hồi loanh quanh trong nhà. Không dễ để phân biệt các căn phòng, cũng bởi vì đồ đạc đều được phủ vải trắng để chống bám bụi. Nhấc chúng lên để tìm kiếm manh mối, Marcus mới phát hiện ra
những vật dụng hằng ngày, đồ nội thất và trang trí đều ở đúng vị trí. Bất cứ ai sau này mua ngôi biệt thự – chuyện luôn có thể xảy ra – sẽ được thừa kế toàn bộ những thứ thuộc về gia đình Agapov, dù không hay biết lịch sử và thảm kịch đã diễn ra giữa những đồ vật ấy. Trong phòng làm việc có một tủ sách lớn. Phía trước nó là một cái bàn bằng gỗ sồi. Bằng động tác nhanh nhẹn, Marcus giải phóng tất cả đồ đạc khỏi lớp vải che phủ. Anh ngồi xuống chiếc ghế bành phía sau bàn làm việc, ở chỗ ắt hẳn là nơi chỉ huy của Anatoli Agapov. Anh lục lọi các ngăn kéo. Cái thứ hai từ bên phải bị kẹt. Linh mục ân giải nắm lấy tay cầm bằng cả hai tay và kéo, cho đến khi nó bật tung và rơi xuống đất đánh rầm một tiếng vang khắp ngôi nhà. Trong đó có một chiếc khung ảnh nhưng giờ đang nằm úp dưới đất. Marcus lật nó lại. Đó là bức hình mà anh biết. Bà quản gia đã đưa nó cho anh và sau đó nó đã bị Fernando thiêu rụi. Bức hình này y hệt cái đó. Một hình ảnh mang màu sắc đã phai nhạt theo thời gian, được chụp vào những năm 80. Có lẽ là một bức ảnh được chụp tự động. Ở giữa là Anatoli Agapov – không quá cao, vạm vỡ, tầm năm mươi tuổi, mặc một bộ com-lê tối màu, áo gilê và thắt cà vạt, tóc chải ngược về phía sau và có một chùm râu dê màu đen. Phía bên phải ông ta là Hana – mặc đầm nhung đỏ, tóc không quá dài cũng chẳng quá ngắn,