Thám Tử Galileo Ra Mắt

phần lớn điều bí ẩn trên đời chẳng qua chỉ là trò

phần lớn điều bí ẩn trên đời chẳng qua chỉ là trò

phần lớn điều bí ẩn trên đời chẳng qua chỉ là trò đùa của chất lưu.” Yukawa bật công tắc trên tường. Căn phòng tối mờ lập tức sáng lên.

“Cậu mà dùng tinh thần ấy giúp tôi giải quyết chuyện kỳ quái này thì tôi cảm kích lắm.” Kusanagi nói. Yukawa ngồi xuống ghế sắt. “Hôm nay cậu lại mang đến vụ án khó tin nào? Chẳng lẽ có oan hồn xuất hiện?” “Trực giác của cậu nhạy thật.” Kusanagi mở túi thể thao, lấy ra vật đựng trong hộp nhựa trong suốt. “Đúng là mặt nạ của oan hồn.” Nhìn chiếc mặt nạ kim loại trong hộp, Yukawa nhướng một bên mày. “Đưa tôi xem kỹ.” Anh chìa tay phải. “Bằng nhôm.” Yukawa vừa sờ chiếc mặt nạ vừa nói. “Tôi nhìn là biết.” Kusanagi hơi đắc ý. “Trẻ tiểu học cũng biết.” Yukawa thản nhiên đáp. “Tại sao nó lại là mặt nạ của oan hồn?” “Chuyện đó quả thật rất kỳ quặc.” Kusanagi bắt đầu kể lại việc phát hiện chiếc mặt nạ ở trường cấp hai của cháu gái. Phó giáo sư vật lý ngồi trên ghế, hai tay đặt sau đầu, nhắm mắt nghe. “Vậy chủ nhân khuôn mặt này chính là người đàn ông mất tích?” Yukawa hỏi sau khi nghe xong. “Ừ.” Kusanagi đáp. “Có lẽ không sai.”

“Dựa vào đâu khẳng định?” “Vì đã tìm thấy thi thể.” “Thi thể?” Yukawa nghiêng người về trước. “Tìm thấy ở cái hồ gì ấy…” “Hồ Bầu.” Thi thể được phát hiện ba ngày trước. Vì vợ Kakimoto Shinichi là Masayo và em gái Ryoko đều khẳng định khuôn mặt trên chiếc mặt nạ là Shinichi, cảnh sát đã tổ chức tìm kiếm toàn diện ở Hồ Bầu. Vài giờ sau, họ phát hiện thi thể. Xác đã phân hủy nghiêm trọng, không thể nhận dạng chỉ bằng quần áo. May thay, dựa trên hồ sơ điều trị răng, cảnh sát nhanh chóng xác định người chết là Kakimoto Shinichi. “Tại sao khuôn mặt của thi thể lại rơi dưới hồ?” Yukawa cau mày. “Hơn nữa còn là khuôn bằng kim loại.” “Vì không biết nên tôi mới đến tìm cậu.” Nghe Kusanagi nói, Yukawa khẽ hừ, dùng ngón giữa đẩy kính lên. “Tôi đâu phải pháp sư, không thể quay về quá khứ.” “Nhưng cậu có thể tìm ra sự thật ẩn phía sau.” Kusanagi cầm chiếc mặt nạ kim loại lên. “Hiện tại có hai

vấn đề. Một là nó được chế tạo bằng cách nào. Hai là vì sao hung thủ phải làm ra nó.” “Hung thủ?” Yukawa lại cau mày, nhìn người bạn cũ thời sinh viên rồi chậm rãi gật đầu. “Hiểu rồi. Nếu không phải án mạng, cảnh sát Phòng Điều tra số 1 đã chẳng sốt ruột thế này.” “Một bên hộp sọ bị lõm. Kết quả giám định cho thấy đầu nạn nhân từng bị một vật cứng, nặng đánh rất mạnh.” “Hung thủ là đàn ông?” “Hoặc một phụ nữ có sức tay rất khỏe.” “Chủ nhân chiếc mặt nạ đã kết hôn. Vậy người vợ cũng có khả năng chứ? Trong tiểu thuyết trinh thám, nghi phạm thường là người thân cận với nạn nhân, lại còn là phụ nữ. Mô-típ đó đâu hiếm.” “Bà Kakimoto nhỏ người, trông không có sức, tôi nghĩ bà ấy không làm nổi. Tuy nhiên chúng tôi vẫn chưa hoàn toàn loại bà ấy khỏi diện nghi vấn.” “Người vợ giết chồng. Trước khi vứt xác xuống hồ, bà ta làm mặt nạ để giữ làm kỷ niệm, rồi cuối cùng ném luôn khuôn nhôm dùng để chế tạo. Lập luận ấy cũng không phải vô lý.” Yukawa lấy chiếc mặt nạ từ tay

Kusanagi, quan sát lại. Giọng anh có vẻ thờ ơ, nhưng ánh mắt lại nghiêm túc như khi nghiên cứu. “Chỉ cần suy ra cách chế tạo chiếc mặt nạ, tôi cũng biết ơn lắm rồi.” Kusanagi nhìn vật trên tay Yukawa. “Trong nội bộ cảnh sát hẳn cũng đã có vài giả thuyết?” “Tôi đã trao đổi với bên giám định. Họ làm đủ loại thí nghiệm.” “Chẳng hạn?” “Đầu tiên, họ thử lấy một tấm nhôm mỏng như chiếc mặt nạ, ép trực tiếp lên mặt người để lấy khuôn.” “Nghe thú vị đấy.” Yukawa mỉm cười. “Kết quả?” “Hoàn toàn thất bại.” “Tất nhiên.” Yukawa bật cười. “Nếu dễ thế, những người làm tượng sáp đã chẳng phải khổ sở.” “Dù cẩn thận đến đâu, cơ mặt vẫn bị ép biến dạng. Nói cách khác, cùng lắm chỉ lấy được một khuôn mặt biến dạng như khi trùm tất lên đầu, còn khuôn mặt người sống thì gần như không thể. Với người chết có lẽ được.” “Vì xác đã cứng.” Yukawa gật đầu, nụ cười biến mất.

“Dù sao bên giám định cũng ngại dùng thi thể thật để thử nghiệm, nên họ dùng một mẫu khuôn mặt được sao lại từ vụ án khác để thí nghiệm. Cuối cùng cũng chế được một vật tương tự.” “Tương tự?” “Ý tôi là hình dáng có giống khuôn mặt. Nhưng đáng tiếc, không thể tạo ra thành phẩm tinh xảo thế này.” Kusanagi chỉ vào chiếc mặt nạ trong tay Yukawa. “Cụ thể là không thể sao chép chính xác đến từng đường nét và vân da như nó. Nếu dùng vật liệu mỏng hơn, chẳng hạn lá nhôm, có lẽ làm được. Nhưng với độ dày của chiếc mặt nạ này thì rất khó.” “Giấy nhôm lại khó giữ được hình dạng hiện tại.” “Tóm lại, bên giám định cho rằng phải tác động một lực rất mạnh và đồng đều lên toàn bộ tấm nhôm mới có thể làm được.” “Tôi cũng nghĩ vậy.” Yukawa đặt chiếc mặt nạ lên bàn. “Vậy phía cảnh sát bó tay về cách chế tạo?” “Có thể nói vậy.” Kusanagi gật đầu. “Sao nào? Thầy Yukawa khoa Vật lý cũng chịu thua à?” “Tôi không đơn giản đến mức mắc một phép khích tướng vụng về như thế.” Yukawa đứng dậy, đi đến bồn nhỏ cạnh cửa. “Uống cà phê không?”

“Thôi. Dù sao chắc chắn cũng chỉ là cà phê hòa tan.” “Cậu coi thường cà phê hòa tan như vậy thì phiền đấy.” Yukawa đổ loại bột cà phê rẻ tiền vào chiếc cốc vẫn cáu bẩn, rõ ràng chưa từng được rửa kỹ. “Trong quá trình phát triển cà phê hòa tan, người ta đã trải qua vô số thất bại. Có lẽ ít người biết, nhưng người đầu tiên nghiên cứu thành công và thương mại hóa cà phê hòa tan là một người Nhật. Khi ấy họ dùng phương pháp sấy trống quay. Nói đơn giản là làm khô dịch chiết cà phê thành bột. Sau đó Maxwell phát minh phương pháp sấy phun, nâng chất lượng hương vị và khiến lượng tiêu thụ tăng vọt. Đến thập niên 1970, phương pháp sấy đông khô chân không ra đời và trở thành kỹ thuật chủ đạo hiện nay. Thấy chưa? Chỉ một ngụm cà phê hòa tan mà kiến thức bên trong cũng sâu lắm.” “Dù vậy tôi vẫn không thích cà phê hòa tan.” “Ý tôi là không có thứ gì được tạo ra tùy tiện. Mặt nạ nhôm cũng thế, cà phê hòa tan cũng thế.” Yukawa rót nước sôi vào cốc, khuấy vài vòng rồi đưa lên gần miệng, hít mùi cà phê. “Tuyệt thật. Đây chính là hương thơm của văn minh khoa học.”

“Cậu không ngửi thấy mùi tương tự trên chiếc mặt nạ sao?” Kusanagi chỉ lên bàn. “Tất nhiên có. Rất nồng.” “Vậy thì…” “Tôi có hai, ba câu hỏi.” Yukawa cầm cốc. “Hồ Bầu là cái hồ thế nào? Nằm ở đâu?” “Hồ thế nào nhỉ…” Kusanagi xoa cằm. “Chỉ là một ao nhỏ rất bình thường dưới chân núi. Rác vứt bừa bãi, ngoài bẩn thỉu ra không có đặc điểm gì. Xung quanh đầy cỏ dại, gần đó có đường đi bộ. Cả khu được gọi là công viên tự nhiên.” “Quanh đó không có ai săn bắn à?” “Săn bắn?” “Ý tôi là đi săn. Không có thợ săn cầm súng lảng vảng sao? Hơn nữa không phải súng săn đạn ghém mà là súng trường.” “Súng trường? Đừng đùa.” Kusanagi cười. “Ngọn núi nhỏ như vậy làm gì có con mồi cần dùng súng trường. Tôi cũng chưa nghe tin sư tử trốn khỏi sở thú. Nói chung, nơi đó cấm săn bắn.” “Vậy à.” Yukawa uống cà phê với vẻ nghiêm túc; có vẻ anh không hề nói đùa về chuyện súng trường.

“Có chuyện gì? Súng trường liên quan thế nào? Tôi vừa nói rồi, bên đầu nạn nhân có dấu vết bị vật cùn đánh…” “Tôi biết.” Yukawa giơ bàn tay rảnh lên ngăn Kusanagi. “Tôi không nói đến nguyên nhân tử vong. Tôi đang nghĩ về cách chế tạo mặt nạ. Nhưng có vẻ nó không liên quan đến súng trường.” Kusanagi ngơ ngác nhìn người bạn hơi kỳ quặc. Mỗi khi nói chuyện với người này, anh thường có cảm giác đầu óc mình kém cỏi. Lúc này anh cũng hoàn toàn không hiểu vì sao Yukawa lại nhắc đến súng trường. “Thu xếp thời gian đi một chuyến nhé.” Yukawa chậm rãi nói. “Đến Hồ Bầu.” “Lúc nào cũng được.” Kusanagi đáp. 4 Sau khi chia tay Yukawa, Kusanagi cùng đồng nghiệp Kozuka đến nhà Kakimoto Shinichi. Gia đình Kakimoto bận lo lễ viếng và tang lễ, nên mãi đến hôm qua họ vẫn chưa thể chính thức hỏi chuyện vợ nạn nhân là Masayo. Nhà Kakimoto nằm sâu trong một khu dân cư trên con dốc từ quốc lộ đi lên. Hai người qua cổng, bước lên

một đoạn cầu thang ngắn là tới cửa chính. Cánh cửa sắt của gara bên cạnh đang hạ xuống. Kakimoto Masayo ở nhà một mình. Bà có vẻ mệt mỏi, nhưng tóc đã được chải chỉnh tề, mặt cũng trang điểm, trông trẻ hơn nhiều so với lần gặp trước. Bà đang để tang nên mặc một chiếc áo sơ mi gần như màu đen, kiểu dáng giản dị. Tuy vậy, đôi khuyên ngọc trai nhỏ cho thấy bà vẫn khá chú ý đến việc ăn mặc. Masayo dẫn Kusanagi và Kozuka vào phòng khách. Phòng rộng khoảng tám chiếu tatami, đặt bộ sofa da. Trong tủ sát tường xếp nhiều cúp chiến thắng, quả cầu trên đỉnh cho thấy đó là cúp các giải golf. Kakimoto Shinichi khi còn sống là nha sĩ, kế nghiệp phòng khám do cha để lại. Nhìn những tấm bằng khen trên tường, Kusanagi nghĩ bệnh nhân của phòng khám ấy giờ chắc rất khốn đốn. Kusanagi trước hết nghe Masayo kể với vẻ mệt mỏi về những phiền phức khi tổ chức lễ viếng và tang lễ, rồi mới vào chủ đề chính. “Sau đó bà có nhớ thêm điều gì không?” Masayo đưa tay phải lên má, làm vẻ như đang đau răng.

“Từ lúc tìm thấy thi thể chồng tôi, tôi đã cố nhớ lại rất nhiều, nhưng thật sự không có manh mối nào. Tại sao chuyện như vậy lại đột nhiên xảy ra?” “Bà vẫn không nghĩ ra mối liên hệ nào giữa chồng bà và Hồ Bầu?” “Không.” Bà lắc đầu. Kusanagi mở sổ. “Tôi muốn xác nhận lại. Lần cuối bà nhìn thấy chồng là sáng thứ hai, ngày 18 tháng tám, đúng không?” “Vâng, đúng vậy.” Masayo trả lời ngay, không cần nhìn lịch trên tường. Bà đã bị hỏi câu ấy rất nhiều lần. “Hôm đó ông ấy hẹn người khác đi chơi golf, sáu giờ sáng lái xe rời nhà. Chiếc xe là…” Kusanagi nhìn ghi chép. “Một chiếc Audi màu đen. Đến đây có điểm nào cần sửa không?” “Không. Mọi việc đúng như anh nói. Sáng hôm ấy gia đình Hamada đối diện cũng chuẩn bị đi Izu. Tôi còn nhớ đã nhìn thấy họ chất hành lý lên xe, nên chắc chắn là ngày 18.” Masayo trả lời không hề do dự. “Sau đó chồng bà không về, sáng hôm sau bà trình báo cảnh sát, đúng không?” “Vâng. Ban đầu tôi nghĩ có thể ông ấy chơi golf xong rồi uống quá chén, ngủ quên ở đâu đó. Trước kia cũng

từng xảy ra. Nhưng sang ngày hôm sau vẫn không có tin tức. Khi tôi liên lạc với người bạn chơi golf, ông ấy bảo hôm đó họ không hề đi cùng nhau. Lúc ấy tôi mới lo…” “Và báo cảnh sát?” “Vâng.” Masayo gật đầu. “Sau khi rời nhà buổi sáng, chồng bà không liên lạc lần nào?” “Không.” “Còn bà? Bà không gọi cho ông ấy sao? Tôi nhớ ông ấy mang điện thoại di động.” “Tối đó tôi gọi rất nhiều lần nhưng không được.” “Sao rồi? Điện thoại cứ reo mà không ai bắt máy à?” “Không. Là không có sóng hoặc máy đã tắt.” “Hiểu rồi.” Kusanagi dùng ngón cái bấm đầu bút bi ra vào. Đó là thói quen mỗi khi anh bực bội. Chiếc Audi màu đen của Kakimoto Shinichi được tìm thấy bốn ngày sau khi ông mất tích, đỗ bên đường cao tốc ở tỉnh Saitama. Theo hồ sơ, cảnh sát đã lục soát khu vực lân cận nhưng không tìm được dấu vết nào về tung tích Kakimoto Shinichi. Trên thực tế, vụ mất tích ấy chưa từng được điều tra đến nơi đến chốn. Vụ mất tích

của Kakimoto Shinichi có lẽ vẫn chẳng tiến triển chút nào nếu không có một chuỗi tình cờ. Hai tháng sau, hai cậu học sinh nhặt được chiếc mặt nạ kim loại và dùng nó làm khuôn đổ mặt nạ thạch cao để trưng bày. Sau đó, giáo viên âm nhạc của trường nhận ra khuôn mặt ấy giống hệt anh trai của bạn mình. Trong chiếc Audi, cảnh sát tìm thấy túi gậy golf, túi thể thao và hộp giày golf của Kakimoto Shinichi. Trong xe không có dấu hiệu giằng co, cũng không có vết máu. Kakimoto Masayo xác nhận không mất đồ đạc. Hồ Bầu cách nơi tìm thấy chiếc Audi khá xa. Có lẽ hung thủ muốn trì hoãn việc thi thể bị phát hiện và đánh lạc hướng điều tra nên cố ý đưa xe tới nơi khác. “Chiếc xe đang ở gara à?” Kusanagi hỏi, nghĩ rằng nên cho bên giám định kiểm tra lại. Không ngờ Masayo lắc đầu với vẻ áy náy. “Tôi bán rồi.” “Bán rồi?” “Vì không biết kẻ nào đã dùng nó, tôi thấy rất khó chịu. Hơn nữa tôi cũng không lái xe.” Sau đó bà nói nhỏ: “Xin lỗi.” Điều ấy không phải không thể hiểu, Kusanagi nghĩ. Nếu giữ lại, mỗi lần nhìn thấy xe đều gợi lại ký ức xấu; người nhà chắc chắn không chịu nổi.

“Xin lỗi, đến giờ bà hẳn đã phải trả lời cùng một câu hỏi rất nhiều lần, chắc rất mệt. Nhưng tôi vẫn muốn hỏi: bà có biết chồng mình từng kết oán với ai không? Có ai sẽ hưởng lợi sau khi ông ấy qua đời, hoặc bị thiệt hại nếu ông ấy còn sống không?” Kusanagi hỏi mà không mong chờ gì. Kakimoto Masayo đặt hai tay lên đầu gối, thở dài. “Tôi thật sự đã bị hỏi nhiều lần, nhưng hoàn toàn không nghĩ ra. Nói thế này có hơi lạ, nhưng chồng tôi là người yếu đuối, tốt bụng quá mức. Ai nhờ gì ông ấy cũng không nói nổi lời từ chối. Ngay cả khi người ta rủ góp tiền mua ngựa, ông ấy cũng không thoái thác được.” Nghe đến đó, Kozuka, người vẫn im lặng, ngẩng đầu lên. “Ngựa? Ý bà là ngựa đua?” viên cảnh sát trẻ hỏi đầy hứng thú. Kusanagi lúc ấy mới nhớ Kozuka mê đua ngựa. “Vâng. Chồng tôi không hứng thú lắm, nhưng người bạn nhiệt tình thuyết phục nên cuối cùng ông ấy đồng ý góp mua chung.” “Ông ấy bỏ ra nhiều tiền không?” Kusanagi hỏi. “Tôi không rõ.” Masayo nghiêng đầu, đôi khuyên ngọc trai lay động. “Tôi không biết chính xác, nhưng

hình như khoảng mười triệu yên9 . Tôi từng nghe ông ấy nói chuyện điện thoại với ai đó về số tiền này.” “Chuyện đó xảy ra khi nào? Năm nay?” “Vâng, tôi nhớ là mùa xuân. Người kia đến tìm chồng tôi để bàn.” Masayo sờ má. “Bà có biết người rủ chồng mình góp mua ngựa tên gì không?” “Biết. Một người họ Sasaoka, hình như là bệnh nhân của chồng tôi. Tôi thấy ông ta hơi kỳ lạ nên không thích lắm, nhưng chồng tôi lại rất hợp với ông ta.” Vẻ mặt bà không vui, có lẽ từng có ấn tượng khó chịu về người đàn ông ấy. “Bà có thể cho chúng tôi cách liên lạc không?” “Được. Xin đợi một chút.” Masayo đứng dậy, ra khỏi phòng. “Giàu thật, còn định mua ngựa đua.” Kozuka nói nhỏ. “Đúng là nha sĩ kiếm bộn tiền.” Rồi như nhớ đến cảm giác lúc chữa răng, anh ta xoa má phải. Kusanagi không đáp, chỉ xem lại những điều đã ghi và nghĩ: Vậy con ngựa ấy ở đâu? 9 Yên là đơn vị tiền tệ của Nhật Bản. Giá trị quy đổi sang tiền Việt thay đổi theo thời điểm, nên số tiền trong truyện không được gắn với một mức quy đổi cố định.

5 Yukawa đứng bất động, hai tay đút túi quần cotton. Sau tròng kính là ánh mắt tức giận. “Quá đáng thật!” Anh phẫn nộ. “Tôi lại được dịp nhận ra đạo đức con người thấp đến mức nào. Tệ đến mức nỗi buồn còn lớn hơn cả sự tức giận.” Kusanagi đứng cạnh Yukawa nhìn Hồ Bầu. Nơi đây vẫn như khi vớt thi thể, phế liệu và rác cồng kềnh chất khắp nơi. Dưới chân hai người thậm chí có mấy bình ắc quy ô tô mới xuất hiện mấy ngày gần đây. “Chỉ người Nhật mới có thể biến nơi này thành thế này. Đáng xấu hổ.” Kusanagi nói. “Không. Đây không phải độc quyền của người Nhật.” “Thế à?” “Có quốc gia mà nhà máy điện hạt nhân còn lén vứt chất thải phóng xạ xuống sông. Văn minh khoa học có phát triển đến đâu, lòng người không tiến hóa theo thì kết quả vẫn thế này.” “Chỉ là vấn đề của người sử dụng sao? Còn nội tâm của những học giả tạo ra các thành tựu khoa học ấy thì thế nào?”

“Tâm hồn học giả thuần khiết và vô tư. Nếu không sẽ không thể có cảm hứng thuần khiết.” Yukawa nói như thể đó là điều hiển nhiên rồi bước đến bờ hồ. “Tự phụ thật.” Kusanagi cười khẽ, đi theo. Yukawa đứng bên bờ, nhìn quanh mặt nước. “Chỗ tìm thấy thi thể ở đâu?” “Bên kia.” Kusanagi chỉ vào khu bẩn nhất của Hồ Bầu. “Qua xem đi.” Nơi vớt xác chất nhiều đồ cồng kềnh không rõ nguồn gốc và vật liệu kim loại. Chúng được kéo lên cùng thi thể từ đáy hồ, món nào cũng bám bùn xám; lớp bùn khi ấy giờ đã khô cứng. Ánh mắt Yukawa đang nhìn xuống chân bỗng dừng tại một điểm. Anh ngồi xổm, nhặt một vật lên. “Mới đến đã tìm thấy gì rồi à?” Kusanagi hỏi. Thứ Yukawa cầm là một tấm kim loại vuông cạnh khoảng ba mươi xentimét. Kusanagi không phải lần đầu nhìn thấy; trước kia tới đây anh đã thấy vài tấm tương tự. “Có vẻ là phế liệu do một công ty vứt. Chúng tôi đang điều tra xem của đơn vị nào.” “Nó có lẽ là vật liệu làm chiếc mặt nạ.”

“Bên giám định cũng nói vậy. Chất liệu giống nhau, chắc không sai.” Yukawa nhìn quanh, nhặt thêm hai tấm nhôm. Sau đó anh nhìn vào đám cỏ gần đó rồi nhặt một vật khác: sợi dây điện bọc nhựa đen. “Sợi dây ấy có gì?” Kusanagi hỏi. Yukawa không trả lời, chỉ chăm chú nhìn một đầu dây.

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 10

Đang tải bình luận...