Tiếu Ngạo Giang Hồ

phần có đến tám chín chỉ

phần có đến tám chín chỉ

phần có đến tám chín chỉ nghe thấy âm mà không rõ nghĩa. Hắn lẩm bẩm: - Không hiểu tiểu sư muội học khúc tân ca này từ bao giờ mà nghe hay gớm. Lần sau nàng lên núi, mình phải bảo nàng hát cho nghe từ đầu mới được. Bỗng hắn cảm thấy đau nhói tựa hồ như trước ngực bị đánh một trùy nặng. Đột nhiên hắn tỉnh ngộ tự nói một mình: - Đây là giọng sơn ca ở tỉnh Phúc Kiến. Chắc là Lâm sư đệ dạy nàng rồi. Đêm hôm ấy trong lòng Lệnh Hồ Xung lại nhộn nhạo như sóng cồn, hắn không tài nào ngủ được. Bên tai hắn giọng hát nhẹ nhàng mau lẹ của Nhạc Linh San vẫn còn văng vẳng. Tiếng hát sơn ca khó bề hiểu rõ. Mấy lần hắn tự than trách: - Lệnh Hồ Xung hỡi Lệnh Hồ Xung! Trước kia ngươi tiêu dao tự tại không biết chừng nào mà bây giờ ngươi để cho một khúc hát làm bận lòng không sao thoát ra được ư? Ngươi là nam tử hán, là đại trượng phu cũng uổng mà thôi. Dù hắn tự biết mình chẳng nên thế mà tiếng hát của Nhạc Linh San tựa hồ quanh quẩn bên tai không

ngớt. Lệnh Hồ Xung trong lòng đau khổ, hắn cầm trường kiếm chém bừa đâm ẩu vào vách đá. Hắn cảm thấy luồng nội lực từ huyệt đan điều bùng lên. Hắn vung kiếm phóng về phía trước. Tư thế này giống hệt Nhạc phu nhân ra chiêu “Vô song vô đối Ninh thị nhất kiếm”. Bỗng một tiếng “kịch” vang lên! Thanh kiếm ngập vào vách đá. Lệnh Hồ Xung giật mình kinh hãi. Gã tự lượng dù trong mấy tháng nay công lực có tăng tiến nhanh đến mấy đi nữa cũng quyết không thể đâm một nhát kiếm ngập sâu vào vách đá đến tận chuôi được. Nội lực tinh thần thâm hậu đến bực nào mà vận ra mũi kiếm để đâm vào đá như vào cây khô bao giờ? Đến ngay nội lực của sư phụ cùng sư nương vị tất đã đến thế được. Hắn ngơ ngẩn một chút giựt mạnh thanh kiếm ra. Lập tức hắn cảm giác được vánh đá này chỉ có một lần rất mỏng chừng ba tấc là đến quãng không. Nguyên mặt bên kia vách đá trống rỗng. Lệnh Hồ Xung nổi tính hiếu kỳ lại cầm kiếm đâm nhát nữa. “Chát” một tiếng, thanh kiếm bị gãy liền. Nguyên lần này hắn vận kình không đủ, vách đá dày ba tấc cũng không xuyên qua được. Hắn cất tiếng chửi bâng quơ vài câu rồi ra ngoài thạch động bê một khối đá lớn bằng cái đấu đoạn

vận toàn lực gieo vào vách đá. Những mảnh đá vụn rớt xuống ào ào. Đồng thời hắn nghe khối đá gieo vào vách bật lên tiếng “uỳnh” và bên kia vách đá văng vẳng có tiếng vang. Hiển nhiên phía sau là một khoảng không khá rộng. Lệnh Hồ Xung lại vận nội lực liệng mạnh lần nữa. Một tiếng “sầm” vang lên. Khối đá xuyên qua vách thạch động xuống bên kia. Tiếng lọc cọc vẫn vang lên không ngớt do khối đá rớt xuống phát ra còn vang lên một lúc. Nguyên mặt sau vách đá này thoai thoải dốc xuống. Lệnh Hồ Xung trong lòng thắc mắc không yên. Hắn phát hiện sau vách đá còn có thạch động. Mới trong chớp mắt, bao nhiều phiền não trong lòng đều mất hết. Hắn lại lượm đá liệng thêm mấy lần. Rồi đầu hắn có thể chui qua lỗ vách để nhìn vào. Lệnh Hồ Xung tiếp tục phá cho lỗ hổng rộng thêm. Hắn bật lửa đốt đuốc chui vào thì thấy bên trong là một cửa hầm chật hẹp. Hắn cúi đầu nhìn xuống rồi toàn thân toát mồ hôi lạnh ngắt vì thấy bên mình có bộ xương khô nằm phục tại đó. Lệnh Hồ Xung chẳng khi nào ngờ tới bên kia vách đá lại có bộ xương khô này. Hắn rán định thần tự hỏi: - Phải chăng đây là ngôi mộ của tiền nhân? Nhưng sao bộ xương này lại không nằm thẳng thắn mà phủ phục thế này? Như vậy cửa hầm nhỏ hẹp này

quyết không phải là mồ mả. Hắn cúi xuống nhìn bộ xương thấy y phục đã nát hết. Bên bộ xương còn bỏ hai chiếc búa lớn. Dưới ánh đuốc sáng rực, hắn cầm một chiếc búa nhấc lên, cảm thấy rất trầm trọng, có tới ngoài bốn chục cân. Tiện tay hắn cầm búa chém vào vách đá bên mình. “Sầm” một tiếng! Một khối đá lớn lập tức rớt xuống. Lệnh Hồ Xung ngẩn người ra ngẫm nghĩ: - Cái búa này sắc bén như vậy tất không phải vật tầm thường. Nhất định nó là binh khí của một vị tiền bối võ lâm. Lệnh Hồ Xung lại nhìn vào chỗ vách đá vừa chặt thì thấy nhẵn thín tựa hồ dao cắt đậu hũ. Hắn ngó kỹ hai bên vách đá thấy có nhiều nhát búa chém vào hãy còn dấu vết, bất giác hắn ngẩn người ra ngẫm nghĩ rồi giơ đuốc lên đi xuống. Quả nhiên vách đá chỗ nào cũng còn vết tích búa đẽo. Hắn ngấm ngầm kinh hãi bụng bảo dạ: - Té ra đường hầm đây do người này dùng lưỡi búa sắc bén chém đá để mở đường. Phải rồi! Không hiểu vì lẽ gì y bị cầm tù vào trong lòng núi rồi dùng búa phá núi mở đường để tính bề tháo thân, nhưng không đủ sức. Y rời khỏi động mới được mấy tất đã kiệt lực mà chết. Than ôi số phận con người là thế này đây. Lệnh Hồ Xung đi một lúc nữa vẫn chưa tới đầu

đường hầm liền nghĩ bụng: - Người này phá núi mở đường như vậy thì nghị lực kiên quyết võ công cao cường nghìn xưa hiếm có. Bất giác hắn sinh lòng bội phục. Lệnh Hồ Xung đi thêm mấy bước lại thấy dưới đất có hai bộ xương nữa. Một bộ ngồi dựa vào vách đá, còn một bộ như nằm khoèo. Lệnh Hồ Xung lẩm bẩm: - Té ra không phải chỉ có một người bị cầm tù ở đây. Đoạn hắn tự hỏi: - Chỗ này là trọng địa của núi Hoa Sơn ta, người ngoài d gì mà đến đây được? Chẳng lẽ những bộ xương này đều là những bậc tiền bối bản phái phạm pháp bị cầm tù rồi chết chăng? Lệnh Hồ Xung đi thêm mấy trượng nữa. Đột nhiên hắn thấy mé tả có ánh sáng lọt vào. Hắn liền thuận chiều đường hầm đi về mé tả. Bỗng trước mắt hiện ra một thạch động rất lớn có thể chứa được cả ngàn người. Góc trên mé hữu thạch động có một lỗ hổng rất lớn rộng đến hơn trượng. Ánh sáng ban ngày xuyên qua lỗ hổng này chiếu vào trong. Lúc này trời mới bình minh, ánh dương quang chưa có mây mà đã soi rõ mọi vật trong thạch động. Trong thạch động còn có tới bảy bộ hài cốt hoặc ngồi hoặc nằm, bên người nào cũng có binh khí.

Cạnh năm bộ xương này có đặt trường kiếm còn hai bộ bên hai bộ kia là hai thứ binh khí rất lạ. Một thứ giống như lưỡi tầm sét còn một thứ là thanh đao hai lưỡi có ba răng nhọn hoắt như răng chó sói. Lệnh Hồ Xung lẩm bẩm: - Những người sử dụng hai món binh khí kỳ lạ ở đây và hai cây búa ngoài kia quyết nhiên không phải đệ tử bản môn. Còn năm vị sử trường kiếm này chắc là những bậc tiền bối của bản môn. Lệnh Hồ Xung cúi xuống lượm một thanh kiếm lên, thấy nó ngắn hơn kiếm thường mà lưỡi lại lớn gấp đôi. Thanh kiếm cầm vào tay rất trầm trọng. Lệnh Hồ Xung bụng bảo dạ: - Phái Thái Sơn thường dùng thanh kiếm này. Vậy đây chắc là một vị tiền bối phái Thái Sơn. Lệnh Hồ Xung lại xem đến thanh trường kiếm kia thì một thanh nhẹ và mềm. Đó là loại khí giới của phái Hằng Sơn. Một thanh lượn thành đường cong. Đó là một trong ba thứ kiếm mà phái Hành Sơn thường sử dụng. Kế đến một thanh kiếm mũi nhọn và sắc bén phi thường, Lệnh Hồ Xung nhận ra đây là thứ binh khí mà vị tiền bối nào đó ưa dùng hẳn người phái Tung Sơn. Thanh kiếm thứ tư bề dài và trọng lượng đúng là thứ kiếm thường dùng của bản phái. Lệnh Hồ Xung càng nghĩ càng lấy làm kỳ tự hỏi: - Năm vị tiền bối đây đều là Ngũ nhạc kiếm phái

mà sao đều chết ở chốn này? Chẳng lẽ các vị cùng tranh đâu với năm địch nhân bên ngoài rồi cả hai bên cùng chết cả hết ư? Lệnh Hồ Xung soi đuốc lên cả bốn bức vách động thì thấy bức vách mé tả có khắc 16 chữ: Ngũ nhạc kiếm phái, Toàn bọn hạ lưu Tỷ thí không được Liền ám hại người. Mỗi hàng bốn chữ, cả thảy bốn hàng. Chữ nào cũng khắc sâu vào vách đá bằng lưỡi kiếm cực kỳ sắc, chiều sâu vào đến ba tấc. Mười sáu chữ này coi rất hùng hồn, tựa hồ bạt kiếm giương cung. Ngoài 16 chữ lớn, ở bên cạnh còn vô số chữ nhỏ như: “Ty bỉ vô lại”, “Thực là đáng hổ” , hay là “Đê hèn” , “Khiếp nhược”. Khắp cả toàn là những câu thóa mạ. Lệnh Hồ Xung coi xong tức giận vô cùng, bụng bảo dạ: - Té ra những người này bị Ngũ nhạc kiếm phái ta bắt vào cầm tù ở đây. Họ phẫn uất quá mà không có chỗ phát tiết liền viết chữ lên vách đá để thóa mạ. Hành động này mới đúng là hành động ty bỉ vô lại. Lệnh Hồ Xung lại tự hỏi không hiểu bọn này là người thế nào? Họ đã cừu địch với Ngũ Nhạc kiếm

phái dĩ nhiên chẳng phải hảo nhân. Nhưng tại sao năm vị tiền bối Ngũ nhạc kiếm phái ta lại cùng chết với bọn họ tại chốn này? Hắn lại giơ đuốc lên coi thì thấy trên vách đá còn có một hàng chữ: “Phạm Tùng, Triệu Hạt phá kiếm pháp phái Hằng Sơn ở đây”. Bên hàng chữ này lại có vô số hình người. Cứ hai người vào một tổ. Một người sử kiếm một người sử búa. Chỉ đếm sơ qua cũng rõ ít nhất đến sau bảy trăm hình người. Hiển nhiên người sử búa đang phá kiếm pháp người sử kiếm. Lệnh Hồ Xung trống ngực đánh thình thình tự hỏi: - Chẳng hiểu có đồ hình nào phá giải được kiếm pháp của phái Hoa Sơn ta không? Quả nhiên hắn nhìn thấy bên những hình người kia có một hàng chữ rất rõ: “Trương Thừa Vân, Trương Thừa Phong tận phá Hoa Sơn kiếm pháp”. Hắn vừa đọc xong đã đùng đùng nổi giận, lên tiếng thóa mạ: - Loài chuột nhắt vô sỉ! Các ngươi thật là cuồng vọng, lớn mật. Hoa Sơn kiếm pháp tinh vi ảo diệu, khắp trong thiên hạ, người chống đỡ được còn chẳng mấy, ai mà lớn mật dám hạ đến chữ “phá” bao giờ? Đây chúng còn dám hạ đến chữ “tận phá” thì thật là hỗn xược. Hắn xoay tay lại lượm thanh kiếm trầm trọng của phái Thái Sơn lên vận toàn lực vào để bạt hàng chữ

kia đi. Những tiếng choang choảng vang lên. Tia lửa bắn ra tung tóe, thì chỉ thấy chữ “tận” bị sạt mất một góc. Lệnh Hồ Xung phát giác ra đá núi này cứng rắn phi thường. Muốn xóa bỏ những đồ hình cùng chữ khắc trên vách đá tuy có lợi khí trong tay, nhưng vạt đi không phải dễ dàng. Lệnh Hồ Xung lại ngưng thần nhìn vào đồ hình bên hàng chữ thì người sử kiếm tuy chỉ phơn phớt mấy nét thô sơ, song cũng có thể nhìn ra đây chính là chiêu “Hữu phụng lại nghi” của bản môn. Kiếm thế như nhảy múa cực kỳ linh động. Chiêu này đang chiết giải với một người tay cầm một thứ khí giới thẳng tuột, chẳng hiểu nó đại diện chi thương bổng hay cho thương mâu. Chỉ biết đầu thứ binh khí này nhằm vào mũi kiếm đối phương mà tư thế rất vụng về. Lệnh Hồ Xung bất giác bật lên tiếng cười khành khạch tự nhủ: - Chiêu “Hữu phụng lai nghi” của bản môn ẩn dấu ba tuyệt chiêu nữa, há để cho chiêu thức vụng về kia phá giải được ư?

L

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 103

Đang tải bình luận...