phần lương bỏ vào quỹ vì số tiền này không ghi trên bảng lương, nhưng họ phải đóng thuế An Sinh Xã Hội (FICA) và Y Tế trên nguồn lợi tức trích bỏ vào quỹ hưu 401(k).
298 [10] Deregulation: quá trình giải quy, hay giải điều tiết, tức là giảm bớt các quy định và điều tiết của Nhà nước lên các thị trường. [11] Asset-backed security. [12] Tried-and-true rules. [13] Mô hình kinh tế lượng (econometric model) là tập hợp thống nhất các tư tưởng kinh tế học và ứng dụng các công cụ toán học mà loài người cho là hữu ích nhằm mô tả sự đa dạng các quá trình vận động kinh tế, các trạng thái và tổng thể nền kinh tế... [14] Nợ Chính phủ (Government debt) hay còn gọi là nợ công (public debt), nợ quốc gia (national debt) là tổng số tiền mà Chính phủ Liên bang Mỹ nợ các chủ nợ cả trong và ngoài nước. Con số này nhỏ hơn nợ gộp của quốc gia (gross national debt), do nợ gộp bao gồm cả các quỹ của Chính phủ, như Quỹ tín thác an sinh xã hội (Social Security Trust Fund). [15] Nguyên văn “hot money”, chỉ những khoản tiền của những nhà đầu tư quan tâm đến lợi nhuận ngắn hạn, sẵn sàng di chuyển nguồn tiền của họ từ nơi này sang nơi khác vào bất kỳ lúc nào, miễn sao đạt lợi nhuận cao hơn - ND. [16] Nguyên văn là “excess savings”. [17] Đơn vị lãi suất tương đương với 1/100 của 1%, và được sử dụng thường xuyên, thông dụng để thông báo thay đổi lãi suất của một công cụ tài chính. [18] Ý nói ở Mỹ lãi suất chỉ tăng vài chục điểm cơ bản cũng đã là tăng rất nhiều rồi - ND. [19] Sovereign wealth fund. [20] Buy-and-hold strategy. [21] Một bộ thuộc nội các của Chính phủ Hoa Kỳ, đảm trách việc quản lý toàn bộ đất đai thuộc sở hữu liên bang, không như ở các nước khác là cơ quan
299 đảm trách về an ninh và cảnh sát - ND. [22] Quỹ đầu tư phòng vệ (hedge funds) và công ty / quỹ đầu tư cổ phần tư nhân (private equity firm / funds) đều là những quỹ đầu tư ít bị điều tiết ngặt nghèo trên thị trường tài chính, về bản chất đều là các “rổ tiền riêng” đầu tư vào các loại chứng khoán khác nhau; đều kích thích bộ máy quản lý quỹ bằng lợi nhuận do quỹ sinh ra. Nhưng hầu hết các quỹ Hedge fund đầu tư vào các tài sản có tính thanh khoản rất cao, và cho phép các nhà đầu tư góp vốn hoặc rút vốn khỏi quỹ khá dễ dàng. Hầu hết các quỹ Private equity lại đầu tư vào các tài sản vốn không thanh khoản như các công ty ở giai đoạn trước khi trở thành đại chúng. Như vậy, nhà đầu tư vào Private Equity Fund thường bị “giam tiền” trong suốt đời hoạt động của quỹ (thường từ 7-10 năm) (Theo www.saga.vn) [23] Nguyên văn là “carried interest”: một