằng chính cha mẹ anh ta mới là người cần phải thay đổi. Anh ta nói rằng cha mẹ luôn muốn anh ta là “người cần được sửa chữa” nhưng thay vào đó anh ta lại muốn chính cha mẹ của mình cần phải “sửa chữa”. Liệu pháp điều trị đi vào bế tắc mà không đạt được bất kỳ kết quả nào. “Tôi không nói rằng họ không giỏi trong công việc của họ. Tôi không cần họ”, anh ta cho biết. Một trong những nhà trị liệu đã đề nghị Trevor nhập viện điều trị tâm thần. Ông Winter bắt đầu xem xét điều này một cách nghiêm túc. Vào một ngày giống như rất nhiều ngày khác, Trevor và cha của anh ta cãi nhau ầm ĩ về những gì anh ta đang làm, những gì anh ta không làm và những gì anh ta nên làm. Trevor trở nên tức giận đến mức lấy dao và đâm liên tục vào người cha của mình. Khi tôi đặt câu hỏi trong một cuộc gặp trong tù rằng liệu anh ta có nghĩ đến việc giết cha mình và hậu quả với những người còn lại trong gia đình mình hay không, Trevor lạnh lùng trả lời rằng anh ta đã gạt bỏ tất cả.

Sai lầm trong tư duy Hiếm khi tội phạm nghĩ về tác động của những hành vi mà họ đã thực hiện. Larry không biết gì về người đàn ông vô tội đang bước ra khỏi cửa hàng. Điều đó không quan trọng đối với anh ta. Hành động một cần mục tiêu và tìm kiếm sự phấn khích, Larry đã bị hấp dẫn bởi viễn cảnh “gây rối với người hoàn toàn xa lạ” này. Biến người đàn ông xa lạ thành một đốm lửa nhỏ run rẩy, cầu xin sự nhân tính trước khi giết chết ông ấy là một niềm phấn khích tột độ. Larry có lẽ đã từng giẫm chết một con kiến và việc giết chết người đàn ông này có lẽ cũng chỉ giống với việc đó. Chưa một lần nào trong các cuộc gặp với tôi Larry tỏ ra hối hận về những gì mình đã làm. Anh ta ước mình có thể quay ngược kim đồng hồ, không phải vì hối hận về vụ án mạng mà để không phải suy nghĩ về việc phải ngồi tù trong phần đời còn lại. Đó là mối quan tâm duy nhất của anh ta. Giết cha mình, Trevor có thể tự giải thoát khỏi người mà anh ta coi là kẻ thù truyền kiếp của bản thân. Tội ác của Trevor không hề thực hiện với một người xa lạ. Nhưng nó cũng có thể đã xảy ra. Trevor chỉ coi người bố kia là kẻ áp bức mình. Anh ta thực sự không coi ông ấy là một con người. Nhiều lần xuất hiện trong trí tưởng tượng của bản thân, Trevor muốn ông Winter biến mất khỏi Trái đất để anh ta có thể hoàn toàn tự do làm bất cứ điều gì mình muốn. Trong tù, Trevor ít khi nghĩ đến những tác động khôn nguôi mà tội ác của anh ta đã gây ra cho mẹ, anh em, đại gia đình, đồng nghiệp làm việc của bố, bạn bè của gia đình hay những người trong khu vực họ sinh sống. Giống như Larry, mối quan tâm duy nhất của Trevor chỉ tập trung vào bản thân anh ta và cuộc sống trong tù của anh ta sẽ như thế nào? Anh ta từ chối gặp tất cả những người thăm nuôi vì không muốn bất kỳ ai trong quá khứ đến quấy rầy, hỏi han hay tìm kiếm lời giải thích. Khi một tên tội phạm phải chịu trách nhiệm cho hành vi của mình, một số kẻ tỏ ra ăn năn hối lỗi vì đã làm hại ai đó. Một tên trộm từng nói: “Tôi biết người đó rất nhớ những món đồ của mình, nhưng tôi mới là người phải ở trong tù cơ mà”. Suy nghĩ của tội phạm về những tổn thương chỉ giới hạn ở việc khiến ai đó nằm trên vũng máu. Nhìn dòng máu rỉ ra từ vết thương của nạn nhân, Larry biết anh ta đã làm người đàn ông kia bị thương, nhưng điều đó không ngăn được anh ta tiếp tục hành vi tấn công

cho đến khi người đàn ông kia hoàn toàn tắt thở. Những tên tội phạm thường đổ lỗi cho nạn nhân do họ bất cẩn hoặc khiêu khích. “Nếu anh ta khóa cửa cẩn thận thì tôi đã không thể đột nhập vào nhà anh ta”. “Cô ta để quên chìa khóa trong xe. Đó là một lời mời gọi người khác lấy cắp nó”. “Cô ta bước ra ngoài vào ban đêm như thể đang chuẩn bị đi dự một bữa tiệc, chính cô ta đã khiến vụ việc đó xảy ra”. Những tên tội phạm săn mồi khi người khác dễ bị tổn thương. Larry xem người đàn ông lớn tuổi đi bộ một mình là mục tiêu thuận lợi, là cách để giải tỏa sự buồn chán. Sau khi một hành vi tội ác như vậy bị tố giác, các cơ quan thực thi pháp luật và sức khỏe tâm thần sẽ tiến hành tìm kiếm động cơ thực hiện. Động cơ đó là tham lam, thèm khát, trả thù, hay đam mê? Một số tên tội phạm sẽ trốn tránh những câu hỏi phân tích như vậy, tỏ ra đó là thứ vô nghĩa và vô lý. Trong cuốn sách bán chạy nhất The Devil in the White City (tạm dịch: Ác quỷ trong thành phố trắng) của tác giả Erik Larson, thám tử Geyer cố gắng tìm hiểu lý do tại sao một người đàn ông không chỉ tàn sát những phụ nữ trẻ vô tội mà còn cả trẻ nhỏ.[70] “Mỗi tội ác đều có động cơ của nó. Tuy nhiên động lực thúc đẩy Holmes dường như tồn tại bên ngoài thế giới mà Geyer từng trải qua. [Geyer] tiếp tục đi đến cùng một kết luận: Holmes đang rất thích thú”. Nếu nắm bắt được tâm lý tội phạm, bạn sẽ hiểu được rằng một tên tội phạm thực hiện hành vi có vẻ không có chủ đích thực ra đều có chủ đích - đạt được cảm giác quyền lực, kiểm soát và sự phấn khích tuyệt đối. Nạn nhân của Larry là một người lạ. “Hãy bắt lấy ông ta” là thứ được gọi là động cơ - để từ đó thực hiện một đòn đánh gục ông ấy, khuất phục, đánh ông ấy thừa sống thiếu chết và sau đó cướp đi sinh mạng của ông ấy. Bạn có thể phỏng đoán rằng những người như Larry và Trevor là kẻ hoàn toàn không có lương tâm. Sự thật là họ sở hữu một lương tâm rách nát, xác xơ. Nói một cách khác là họ vẫn sở hữu một yếu tố nào đó của lương tâm. Giống như Larry và Trevor, những tên tội phạm không bao giờ suy xét đến lương tâm khi làm bất cứ điều gì chúng muốn và không cảm thấy hối hận về sau. Tất cả chúng ta đều đã từng làm tổn thương người khác, dù vô tình hay cố ý. Sau đó, chúng ta có thể sẽ phải chịu đựng cắn rứt của lương tâm và sẽ cố gắng sửa đổi lỗi lầm khi có thể. Chúng ta sẽ rút kinh nghiệm và trở nên nhạy bén hơn trong những lần sau. Thông thường, lương tâm sẽ kiềm chế hành vi của chúng ta ngay từ những giây phút đầu

tiên. Đoán trước tác hại mình có thể gây ra, chúng ta cố gắng ngậm chặt môi và kiềm chế sự bốc đồng của bản thân. Những tên tội phạm có thể sẽ trải qua những cảm giác hối tiếc một cách thoáng qua, nhưng những điều này không ngăn cản anh ta thực hiện những hành vi phạm tội trong tương lai. Khi biết ngôi nhà mà anh ta lục soát thuộc về một phụ nữ mắc bệnh nan y, một tên tội phạm đã rất hối hận và đã thu xếp để trả lại tất cả những đồ đạc bị trộm. Tuy nhiên, hành vi này sẽ không ngăn cản anh ta tiếp tục thực hiện các vụ trộm khác. Larry nhận ra rằng người khác có lương tâm, nhưng dường như tự hào rằng đây là điều anh ta không cần phải để tâm. Có vẻ như anh ta có thể hoàn toàn loại bỏ nhận thức về tất cả những lương tâm mà bản thân sở hữu, đủ lâu để theo đuổi mục tiêu trong mỗi thời điểm. Mặc dù xuất thân trong hoàn cảnh gia đình rất khác nhau, Larry và Trevor lại sở hữu những tính cách giống nhau. Cả hai đều từng phạm phải những tội danh liên quan đến tài sản, sử dụng ma túy trái phép và có hành vi bạo lực. Họ đã từng thực hiện nhiều hành vi phạm pháp hơn những gì mà cơ quan chức năng thấy được. Những sai lầm trong tư duy như vậy được ghi lại một cách sinh động trong tuyên bố của một người mà tôi từng nói chuyện khi anh ta nhớ lại suy nghĩ của bản thân lúc thực hiện hành vi ăn trộm: “Khi tôi bước vào căn phòng đó, mọi thứ trong căn phòng đó đều thuộc về tôi”. Đó không phải là dấu hiệu của bệnh tâm thần. Anh ta biết rõ rằng đầu đĩa DVD, máy vi tính, đồ trang sức và ti vi màn hình phẳng thuộc về người chủ nhân của ngôi nhà anh ta đang đột nhập. Tuy nhiên, trong tâm trí anh ta, những món đồ này đã là của anh ta. Tất cả những gì anh ta phải làm là chiếm hữu chúng, tìm ra cách tốt nhất để bán chúng và sau đó xử lý số tiền thu được. Larry cho biết bản thân cũng nghĩ như vậy khi nói, “Nếu tôi thấy thứ gì đó tôi muốn, tôi chỉ cần lấy nó mà thôi”. Trevor cũng có quan điểm tương tự khi anh ta tự ý lấy tiền của cha mẹ mình. Anh ta không cần phải biện minh cho việc lấy tiền của bản thân. Trong tâm trí của anh ta, số tiền đó đã là của anh ta và anh ta chỉ việc lên kế hoạch chi tiêu. Tội phạm không biện minh cho tội ác của họ trước khi thực hiện hành vi nào đó. Chúng hình thành mục tiêu, quyết định cách thức thực hiện, xem xét khả năng bị bắt và sau đó tấn công. Luôn tồn tại cảm giác phấn khích trong mọi giai đoạn của tội phạm - suy tính kết quả cuối cùng, lập kế hoạch phạm tội, thực hiện, trốn thoát, hân hoan với thành công, trốn tránh cảnh sát và thích thú trước sự chú ý của công chúng với tội ác đó. Ngay cả khi những tên tội phạm này đã bị bắt giữ thì cảm giác phấn khích của chúng

vẫn chưa hề chấm dứt. Sẽ có thêm rất nhiều người để anh ta có thể giở trò mưu mẹo, trong số đó có cảnh sát, thám tử, chuyên gia sức khỏe tâm thần, nhân viên tòa án và luật sư riêng của anh ta. Những lời biện minh cho những gì anh ta đã thực hiện có tác dụng sau khi anh ta bị bắt giữ và phải chịu trách nhiệm cho hành vi của mình. Một người đàn ông nói với tôi, “Tôi không ăn cắp của mọi người. Tôi chỉ ăn cắp từ các cửa hàng. Họ có đủ khả năng bù đắp những món đồ đó. Họ cũng đã từng lừa dối tiền bạc của mọi người. Họ sẽ không bao giờ bỏ qua điều đó”. Đây là tất cả suy nghĩ không thể thay đổi. Khi anh ta bước vào cửa hàng với ý định ăn trộm có sẵn trong đầu, anh ta phát hiện ra món đồ trang sức, tìm cách lấy nó và trốn thoát. Anh ta thừa nhận rằng, trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, anh ta không hề suy nghĩ về việc liệu cửa hàng có thể vượt qua được mất mát về mặt tài chính đó hay liệu có ai đó đã bị cửa hàng này lừa dối để chiến đoạt tiền hay chưa. Trong nhiều năm, anh ta đã ăn cắp từ nhiều cửa hàng và các cá nhân khác nhau, bao gồm cả mẹ ruột của mình. Tất cả chúng ta đều muốn có được thứ bản thân mong muốn trong thời điểm thèm khát. Câu hỏi đặt ra là: Chúng ta muốn thứ gì? Làm thế nào để chúng ta đạt được nó? Và điều gì sẽ xảy ra khi chúng ta bị cản trở? Hai người đàn ông bước vào một cửa hàng bán DVD. Một người là tội phạm, người kia thì không. Người đầu tiên chọn một bộ DVD. Việc phải trả tiền để mua thứ đó không xuất hiện trong tâm trí anh ta. Anh ta quan sát thấy nhân viên thu ngân đang bận bịu với một hàng dài khách hàng, tìm thấy một lối ra gần đó và không phát hiện có dấu hiệu bảo vệ của nhân viên hay thiết bị an ninh. “Tôi có thể đánh cắp toàn bộ nơi này”, anh ta nghĩ và lấy những gì anh ta muốn, nhanh chóng nhét các đĩa DVD vào một cái túi mà anh ta đã mang theo để chuẩn bị cho vụ trộm. Người không thực hiện hành vi tội phạm chọn một bộ DVD mà anh ta vô cùng yêu thích nhưng phát hiện ra nó có mức giá cao hơn hơn anh ta nghĩ. Anh ta để lại món đồ vào giá để hàng một cách miễn cưỡng và nghĩ: “Mình sẽ tiết kiệm và mua nó vào tháng sau”, rồi bỏ đi. Hành vi trộm cắp không xuất hiện trong tâm trí anh ta. Một tên trộm có thể ăn cắp một món đồ ngay cả khi anh ta có đủ số tiền trong túi để mua nó. “Tại sao phải mua nếu bạn có thể ăn cắp nó?” - một người đàn ông chuyên hành nghề trộm cắp nói. Một số kẻ trộm cho đi hoặc vứt bỏ những gì họ đã trộm. Hành động ăn cắp có ý nghĩa quan trọng hơn số tiền thu được. Thứ mà những kẻ phạm tội thực sự khao khát là sự phấn khích mà hắn nhận được khi qua mặt thành công những người bán hàng.

Mong muốn tạo ra cảm giác độc nhất của tên tội phạm là động lực thúc đẩy nhân cách của hắn. Mỗi con người đều sở hữu sự độc nhất trong thể chất, tâm lý và kinh nghiệm. Một tên tội phạm có thể trả tiền cho những gì anh ta sử dụng chung với những người khác, nhưng bên trong anh ta tin rằng anh ta giống như một dấu vân tay, hoàn toàn độc nhất vô nhị. Anh ta không chịu phải nhún nhường trước bất kỳ ai khác, ít nhất là trong một khoảng thời gian khá lâu, cũng như không để ý đến lời khuyên của mọi người. Theo quan điểm của anh ta, nếu anh ta phục tùng người khác thì điều đó giống như anh ta đang đánh mất thể diện của chính mình. Nếu chín tên tội phạm cùng ở trong một đội bóng chày thì tất cả chúng sẽ đều nghĩ mình là đội trưởng hoặc chỉ huy phụ trách. Anh ta mong muốn người khác đáp ứng yêu cầu của mình chứ không phải là điều ngược lại. Nếu không, anh ta sẽ lạm dụng hoặc cố gắng phá hoại họ. Khi không nhận được sự công nhận mà anh ta tin rằng bản thân có quyền được hưởng, anh ta sẽ trở nên thất vọng và tức giận. Bỏ học trở thành một lẽ sống. Những tên tội phạm không còn tham gia vào bất kỳ hoạt động hay tổ chức nào, và sau đó là bỏ việc. Trevor và Larry không hòa nhập được với những người khác một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 27

Đang tải bình luận...