phần lớn người sống sót của nạn lạm dụng tâm lý sẽ hỏi tôi rằng: “Làm sao bạn biết tôi không phải là một người độc hại?” Đó là một câu hỏi chính đáng, nhưng nó cũng cho thấy việc nghi ngờ bản thân tồn tại sau khi bị lạm dụng tiềm ẩn. Câu trả lời của tôi? Một nhà trị liệu tâm lý, vốn đã quen thuộc với dạng tổn hại này của lạm dụng tiềm ẩn, sẽ lắng nghe kỹ lưỡng những câu chuyện của người sống sót và nhìn nhận các dạng lạm dụng thường thấy qua những tin nhắn thoại, thư điện tử và/hoặc tin nhắn trao đổi giữa kẻ lạm dụng và người sống sót. Nó sẽ làm sáng tỏ đâu là kẻ đang xuyên tạc sự thật và tạo ra sự hỗn độn. Tính chất tinh vi của lạm dụng tâm lý làm cho người sống sót nghi ngờ bản thân, nhưng trong quá trình hồi phục, cần có sự tự tin. Tính chất tinh vi của lạm dụng tâm lý làm cho người sống sót nghi ngờ bản thân, nhưng trong quá trình hồi phục, cần có sự tự tin. Trong những giai đoạn đầu của quá trình hồi phục, người sống sót thường nói về người độc hại là “hai con người hoàn toàn khác nhau”. Người sống sót thảo luận về người độc hại như thể họ đang nói về một người vừa là người tử tế vừa là một kẻ lạm dụng. Thách thức thực sự của cách tiếp cận này là nó không liên quan đến thực tế. Họ là cặp sinh đôi tồi tệ. Một số trong họ cũng có khoảng thời gian tử tế khi họ thấy thích. Người sống sót phải đấu tranh với mong muốn phân tách những hành vi của người độc hại và phải nhìn họ trong tổng thể là một người gây tổn hại cho hạnh phúc của người sống sót. Những
giây phút họ tử tế thường rất khó hiểu và khiến quá trình hồi phục của người sống sót bị trì hoãn. Tôi không đòi hỏi người sống sót tập trung vào những hành vi tiêu cực hoặc tiếp tục đau khổ. Tôi đang yêu cầu người sống sót nhìn nhận kẻ lạm dụng trong một bức tranh tổng quát chứ không phải bức tranh cắt ghép với nhiều mảnh ghép mà chúng ta có thể lấy ra và chỉ nhìn vào một mảnh ghép tại một thời điểm. Người sống sót phải tập hợp tất cả những mảnh ghép và đứng lùi lại để nhìn thấy bức tranh thực sự. Một cách để người sống sót có thể giúp bản thân trong giai đoạn Tuyệt vọng là đừng giảm thiểu sự tức giận của họ. Thông thường, người sống sót sẽ cố gắng gác cảm xúc giận dữ, tức giận hoặc thậm chí cơn thịnh nộ của mình sang một bên. Tại sao họ làm vậy? Vì họ tin rằng người tử tế sẽ không để cơn giận làm mình mất tự chủ. Liệu việc không kiểm soát cơn giận có phải là điều khôn ngoan? Dù thế nào, điều đó thậm chí có thể dẫn đến nhiều vấn đề hơn. Cho phép cơn giận dữ được bộc lộ – vì cuộc sống của họ bị ảnh hưởng bởi những kẻ lạm dụng – là một động lực chính của sự thay đổi. Để duy trì kết nối với cảm giác của mình, một động lực trưởng thành cá nhân, đôi khi người sống sót cần những nhắc nhở trực quan về những điều họ đã trải qua. Ví dụ? Rất nhiều lần mọi người lấy các hình ảnh, bản ghi nhớ hoặc trích dẫn trên mạng làm trọng tâm của sự thật. Những thứ này đưa người sống sót quay lại cảm xúc chân thật, cảm giác chán ghét kẻ lạm dụng. Nguồn năng lượng này đẩy họ về phía trước, làm những điều phải làm để sống lành mạnh hơn. Chúng ta không thể chữa lành vết thương nếu không sống trong thực tại. Tưởng tượng về những điều có thể, những điều đáng lẽ hoặc nên xảy ra có tác dụng ngược đối với quá trình hồi phục. Sự thật khó nhận ra lại chính là những điều một tâm hồn mệt mỏi phải thấy, lấy đó làm động lực thay đổi tình trạng cuộc sống hiện tại.
Rất nhiều lần mọi người lấy các hình ảnh, bản ghi nhớ hoặc trích dẫn trên mạng làm trọng tâm của sự thật. Những thứ này đưa người sống sót quay lại cảm xúc chân thật, cảm giác chán ghét kẻ lạm dụng. Nguồn năng lượng này đầy họ về phía trước để làm những điều phải làm để sống lành mạnh hơn.
Giai đoạn 2 NHẬN DIỆN Lạm dụng tâm lý quỷ quyệt đến mức khác thường và do vậy dễ gây hiểu lầm. Đó chính là một