Tòa Án Linh Hồn

phần còn lại. “De Michelis,

phần còn lại. “De Michelis,

phần còn lại. “De Michelis, tôi còn một thỉnh cầu nữa muốn nhờ ông.” “Chuyện gì nữa đây?” Ông giả bộ chán nản. “Tối qua một gã Shalber nào đó ở Interpol gọi điện cho tôi. Ông ta tin rằng David có dính líu đến một vụ gì đó mờ ám và tôi thấy ông ta thật phiền phức.”

“Tôi hiểu rồi. Tôi sẽ thu thập thông tin về tài khoản của ông ta. Hết rồi chứ?” “Vâng, cảm ơn ông, ” Sandra thấy nhẹ lòng. Nhưng Michelis chưa nói xong. “Cho tôi thỏa mãn một chút tò mò: Bây giờ cô đang đi đâu thế?.” Đến nơi mọi thứ kết thúc, Sandra đã định nói vậy. “Tới chỗ tòa nhà đang xây dựng nơi David đã ngã xuống.” Ý tưởng đến sống chung là của cô. Nhưng David vui lòng đón nhận nó. Ít ra cô thấy có vẻ như là thế. Họ quen nhau được ít tháng và cô vẫn chưa chắc chắn đã hiểu những cư xử của người đàn ông mình yêu. Đôi khi, anh quả thực rất phức tạp. Khác với cô, David không bao giờ thể hiện cảm xúc rõ ràng. Khi họ bất đồng, cô luôn là người to tiếng và nổi nóng. Anh thì luôn giữ một thái độ tương đối ôn hòa và trên hết là không lưu tâm. Thậm chí có thể nói rằng chỉ có cô cãi vã. Sandra không thể không cho rằng thái độ đó của David không phải là thờ ơ mà là một chiến lược chính xác, trước tiên để cho cô xả giận, sau đó dẫn cô đến việc từ bỏ những nguyên do bực tức của chính mình. Biểu hiện rõ ràng nhất cho lý thuyết đó của anh xảy ra sau khi anh chuyển tới căn hộ của cô được một tháng. Trong một tuần, David mang tâm trạng lạ lùng, lặng lẽ, và Sandra có cảm giác như anh lảng tránh cô, ngay cả khi chỉ có họ ở nhà. Dù trong giai đoạn đó anh không đi làm và luôn bận bịu với một việc gì đó. Anh nhốt mình trong phòng làm việc hoặc

chữa một cái ổ cắm hay thông một cái lavabo bị tắc, Sandra cảm thấy có gì đó không ổn nhưng cô không dám hỏi. Cô tự nhủ với chính mình rằng anh ấy cần thêm thời gian, rằng David không chỉ không quen với việc có nơi trú thân làm nhà mà anh cũng thiếu cả kinh nghiệm sống như một cặp đôi. Nhưng cùng với nỗi lo sợ mất anh là sự tức giận đang bùng phát vì cái thái độ lảng tránh đó của anh. Cô sẵn sàng để nổ tung. Chuyện xảy ra vào một đêm. Khi họ đang ngủ, cô thấy anh lay mình dậy. Sau khi nhận ra mới chỉ có ba giờ sáng, vẫn còn đang ngái ngủ, cô hỏi anh đang muốn chuyện quái quỷ gì đây. David bật đèn và quay trở lại giường. Ánh mắt anh mông lung khắp phòng trong khi tìm từ để nói với cô rằng đã một thời gian tâm trạng anh rối bời. Có nghĩa là họ không thể tiếp tục tình trạng đó được nữa, anh cảm thấy không thoải mái và xét cho cùng nó làm anh rất ức chế. Sandra cố gắng để hiểu ý câu chuyện đó nhưng lời giải thích duy nhất mà cô có trong đầu là: Tên khốn này đang muốn bỏ mình. Lòng kiêu hãnh bị tổn thương và không thể tin nổi việc anh ta không thể đợi đến sáng hôm sau để chia tay cô, cô đã nhảy dựng dậy, rồ dại và bắt đầu chửi rủa, lăng mạ anh với những lời lẽ không nên nói ra. Trong cơn tức tối, cô quăng xuống đất những vật vớ được, trong đó có cái điều khiển lúc rơi xuống làm tivi bật. Vào giờ đó người ta chỉ chiếu những bộ phim cũ đen trắng. Đúng lúc đó là phim Top Hat với cảnh hai diễn viên Fred Astaire và Ginger Rogers đang thể hiện một bài hát đôi.

Giai điệu ngọt ngào kết hợp với sự kích động của Sandra tạo ra một cảnh tượng siêu thực. Tình hình thêm tồi tệ khi David không trả lời, hứng chịu một cách bị động và cúi đầu trước lời trách móc. Nhưng khi cơn bực tức của cô đã lên đến đỉnh điểm, Sandra thấy anh luồn tay xuống gối và lấy ra một cái hộp nhung xanh nước biển, và sau đó anh đặt nó sang chỗ giường của cô với một nụ cười đầy ẩn ý. Cô chết lặng, quan sát chiếc hộp và biết rõ nó chứa gì. Cô thấy mình là một con ngốc và không ngăn nổi miệng há hốc vì quá ngạc nhiên. “Anh đang định nói ra, ” David cất lời, “rằng chúng ta không thể tiếp tục như thế này và rằng, theo thiển ý của anh, chúng ta nên kết hôn. Vì anh yêu em, Ginger.” Anh thốt ra điều đó với cô – và là lần đầu tiên anh tiết lộ cho cô biết anh cảm thấy thế nào và gọi cô như vậy – trên nền những nốt nhạc của bài Cheek to Cheek mà Fred đang hát. "Thiên đàng, tôi đang ở Thiên đàng, Và trái tim thổn thức khiến tôi khó cất lời; Dường như tôi đã thấy hạnh phúc mà mình tìm kiếm Khi chúng ta bên nhau khiêu vũ, má sát kề." Sandra đã bật khóc lúc nào không hay. Cô lao vào vòng tay của anh vì cô muốn được ôm thật chặt. Nức nở bên ngực anh, cô bắt đầu cởi quần áo vì nhu cầu cấp thiết được ân ái cùng anh.

Họ làm tình đến bình minh. Không lời nào có thể diễn tả điều mà họ cảm nhận được đêm hôm đó. Hạnh phúc thuần khiết. Trong khoảnh khắc ấy, cô hiểu rằng với David sẽ không bao giờ có những giây phút bình yên. Rằng cả hai cần sống một cách dữ dội. Nhưng trong lòng cô đã dấy lên mối lo ngại rằng cũng chính vì điều này mà mọi thứ có thể tan biến trong phút chốc. Và đúng là nó đã xảy ra. Ba năm, năm tháng và vài ngày từ cái đêm có một không hai đó, Sandra có mặt tại công trường bị bỏ hoang của một tòa nhà đang xây dựng, đứng trước đúng chỗ thân thể của David – David của cô! – rơi xuống. Không còn những vết máu, giờ chúng đã bị rửa trôi bởi thời tiết xấu. Đáng lẽ cô nên mang tới một bông hoa nhưng cô không muốn để mình bị cảm xúc lấn át quá nhiều. Cô tới đây chỉ để tìm hiểu. Sau cú ngã, David đã thoi thóp suốt đêm. Cho đến khi một người đàn ông đi xe đạp tình cờ ngang qua, ông ta đã thấy anh và gọi cấp cứu. Nhưng quá muộn. Anh đã chết trong bệnh viện. Khi những người đồng nghiệp ở Roma miêu tả cho cô diễn biến của vụ tai nạn, Sandra không tự đặt quá nhiều câu hỏi. Chẳng hạn cô đã không thắc mắc liệu anh có tỉnh táo trong suốt thời gian đó không. Cô đã mong rằng anh tử vong ngay tức thì chứ không phải do vô số những tổn thương và chảy máu trong. Nhưng trên hết, cô đã bỏ ra khỏi đầu câu hỏi kinh khủng nhất.

Nếu ai đó phát hiện ra người đàn ông đang nằm hấp hối sớm hơn, thì David sẽ được cứu sống? Quá trình hấp hối kéo dài đã khẳng định giả thuyết về vụ tai nạn, và sự phi lý khi cho rằng có một hung thủ chắc chắn sẽ hoàn tất công việc của mình. Sandra thoáng thấy phía bên phải có một cái cầu thang. Cô bỏ lại hành lý và cẩn thận trèo lên vì nó không có tay vịn. Ở tầng năm, thiếu hoàn toàn tường ngăn. Chỉ có các cây cột chia tách những phần gác mái. Cô lại gần lan can nơi David đã trượt chân ngã xuống. Anh ấy đã đến đó vào ban đêm. Cô nhớ lại cuộc nói chuyện trên điện thoại với Shalber vào đêm hôm trước. “Theo cảnh sát, anh ta có mặt tại một tòa nhà đang thi công vì từ chỗ đó anh ta có được tầm nhìn lý tưởng để chụp ảnh… Nhưng cô đã thấy chỗ đó chưa?” “Chưa, ” cô khó chịu đáp lại. “Còn tôi thì đã ở đó.” “Ông nói điều này có ý gì?” Nhưng ông ta đã tiếp lời đầy châm biếm: “Chiếc Canon của chồng cô đã bị hỏng trong cú ngã. Thật tiếc là chúng ta không bao giờ được nhìn thấy bức ảnh đó.” Khi Sandra nhìn thấy cảnh hiện ra trước mắt David đêm hôm đó, cô đã hiểu hàm ý mỉa mai của gã nhân viên Interpol. Một trảng đất mênh mông phủ nhựa đường, bao quanh là những tòa nhà. Lý do gì để chụp ảnh nhỉ? Cô tự hỏi. Lại còn trong bóng tối nữa.

Cô đã mang theo một trong năm tấm hình có trong cuộn phim của chiếc Leica. Cô không hề nhầm: nó chụp chính công trường đó, nhưng vào ban ngày. Sau khi phóng nó lên, cô đã nghĩ ngay tới việc anh đến đó để khảo sát thực địa. Sandra quan sát xung quanh: Phải có một lý do nào đó. Địa điểm đó bị bỏ hoang, không có vẻ gì đáng quan tâm, ít ra là từ bề ngoài. Vậy thì tại sao David lại đến đó? Cô phải suy luận bằng những cách khác, di chuyển tiêu cự, như thầy huấn luyện của cô tại trường cảnh sát khoa học hình sự vẫn thường nói. Sự thật nằm trong những chi tiết, cô tự khẳng định lại với chính mình. Và cô phải tìm kiếm câu trả lời trong chính những chi tiết đó. Vậy là cô chuẩn bị tâm lý như vẫn thường làm tại những hiện trường vụ án mà cô phải điều tra bằng chiếc máy ảnh của mình. Cô phải đọc hiện trường. Từ dưới lên trên. Từ toàn cảnh đến chi tiết. Cô dùng tấm ảnh David chụp bằng chiếc Leica để đối chiếu. Mình phải kiểm tra các yếu tố xuất hiện trong tấm ảnh, cô tự nhủ. Chẳng khác nào câu đố yêu cầu tìm ra những điểm khác biệt giữa hai bức tranh tưởng chừng giống nhau y hệt. Xem xét những đường biên được khắc họa trong tấm ảnh, cô bắt đầu từ sàn nhà rồi tiến dần lên từng mét một. Cô chuyển hướng nhìn vào điểm ở trước mặt rồi đi lên tới trần nhà. Cô tìm

kiếm một ký hiệu, một thứ gì đó được khắc trên xi măng. Nhưng không có gì cả. Cô điểm qua khu rừng của những cây cột. Từng cái một. Một vài trong số chúng đã bị hư hỏng nhẹ sau năm tháng qua, cũng bởi vì chúng thiếu vữa nên cứ trơ ra hứng chịu sự bào mòn của thời gian. Khi cô tới sát chỗ cái cột gần phía bên trái, hướng ra lan can, cô nhận ra nó khác so với tấm ảnh. Đó là một chi tiết rất nhỏ nhưng có thể có ý nghĩa. Vào thời điểm David khảo sát thực địa, cái cột còn có một khoảng trống song song với

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 18

Đang tải bình luận...